Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ếch Đồng - Ếch Thái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ếch Đồng - Ếch Thái. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

Một số bệnh thường gặp ở Ếch

Một số bệnh thường gặp ở Ếch


Phần lớn bệnh của ếch đều do sai xót kỹ thuật trong khi nuôi ,chăm sóc không đúng kỹ thuật, không hiểu biết tường tận phương pháp nuôi, không đáp ứng đủ các yêu cầu của ếch cần có. Cụ thể ếch bị bệnh là do: thời tiết thay đổi lạnh dưới 20C0, mưa dầm nước mưa trong hồ nhiều, nuôi mật độ dầy, hồ nuôi đáy không láng, chưa rửa sạch chất vôi, không diệt sạch mầm bệnh hồ nuôi khi nuôi lại, nước bị xấu không ổn định ,không thay nước và thay nước không đúng kỹ thuật, chỗ nuôi ếch ồn ào không thích hợp, thức ăn hư ,cũ mốc không tươi, không đủ chất lượng, cách cho ăn không thích hợp và cho ăn quá nhiều.

1. Bệnh sình bụng, ăn không tiêu và viêm ruột


- Nguyên nhân: Thức ăn không tiêu, ếch ăn quá nhiều, hoặc thức ăn bị ôi chua. 



- Triệu chứng: bụng ếch bị trương phình ếch nằm yên một chỗ, một vài con ruột lịi ra ở lỗ hậu môn, ruột sưng và mỏng, bên trong có dịch lỏng trong lẫn với cặn thức ăn không tiêu và có mùi thối. 


- Cách điều trị: Ngưng cho ăn một hai ngày hoặc giảm lượng thức ăn xuống, làm vệ sinh sàn ăn, tăng độ tươi sống của thức ăn, trộn thức ăn với thuốc kháng sinh như: Oxytetraciline 2 - 3g/kg thức ăn hay Enrrofloxaxin 3 g/kg thức ăn cho ăn trong 7 ngày.

2. Bệnh viên đường tiêu hóa do vi khuẩn


- Nguyên nhân: nhiễm vi khuẩn protosua.



- Triệu chứng: ếch biếng ăn ,gầy ốm đôi khi có hiện tượng sình trương bụng. 



- Cách điều trị: dùng Metronidazole liều lượng 2 - 3 g/1kg thức ăn cho ăn liên tục trong 2 - 3 ngày và xử lý nước thường xuyên để giảm lượng vi khuẩn có trong bể, vệ sinh sạch hồ nuôi. 

3. Bệnh thân xanh vàng

- Nguyên nhân: Bệnh phát sinh từ nước cónồng độ Axit cao, pH 4,5 – 5,7 



- Triệu chứng: Màu da ếch trở nên vàng tái và đôi chổ da ếch bị bung ra có thể thấy quầng màu trắng thành từng vùng trên khắp thân ếch. 


- Cách điều trị: Điều chỉnh độ pH trong nước duy trì ở mức trên 6,8 hay gần 7 là tốt nhất, dùng vôi bột trắng hòa tan trong nước điều chỉnh cho phù hợp, nên kiểm tra độ pH của nước trước khi cho vào bể nuôi và duy trì độ pH trong nước nuôi luôn ổn định.


4. Bệnh Berteria
- Nguyên nhân : Do nước dơ bẩn sinh ra lọai vi khuẩn gây bệnh này. 



- Triệu chứng: Làm cho ếch ốm yếu đi, da bị lở loét, mầm bệnh lây lan từ con này qua con khác. 



- Cách điều trị: Làm vệ sinh hồ nuôi, thay nước thường xuyên, cho ăn thức ăn trộn Oxytetraciline 2 – 3 gr/kg thức ăn cho ăn liên tục 7 ngày. 

5. Bệnh sán lải
- Nguyên nhân : Do 03 lọai sán lá, sán sơ mít và giun đũa. 



- Triệu chứng: Ếch ăn nhiều nhưng lớn chậm, sau đó biếng ăn rồi chết. 



- Cách điều trị: Dùng thuốc sổ lải Pepracin trộn với thức ăn ( 0,1% trọng lượng thức ăn). 

6. Bệnh ghẻ, lở
- Nguyên nhân: Bệnh này xảy ra ở các lứa tuổi của ếch do bị kiến cắn sinh mụn hoặc do ếch hoảng sợ nhảy gây ra vết thương. 



- Triệu chứng: Thân hình ếch có các vết lở loét, ếch đau nhức, biếng ăn, dẫn đến kiệt sức và chết. 



- Cách điều trị: Cách ly ếch bệnh riêng dùng thuốc xức lên chỗ loét nhiều lần trong ngày cho đến khi lành bệnh, tìm diệt các ổ kiến chung quanh và trộn O xytetracyline 3 – 5 gr vào thức ăn trong 3 – 5 ngày. 

7. Bệnh trùng bánh xe
- Nguyên nhân: Bệnh do ký sinh trùng Trichodina gây ra, thường xuất hiện ở giai đoạn nòng nọc. Bệnh thường xảy ra khi nguồn nước nuôi bẩn. 



- Triệu chứng: Khi mắc bệnh, trên màng vây và đuôi của nòng nọc xuất hiện những điểm màu trắng bạc, bơi ngắc ngoải và cựa quậy liên tục, Ếch sẽ bỏ ăn và chết hàng loạt. 



- Cách phòng và trị: Cần thay nước ngay và đưa những con bị bệnh ra chậu riêng để điều trị khi thấy có dấu hiệu bệnh. Cho nòng nọc bị bệnh tắm trong dung dịch sun phát đồng (CuSO4) với lượng 2 - 3g/m3 nước hoặc với dung dịch penicilin (1 chai 1 triệu đơn vị cho 1 chậu lớn). Không nên ngâm nòng nọc trong các dung dịch này quá 2 giờ. Khi thấy chúng hoạt động bình thường trở lại thì vớt ra ngay. Ngoài ra cũng có thể điều trị bệnh này bