Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Gừng - Ớt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gừng - Ớt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Bệnh thán thư trên Ớt

Bệnh thán thư trên Ớt


Bệnh thán thư trên ớt by BVCT | Benh than thu tren ot

1. Tổng quan
- Ớt có thể trồng quanh năm nhưng nếu trồng trong mùa mưa sẽ gặp khá nhiều khó khăn trong khâu chăm sóc và phòng trừ bệnh thán thư (còn gọi là bệnh nổ trái hay đém trái).


- Bệnh thán thư lây lan mạnh vào mùa mưa, vì bào tử của nấm phát tán nhờ gió và nước mưa đến khắp tán của cây ớt. Bào tử nấm bệnh thán thư phát triển thuận lợi và dễ dàng xâm nhiễm vào trái ớt trong điều kiện ẩm độ từ 80 – 100% và nhiệt độ từ 25 – 30 độ C. Vết bệnh điển hình trên trái có dạng hơi tròn đến bầu dục, hơi lõm vào thịt trái, bệnh càng nặng vết lõm càng rộng, màu nâu xung quanh, ở giữa màu vàng cam đậm và có nhiều vòng đồng tâm.

2. Cách phòng trị
- Để phòng trị bệnh thán thư trái ớt hay bệnh thối đọt non một cách hiệu quả phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp đồng bộ.

- Trước khi trồng cần thu gom cây, trái ớt vụ trước, đem tiêu hủy để tránh nguồn bệnh lây lan cho vụ sau.

- Lên líp cao và thoát nước tốt, nên phủ bạt nilon trên mặt liếp trồng để hạn chế sâu bệnh hại từ đất lây lan lên cây.

- Chọn giống sạch bệnh, ngâm hạt giống khỏe và sạch bệnh vì nấm bệnh thán thư có khả năng lan truyền qua hạt giống.

- Trồng ớt ở mật độ thích hợp, tránh trồng dầy vì sẽ tạo ẩm độ cao trong tán cây ớt tạo điều kiện cho nấm bệnh phát triển.

- Sử dụng phân bón hợp lý, tránh bón phân thừa đạm, nên sử dụng phân Nitrat Canxi để giúp cây ớt phát triển tốt đồng thời tăng cường khả năng chống chịu bệnh.

- Khi cây ớt bắt đầu ra hoa đậu trái, không được tưới nước phủ từ trên tán cây xuống để tránh lây lan phát tán bào tử nấm. Cắt bỏ những nhánh ở dưới thấp, hoặc những nhánh tiếp giáp mặt đất kể cả những trái ớt ở gần mặt đất, vì đó sẽ là nơi giúp bào tử nấm bệnh xâm nhập lây lan từ mặt đất lên cây. Nên sử dụng biện pháp tưới thấm, tưới gốc cho cây ớt là tốt nhất.

- Khi phát hiện vết bệnh thán thư, bệnh thối đọt trên trái, thân, lá, đọt non và hoa cần ngắt bỏ, thu gom và tiêu hủy tất cả để tránh lây lan mầm bệnh. Mặt khác, sau cơn mưa đêm, nên tưới xả nước (tưới rửa) cho cây ớt vào sáng hôm sau và phun ngừa ngay bằng thuốc.

- Thăm đồng thường xuyên và sử dụng biện pháp hóa học bằng thuốc trừ bệnh Ringo-L20SC khi phát hiện bệnh mới phát triển. Ringo-L20SC chứa 20% họat chất Metominostrobin, thuốc thấm sâu cực nhanh và có tính lưu dẫn mạnh làm vết bệnh khô nhanh trong vòng 1 - 2 ngày, ngăm cản các bào tử xâm nhập từ bên ngoài và hạn chế sự phát triển ở bênh trong, nhờ vậy Ringo-L20SC sẽ bảo vệ được cành, đọt non, hoa và trái sau vài giờ phun thuốc.

- Để đạt hiệu quả cao nhớ sử dụng liều 400ml trên 1 ha, nếu áp lực bệnh cao bà con phun lại lần 2 cách nhau 5 - 7 ngày, đây là loại thuốc có nguồn gốc thiên nhiên nên không ảnh hưởng môi trường người phun và cây trồng cũng phù hơp cho chương trình IPM và GAP.

- Khi phun thuốc bà con cần chú ý là phun đều trên cây kể cả trái và hoa và lá.

- Trong điều kiện mưa dầm, giông bão bà con nên phun ngay sau khi dứt cơn mưa hay bão.

- Để tránh hiện tượng nấm bệnh kháng thuốc có thể sử dụng luân phiên với thuốc Ridomil Gold 68WG. Liều sử dụng 0,5kg – 1kg cho 1 ha.

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Ớt trái mùa

Kỹ thuật trồng Ớt trái mùa


Kỹ thuật trồng ớt trái mùa by BVCT | Ky thuat trong ot trai mua
Ớt (Capsicum annum) là loại quả rất có giá ở Indonesia. Cho đến nay, việc trồng ớt ở Indonesia vẫn theo mùa, cho nên sản lượng và giá cả bị dao động rõ rệt trong năm. Nói chung, ở Indonesia thường trồng ớt vào đầu mùa khô. Sản lượng hạ thấp vào mùa mưa. Nhằm kéo dài mùa vụ thu hoạch và bình ổn giá cả, một hệ thống trồng ớt trái mùa đã được triển khai, bằng cách sử dụng plastic đen để phủ đất.


1. Chuẩn bị đất trồng
Đất cần được dọn sạch và cày bừa. Nếu độ pH đất thấp, thì bón thêm dolomite hay vôi. Nếu đất rất chua, thì bón khoảng 2tấn/ha dolomite, phối hợp với phân trộn compost và chế phẩm phân bón cơ bản. Phân bón cơ bản cần dùng là urê trộn lẫn với phân (300kg/ha), SP36 (250 -300kg/ha), và KCl (Kaliclorua) (250kg/ha). Cần phải làm luống cao trước khi trồng cây giống. Luống thường rộng 120cm, rãnh giữa luống rộng 40cm và sâu 20cm quanh luống.

2. Giống trồng
a) Hạt giống:
Hạt giống phải chín già, sạch, đều nhau và không bị sâu bệnh. Những quả giống chín già phải có màu đỏ.

b) Cây giống:
- Đất để ươm cây giống là đất trộn phân, với tỷ lệ 1:1. Cây giống ươm trong các túi nhựa, hay trên các luống đất được làm kỹ. Đất luống phải được don sạch cỏ, rác rưởi, và sau đó được cày bừa kỹ.

- Cây giống là cây ưa sáng, nhưng phải được che bằng giàn có khung đỡ, tránh ánh sáng trực sạ. Khung đỡ rộng từ 1 - 2m và cao 40 - 50cm. Được phủ bằng rơm rạ hay vật liệu tương tự. Các mặt xung quanh để ngỏ để tạo sự thông thoáng cho luống trồng.
- Cây giống cần được tưới nước hằng ngày, hoặc khi cần thiết. Khi cây giống được 25 - 30 ngày tuổi có thể đem ra trồng được.

c) Khoảng cách trồng:
Mỗi luống trồng thành 2 hàng. Các cây cách nhau 50cm và các hàng cách nhau 70cm. Trồng ớt vào buổi sáng sớm hay lúc hoàng hôn.

3. Kỹ thuật chăm sóc
- Đất trồng: Đất phải xốp, dễ thoát nước và giàu chất hữu cơ, không có quá nhiều hàm lượng sét. Độ pH 5,5 - 6,8. Lượng nước vừa đủ, phải có rãnh thoát nước tốt.

- Phủ plastic đen: Khoảng 12 cuộn/ha. Plastic có màu ánh bạc ở mặt trên và màu đen ở mặt dưới (Mặt ánh bạc sẽ phản chiếu ánh nắng mặt trời và xua đuổi côn trùng, mặt tối bên dưới sẽ làm cho cỏ không mọc được). Plastic được rải vào buổi trưa khi ánh nắng mặt trời bắt đầu gay gắt. Độ nóng sẽ làm co giãn chất nhựa cho nên nó dễ bị dão. Plastic nên được căng đều trên mặt luống với mặt ánh bạc hướng lên trên. Mép plastic được kéo thấp xuống các bờ luống và được buộc chặt vào vị trí bằng các lạt tre. Chúng dài khoảng 40cm, được uống cong một nửa và được cắm xuống đất để giữ cho các cạnh cách nhau 50cm. Trên mặt plastic trổ các lỗ chữ thập tại những vị trí trồng cây để cho cây có thể tăng trưởng.

- Cây giống bị chết hay sâu bệnh thì cần được thay thế. Nước tưới được bơm vào cho từng gốc cây.

4. Phòng trừ sâu bệnh
Trừ ruồi hại quả bằng bẫy bả eugenol methyl. Các loài gây hại và dịch bệnh đều có thể kiểm soát bằng việc phun các loại thuốc bảo vệ thực vật thích hợp

5. Thu hoạch
- Sau 60 - 70 ngày, lứa ớt đầu tiên có thể thu hoạch. Đến thời gian này, chúng sẽ biến thành màu đỏ tươi.

- Việc bao gói cho vận chuyển cần phải tạo những lỗ thoáng khí. Có thể dùng loại túi lưới. Nơi bảo quản phải khô ráo và thoáng mát.

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Ớt Chỉ Thiên

Kỹ thuật trồng Ớt Chỉ Thiên


Kỹ thuật trồng ớt chỉ thiên by BVCT | Ky thuat trong ot chi thien

Ớt chỉ thiên là giống ớt rất cay. Được những người nghiền ớt ưa chuộng. Nhìn chung tất cả các loại ớt cay trong đó có ớt chỉ thiên đều dễ chồng không kén đất có thể trồng trên đất bãi, đất đồi, đất ruộng. Nhưng trồng ớt tốt nhất là trên đất bãi hàng năm có ngập phù sa hoặt đất trong đồng có độ màu mỡ khá, thoát nước, giãi nắng.


1. Thời vụ gieo
- Gieo tháng 11 - 12, trồng tháng 1 - 2. Vụ hè tháng 6 - 7 trồng tháng 8 - 9.

- Ươm cây giống: Hạt ngâm nước 2 đêm, đem bọc vào vải trộn với mùn, ủ 3 - 4 ngày cho hạt mọc mầm. Gieo vãi hạt trên luống, phủ một lớp đất bột mỏng, phủ một lớp trấu hay rơm rạ, tưới nước giữ ẩm. Sau khi gieo 8 - 10 ngày thì cây mọc. Nếu gặp rét thì che phiên hoặc phủ nilon chống rét cho cây con. Cây 25 - 30 ngày tuổi có thể đánh đi trồng.

- Luống rộng, 1 - 1,2m, cao 20 - 25cm, rãnh luống 25 - 30cm. Bổ hốc hàng cách hàng 50cm. Cây cách cây 50cm. Bón phân cho 1ha như sau: Phân chuồng 30 tấn+ 368 kgN+ 368kg P2O5 + 184kg K2O. Nếu đất chưa bón vôi 500 - 1000kg/ha. Kết hợp phân chuồng, phân lân, phân kali trộn đều để bón lót. Phân đạm dùng để bón thúc.

2. Chăm sóc
- Tưới nước đủ ẩm sau khi trồng suốt thời gian sinh trưởng.

- Bón thúc: 3 lần lúc cây hồi xanh, trước lúc ra hoa và thu quả lứa đầu. Dùng phân đạm pha loãng để tưới cho cây. Có điều kiện bón thêm nước phân chuồng ủ mục pha loãng.

* Lưu ý: phòng trừ sâu bệnh như: sâu khoang, bệnh thán thư.

3. Thu hoạch
Sau khi trồng khoảng 2 tháng thì ớt ra hoa. Đến tháng 3 thì thu được lứa quả đầu tiên. Trên cây ớt có nhiều lứa hoa. Có quả đang chín, có quả già và đang có hoa. Nếu nơi tiêu thụ gần thì khi xuất quả thật chín. Tránh không làm ảnh hưởng đến chùm hao trên cây. Sau đó cứ 3 ngày thu quả 1 lần. Nếu không bị sâu bệnh phá hại, chăm sóc tốt, cây khoẻ có thể thu liên tiếp trên chục đợt và kéo dài đến 2 tháng.

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Ớt Ngọt

Kỹ thuật trồng Ớt Ngọt


Kỹ thuật trồng ớt ngọt by C.ty CH | Ky thuat trong ot ngot

1. Thời vụ trồng
Vụ Đông-Xuân, gieo hạt vào khoảng tháng 8, tháng 9 để trồng vào tháng 10, thu hoạch vào tháng 1 - 2, thường cho năng suất cao nhất. Vụ Xuân-Hè gieo hạt vào tháng 12 để trồng vào tháng 1 hoặc đầu tháng 2, thu quả vào tháng 3 - 4, năng suất thấp hơn, dễ bị thối trái nhưng bán được giá cao vì trái vụ.

2. Chọn giống
Hiện có 2 nhóm chính: Nhóm quả vỏ xanh đậm khi còn xanh, khi chín thì chuyển sang màu đỏ và nhóm quả chín có màu vàng. Quả hình khối hoặc hình vuông, thịt quả dày, trọng lượng bình quân trên 100g/quả, ăn hơi ngọt, không cay. Hiện các cửa hàng bán giống rau đang có các giống lai F1 được nhập khẩu từ Mỹ, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc vừa cho năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu bệnh tốt, đặc biệt là bệnh héo xanh.


3. Ươm gieo giống
Trộn giá thể theo tỷ lệ1:1:1 với các thành phần như sau: 1 phần phân chuồng hoai mục + 1 phần tro bếp hoặc trấu hun, hoặc xơ dừa + 1 phần lớp đất mặt giàu mùn được đập nhỏ. Nếu đất nghèo dinh dưỡng thì nên bổ sung thêm 0,5 kg phân lân cho 10 kg hỗn hợp. Bầu gieo hạt có thể được làm bằng lá chuối, túi nilon hoặc các khay xốp hiện đang được bán rộng rãi ở các cửa hàng vật tư nông nghiệp. Nên gieo trong các khay bầu xốp vừa tiết kiệm được hạt giống (mỗi lỗ gieo 1 hạt), vừa đảm bảo được chất lượng cây con khỏe mạnh, đồng đều và chủ động được thời vụ trồng, không bị ảnh hưởng bất lợi của thời tiết. Gieo xong thì phủ một lớp đất bột mỏng, phủ tiếp một lớp rơm rạ mỏng nữa rồi tưới nước đủ ẩm. Có thể rải trộn đều trong đất hoặc rắc xung quanh vườn ươm một trong các loại thuốc sau đây nhằm chống kiến và côn trùng tha hạt như Vibasu, Furadan hoặc Basudin. Những ngày đầu tưới 2 lần/ngày, sau đó tưới 1 ngày/lần rồi đến 2 ngày/lần tùy theo thời tiết, nhưng luôn đảm bảo độ ẩm cho cây sinh trưởng bình thường. Khi hạt nẩy mầm ta dỡ rơm, rạ để cho cây mọc khoẻ và thẳng. Thời gian này nên phun hoặc tưới để phòng bệnh lở cổ rễ cho cây con bằng thuốc Viben C hay Benlat khi cây đã có 1-2 lá thật. Khi cây chuẩn bị đem trồng thì ngừng tưới nước 1 - 2 ngày nhằm làm cho cây cứng cáp. Trước khi trồng nên tưới đẫm cho dễ nhổ cây khỏi khay, không bị vỡ bầu, đứt rễ. Cây con đủ tiêu chuẩn trồng là cây có chiều cao 10-12cm, có khoảng 6 lá thật, khỏe mạnh, thân thẳng, tuổi cây khoảng 25-30 ngày sau khi gieo.

4. Kỹ thuật trồng
a) Chọn và chuẩn đất trồng
Chọn loại đất thịt nhẹ đến trung bình, đất cát pha giàu dinh dưỡng, tơi xốp, dễ thoát nước, độ pH từ 5,5 - 7,0 để trồng ớt ngọt. Nên trồng luân canh với các cây trồng khác họ, không trồng ớt trên các ruộng mà vụ trước đã trồng như ớt cay, cà chua, khoai tây... để tránh nhiễm các loại bệnh héo xanh, thán thư... Đất được cày, bừa kỹ sau khi đã phơi ải tốt. Lên luống rộng 1,4m, cao 30 - 35cm ( tùy theo mùa vụ: Vụ đông lên thấp, vụ Xuân-Hè lên luống cao để tránh úng ngập do mưa nhiều ), luống rộng 30cm.

b) Lượng phân bón
Bón cho 1 sào Bắc bộ (360m2) cần 700 - 800kg phân chuồng hoai mục, 20 - 25 kg phân lân, 12 - 15 kg đạm urê và 12 - 15 kg phân kali sunphát. Nếu đất chua có thể bón thêm khoảng30kg vôi bột. Bón lót toàn bộ phân chuồng, vôi bột, 1/2 phân lân, 1/2 phân kali và 2 kg đạm bằng cách trộn đều phân với đất mặt luống rồi phủ màng phủ nông nghiệp để hạn chế cỏ dại, giữ được độ ẩm cho đất, hạn chế sự rửa trôi phân bón, đồng thời hạn chế được sâu bệnh gây hại. Chú ý phủ mặt đen xuống dưới, mặt ánh bạc lên trên và dùng đất để chèn mép bạt 2 bên cho chặt.

c) Kỹ thuật trồng cây và chăm sóc
- Dùng ống sắt hoặc ống bơ rỗng có đường kính khoảng 8cm, cắt thành hình răng cưa sắc để đục lỗ màng phủ với khoảng cách hàng cách hàng 70cm, cây cách cây 50-60cm tùy theo giống. Dùng bay nhỏ xới nhẹ vào lỗ đã đục sẵn để trồng vừa đến ngang cổ rễ và tưới nhẹ cho chặt gốc, cây nhanh bén rễ, hồi xanh. Nên trồng vào những ngày râm mát hoặc buổi chiều tối. Tùy theo thời tiết mà tưới nước cho cây đủ ẩm thường xuyên thì mới lớn nhanh, sau khi trồng 10 - 12 ngày thì tiến hành bón thúc lần đầu kết hợp với vun xới nhẹ, lần 2 khi cây ra hoa rộ, lần 3 sau khi thu quả đợt đầu.

- Với cây ớt ngọt nên trồng trong nhà lưới để đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm và hạn chế tối đa sự gây hại của côn trùng, sâu bệnh.

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

Kỹ thuật trồng Gừng đạt năng suất cao

Kỹ thuật trồng Gừng đạt năng suất cao



Gừng là loại cây rau gia vị được trồng khá phổ biến vì chúng dễ trồng, đa dụng và có hiệu quả kinh tế cao, nhất là trong dịp Tết Nguyên Đán, gừng được sử dụng làm mứt. Để đạt năng suất và chất lượng cao, nông dân cần chú ý từ khâu chọn giống, chăm sóc đến thu hoạch.

1. Chọn giống
- Chọn giống gừng củ to, già, bóng không khô héo, không nhăn nhúm và không bị sâu bệnh. Muốn gừng lên đều cần ủ giống cho nảy mầm trước khi trồng. Đây là yếu tố quyết định trước tiên đến năng suất gừng. Gừng giống phải được chuẩn bị một tháng trước khi trồng. Đem gừng về để nơi thoáng mát khoảng 1 tuần rồi tiến hành bẻ hom. Khi bẻ hom giống phải to, nguyên vẹn (từ 40 - 60g). Vì hom giống to mới đủ sức nuôi cây con mạnh khoẻ. Trên mỗi nhánh phải có ít nhất một mắt mầm. Dùng tay bẻ hom chứ không dùng dao, vì khi dùng dao, mầm bệnh sẽ từ củ này lây sang củ kia. Để hạn chế nấm bệnh xâm nhiễm vào củ, sau khi bẻ xong cho gừng vào dung dịch thuốc trừ nấm ngâm khoảng 20 phút sau đó vớt ra rãi chổ khô ráo khoảng 1 tuần rồi tiến hành ủ giống. Gom gừng lại thành đống cao không quá 8 tấc, phủ lên một lớp rơm rồi tưới cho đủ ẩm.

- Chú ý: Khi ủ nên trãi trên nền ủ một lớp tro trấu từ 10-20cm, sau đó mới xếp gừng lên ủ. Tránh để ẩm độ cao quá làm gừng dễ bị thối. Khoảng nữa tháng sau khi ủ, thấy u mầm thì mang đi trồng, không để mầm quá dài sẽ dễ bị gãy trong quá trình vận chuyển ( hom già mọc chậm hơn hom bánh tẻ). Trước khi đem trồng nên loại bỏ ngay những hom mềm, bị thối để tránh lây lan.

2. Đất trồng
Đất trồng gừng phải xốp, đủ ẩm và thoát nước tốt, đất được cày sâu 25 - 30cm, phơi ải, xới cho nhuyễn rồi lên luống. Bón lót trước khi xới đất tạo luống. Khoảng cách mật độ trồng có thể áp dụng một trong khoảng cách sau: 30 x 40cm hoặc 50 x 20 cm ( đất xấu trồng dày, đất tốt trồng thưa). Gừng là loại cây ưa sáng nhưng cũng có khả năng chịu rợp. Tuy nhiên, nếu che ánh sáng nhiều quá ( 70 - 80%) thì năng suất giảm rõ rệt.

3. Kỹ thuật trồng gừng
a) Cách đặt hom giống
Do gừng nảy chồi ngang, do đó nên đặt củ xuôi theo hàng trồng để chồi phát triển về bên hàng.

b) Chăm sóc
Trong quá trình phát triển không để gừng thiếu nước sẽ chậm phát triển, kéo dài thời gian sinh trưởng. Gừng là cây rất háo nước nhưng lại không chịu úng, khi bị úng, gừng sẽ dễ bị bệnh thối củ. Vì thế trong mùa mưa, liếp phải thoát nước tốt.

c) Bón phân
Gừng có nhu cầu N, P, K tương đối cao, trong đó nhu cầu về N là nhiều nhất. Lượng phân sử dụng cho 1000 m2: Urea 15 - 20 kg, Super lân 20 - 25kg ; KCL 20 kg và 500kg phân hữu cơ. Phân hữu cơ rất cần thiết cho gừng và là yếu tố quyết định rất lớn đến năng suất. Sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma trộn với phân hữu cơ để bón lót có tác dụng rất tốt để hạn chế bệnh thối củ. Bón lót toàn bộ phân lân, ½ phân N và Kali. Khi thấy bụi gừng có 2 - 3 cây con tiến hành bón phân thúc. Không cho phân bám trên lá gừng làm cháy lá. Mỗi tháng làm cỏ và xới xung quanh chống lèn đất.

4. Thu hoạch
Có thể thu hoạch gừng từ 4 tháng trồng trở đi nhưng nếu làm giống thì phải thu hoạch sau 9 tháng. Không nên để già quá, gừng cay nhiều nhưng có xơ và cũng không thu non quá củ bị nhăn nhúm, giảm chất lượng.

Kỹ thuật trồng gừng đạt năng suất cao, Nguồn: Sở Nông nghiệp Bến Tre.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Kỹ thuật trồng Ớt

Kỹ thuật trồng Ớt


I. Giới thiệu


Ớt cay được xem là cây gia vị nên có mức tiêu thụ ít. Gần đây ớt trở thành một mặt hàng có giá trị kinh tế vì ớt không chỉ là gia vị tươi mà còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu để bào chế các thuốc trị ngoại khoa như phong thấp, nhức mỏi, cảm lạnh hay nội khoa như thương hàn, cảm phổi, thiên thời... nhờ tính chất capsaicine chứa trong trái. Nhờ vậy nhu cầu và diện tích ớt ở nhiều nước có chiều hướng gia tăng.
Ở Việt Nam việc canh tác ớt chưa được quan tâm, phần lớn canh tác lẻ tẻ, không đầu tư thâm canh cao nên năng suất thấp, thường chỉ đạt 800 - 1.000kg ớt tươi /1.000m2.

II. Đặc tính sinh học
- Rễ: Ớt có rễ trụ, nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển thành rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính.

- Thân: khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh. Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35 - 65 cm, có giống cao 125 - 135 cm. Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống.

- Lá: Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông.

- Hoa: Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2 - 3 hoa. Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn. Tràng hoa có 6 - 7 cánh màu trắng hoặc tím. Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái. Phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật.
Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10 - 40 % tùy giống, do đó cần chú ý trong công tác để giống và giữ giống thuần.

- Trái: Trái có 2 - 4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đen vàng; trái không cay hay rất cay.
+ Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khẩu dưới dạng quả khô. Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khô không rời cuống. Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1. Trái chưá nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng,
+ Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 18 - 30 độ C. Nhiệt độ cao trên 32 độ C và thấp dưới 15 độ C. Cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng. Ớt là cây không quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay phát triển tốt và cho năng suất cao. Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ.

III. Phân loại ớt
Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu NN Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

1. Giống lai F1
- Giống Chili (công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12 - 13 cm, đường kính trái 1,2 - 1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15 - 16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75 - 85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt và cho năng suất cao.

- Giống số 20 (công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85 - 90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14 - 16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2 - 3 tấn/1.000m2.

- Giống TN 16 (công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70 - 75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4 - 5 cm, đường kính 0,5 - 0,6cm, trọng lượng trung bình 3 - 4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm.

- Giống Hiểm lai 207 (công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2 - 3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2 - 3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

2. Giống địa phương
- Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60 - 80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi chín, dài 12 - 15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8 - 10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái.

- Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85 - 90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7 - 10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

- Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3 - 4 cm nên thu hoạch tốn công, trái rất cay và kháng bệnh đén trái tốt nên trồng được trong mùa mưa.

IV. Kỹ thuật trồng
1. Thời vụ
Ở đồng bằng sông Cửu Long ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các thời vụ sau:
- Vụ sớm: Gieo tháng 8 - 9, trồng tháng 9 - 10, bắt đầu thu hoạch tháng 12 - 1 duơng lịch (dl) và kéo dài đến tháng 4 - 5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy nhiên diện tích canh tác vụ này không nhiều.

- Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10 - 11, trồng tháng 11 - 12, bắt đầu thu hoạch tháng 2 - 3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

- Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4 - 5 trồng tháng 5 - 6 thu hoạch 8 - 9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư.

2. Chuẩn bị cây con
Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m2 từ 15 - 25 gram (150 - 160 hột/g). Diện tích gieo ương cây con là 250 m2. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất 0,5 - 1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5 - 10 cm rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên líp ương. Hạt ớt thường nẩy mầm chậm, 8 - 10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy vào lúc 30 - 35 ngày tuổi, có sử dụng màng phủ cây con nên cấy sớm lúc 20 ngày tuổi.

3. Cách trồng
Đất trồng ớt phải được luân canh triệt để với cà chua, thuốc lá và cà tím. Trồng mùa mưa cần lên líp cao vì ớt chịu úng kém. Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4 - 5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30 - 40) cm, mật độ 3.500 - 5.000 cây/1.000m2; nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa, 70 x (50 - 60) cm, mật độ 2.000 - 2.500 cây/1.000m2.

4. Sử dụng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic)
4.1 Mục đích

a. Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh sáng mặt trời nên giảm bù lạch, rầy mềm, giảm bệnh do nấm tấn công ở gốc thân và đốm trên lá chân

b. Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm hạt cỏ bị chết trong màng phủ.

c. Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.

d. Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay hơi nên tiết kiệm phân.

e. Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểm mưa dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh.

f. Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên phèn, mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn.

4.2 Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp
- Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng ớt hàng đơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng khổ 1,2 - 1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thì hiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao. Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400 m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

- Lên liếp: Lên liếp cao 20 - 40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳng không được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi cao hai bên thấp để tiện việc tưới nước.

- Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại canh tranh. Có thể giảm bớt 20% lượng phân so với không dùng màng phủ.

- Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh như Oxyt đồng hoặc Copper B (20 g/10 lít) hoặc Validacin (20 cc/10lít) đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.

- Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậy màng phủ. Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.

5. Bón phân: (tương tự cà chua)
Tùy theo loại đất, mức phân bón trung bình toàn vụ cho 1.000m2 như sau:
20 kg Urea + 50 kg Super lân + 20 kg Clorua kali + 12 kg Calcium nitrat + (50 - 70) kg 16 - 16 - 8 + 1 tấn chuồng hoai + 100 kg vôi bột, tương đương với lượng phân nguyên chất (185 - 210N)-(150 - 180P2O5)-(160 - 180K2O) kg/ha.

* Bón lót: 50 kg super lân, 3 kg Clorua kali, 2 kg Calcium nitrat, 10 - 15 kg 16 - 16 - 8, 1 tấn phân chuồng và 100 kg vôi. Vôi rải đều trên mặt đất trước khi cuốc đất lên liếp, phân chuồng hoai, lân rãi trên toàn bộ mặt liếp xới trộn đều. Nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì phân nằm trong màng phủ ít bị bốc hơi do ánh nắng, hay rửa trôi do mưa.

* Bón phân thúc:
- Lần 1: 20 - 25 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy (giống cao cây). Lượng bón: 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg 16 - 16 - 8 + 2 kg Calcium nitrat. Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cà hoặc đục lổ màng phủ giữa 2 gốc cà.

- Lần 2: 55-60 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều.
Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại cà hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

- Lần 3: Khi cây 80-85 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái.
Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

- Lần 4: Khi cây 100 - 110 ngày sau khi cấy, thúc thu hoạch rộ (đối với ớt sừng dài ngày).
Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10 - 15 kg 16 - 16 - 8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

- Chú ý:
+ Ớt thường bị thối đuôi trái do thiếu canxi, do đó mặc dù đất được bón vôi đầy đủ trước khi trồng hoặc bón đủ Calcium nitrat nhưng cũng nên chú ý phun bổ sung phân Clorua canxi (CaCl2) định kỳ 7 - 10 ngày/lần vào lúc trái đang phát triển để ngừa bệnh thối đuôi trái..
+ Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để hạn chế mất phân.
+ Nhằm góp phần tăng năng suất và phẩm chất trái, nhất là trong mùa mưa có thể dùng phân bón lá vi lượng như MasterGrow, Risopla II và IV, Miracle,... Bayfolan, Miracle... phun định kỳ 7 - 10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch.
6. Chăm sóc

6.1 Tưới nước

Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu khô hạn kéo dài thì tưới rảnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, khoảng 3 - 5 ngày tưới/lần. Tưới thấm vào rãnh tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu.

6.2 Tỉa nhánh
Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng. Các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng

6.3 Làm giàn
Giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giàn được làm bằng cách cắm trụ cứng xung quanh hàng ớt dùng dây chì giăng xung quanh và giăng lưới bên trong hoặc cột dây nilong lúc cây chuẩn bị trổ hoa.

V. Thu hoạch và để giống
- Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ơt cay cho thu hoạch 35 - 40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1 - 2 ngày thu 1 lần, nếu chăm sóc tốt năng suất trái đạt 20 - 30 tấn/ha.

- Làm giống nên chọn cây tốt, cách ly để tránh lai tạp làm giảm giá trị giống sau này. Chọn trái ở lứa thu hoạch rộ, để chín chín hoàn toàn trên cây, hái về để chín thêm vài ngày rồi mổ lấy hạt, phơi thật khô, để vào chai lọ kín và để nơi khô ráo. Hạt ớt chứa nhiều chất béo, do đó hạt khô thường hút nước lại và gia tăng ẩm độ, vì vậy trữ hạt ở điếu kiện nóng ẩm (ẩm độ trữ hơn 70% và nhiệt độ 20 độ C) hạt mất khả năng nẩy mầm 50% trong thời gian 3 tháng và mất khả năng nẩy mầm hoàn toàn trong thời gian 6 tháng. Trữ hạt trong điều kiện khô, kín (ẩm độ 20%, nhiệt độ là 25 độ C), hạt khô (ẩm độ 5%) có thể giữ độ nẩy mầm 80% trong 5 năm.

- Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi cho việc canh tác ớt và khả năng xuất khẩu ớt thu ngoại tệ cũng không nhỏ. Tuy nhiên để thực hiện được điều đó cần chú ý những điểm như sau:

- Các giống ớt địa phương hiện trồng có năng suất còn thấp và tỷ lệ ớt tươi/khô cũng thấp.

- Ớt xuất khẩu thường ở dạng khô. Phương pháp làm ớt khô bắng cách phơi ớt tươi trực tiếp ngoài nắng thường làm ớt mất màu, không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngoài ra việc phơi nắng kéo dài trong 10 - 20 ngày tạo điều kiện cho bệnh đén trái tiếp tục phát triển trong thời gian phơi và làm mất phẩm chất ớt.
Ớt xuất khẩu và dùng trong chế biến thực phẩm còn đòi hỏi các tiêu chuẩn như độ cay, mùi hương mà các giống trồng hiện chưa đáp ứng được. Do đó cần chú ý công tác chọn tạo giống và kỹ thuật chế biến ớt, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu thì cây ớt mới có giá trị kinh tế cao.


Kỹ thuật trồng Ớt, Nguồn: Khoa Nông nghiệp - Đại học Cần Thơ.

Sâu bệnh hại Gừng

Sâu bệnh hại Gừng


1. Sâu hại gừng



- Thành phần sâu hại trên cây gừng nói chung ít và tác hại không đáng kể. Một số sâu hại có thể thấy là:
- Châu chấu sống lưng vàng, châu chấu mía, dế dũi, bọ dừa nâu, rầy trắng lớn, rầy xanh, rệp sáp, bọ trĩ. Ngoài loài dế dũi hại rễ và gốc, các loài khác gây hại trên lá gừng.

2. Bệnh hại cây gừng
Các bệnh chủ yếu thường thấy là bệnh cháy lá, bệnh thối củ do nấm và thối củ do vi khuẩn.
a. Bệnh cháy lá
Tác nhân gây bệnh là nấm piricularia grisea
- Triệu chứng tác hại:
Trên phiến lá vết bệnh đầu tiên là những đốm màu xanh tái, sau đó vết bệnh lớn lên, đường kính 3-7mm, giữa có màu nâu xám, xung quanh viền nâu đậm. Nhiều vết bệnh liên kết với nhau tạo thành mảng cháy lớn trên lá. Vết bệnh có thể xuất hiện ở đỉnh hoặc mép lá, tạo thành mảng cháy lan rộng vào trong phiến là. Bệnh nặng có thể làm phần lớn lá gừng bị cháy xơ xác, củ ít và nhỏ.
- Biện pháp phòng trừ
+ Thu dọn tàn dư cây sau thu hoạch
+ Trồng mật độ vừa phải, bón phân cân đối NPK
+ Ngắt bỏ sớm những lá bị bệnh.
+ Phun thuốc kasai, Trizole, Carbenzim, Benomyl. Theo nồng độ khuyến cáo.

b. Bệnh thối khô củ
- Tác nhân gây bênh: Nấm Rhizotonia solani
Triệu chứng, tác hại
Đầu tiên vết bệnh xuất hiện ở bẹ lá chỗ gốc cây gần mặt đất, là những đốm màu nâu xám, rộng khoảng 3-5mm. Sau đó vết bệnh lan rộng ra, không có hình dạng nhất định, xung quanh viền nâu đen. Lá bị bệnh có xu hướng lan xuống phía gốc làm thối một phần củ, vết thối khô hơi xốp. Bệnh nặng có hể làm cây chết và củ bị thối hoàn toàn.
- Biện pháp phòng trừ
+ Thu dọn tàn dư cây trồng sau thu hoạch
+ Lên luống cao cho thoát nước, bón phân hữu cơ ủ hoai. Không trồng mật độ dày quá, bón phân đạm vừa phải.
+ Khi bệnh phát sinh phun thuốc Validacin, Anvil, Monceren, Carbenzim…

c. Bệnh thối nhũn củ
- Tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn Erwinia carotovora.
- Triệu chứng, tác hại:
Vết bệnh trên củ lúc đầu là một đốm nhỏ màu nâu xám, hơi mọng nước. Sau đó vết bệnh lớn dần và ăn sâu vào trong làm một phần củ bị thối mềm, cắt ngang chỗ thối thấy có dịch nhờn. Cây bị bệnh lá úa vàng và đổ gục. Bệnh tếp tục làm thối củ trong thời gian bảo quản.
- Biện pháp phòng trừ
+ Không trồng củ bệnh. Trước khi trồng nhúng củ vào dung dịch sulfat đồng 0,5%.
+ Bón thêm vôi cho đất, lên luống cao để thoát nước, không trồng mật độ dày quá, bón đủ phân lân và kali.
+ Đào bỏ cây bị bệnh, phun các thuốc Cupremicin, Kasuran.

Sâu bệnh hại Gừng, Nguồn: Tổng hợp.

Kỹ thuật trồng Gừng

Kĩ thuật trồng Gừng


1.Thời vụ gừng

Gừng trồng từ đầu xuân (tháng 1-2) đến cuối vụ xuân (tháng 4-5). Cuối năm khoảng từ tháng 10-11-12 hàng năm ta có thể thu gừng. Thời gian sinh trưởng của gừng từ 8-10 tháng từ từng giống.
2. Đất trồng gừng
Cây gừng có thể sống ở đất ẩm, đất xấu, bóng râm của vườn, khi trồng thành ruộng, theo luống phải phủ ở giai đoạn đầu, khi cao sẽ không phải phủ luống chỉ tủ gốc. Nên trồng đất có khả năng thoát nước, gừng có thể trồng được ở nhiều đất, song cho năng suất khác nhau tùy thuộc chất đất.
3. Ươm hom giống gừng
Dùng dao cắt hom, mỗi hom có ít nhất 3-4 mắt, cắt nhẵn, chấm tro bếp ngay để hãm nhựa.
Sau cắt hom 4-6 tiếng: ta xếp đều trên các khay, dưới lót bao, trên phủ bao ẩm. Sau 2-3 ngày dùng rơm rác mục sạch phủ kín, tưới ẩm và che kín để khoảng 1-2 tuần.
Sau 10-15 ngày các hom gừng nhú mắt, ta có thể đem trồng (hom già mọc chậm hơn hom bánh tẻ).4. Phân bón cho gừng
Phân chuồng 5-10 tấn/ha, phân lân 80kg/ha, phân kali 100kg/ha, cả 2 được chia đều để bón thúc 2 lần.
Nếu có công ta chia phân chuồng và lân để bón theo hàng và hốc là tốt nhất.
5. Kĩ thuật trồng gừng
- Nên đánh luống: Rộng 1,2-1,5m, cao 35-40cm.
- Hàng cách hàng 30cm, cây cách cây 20cm
- Mỗi hốc đặt một hom.
- Lấp mùn nhẹ phủ lên, tưới giữ ẩm 1 tuần đầu để cây mọc đều, phủ đất và phủ rơm rồi tưới nước giữ ẩm.
6. Chăm sóc cây gừng
- Sau khi mọc 1 tháng bón thúc đợt 1 (bón ½ đam, ½ kali).
- Sau khi mọc 2-3 tháng bón thúc đợt 2. Bón hết phần đạm, kali còn lại.
7. Thu hoạch gừng
Khi gừng có lá vàng và khô trên 2/3 số là là có thể thu hoạch gừng. Khi thu hoạch chú ý tránh gãy, dập gừng. Kĩ thuật thu tránh gãy là giữ nguyên cả khóm củ gừng ta cuốc gia gốc 20-25cm, sau đó nhổ nhẹ để lấy cả khóm củ, tỉa hết đất để có tảng củ của khóm.

Kỹ thuật trồng Gừng, Nguồn: Tổng hợp.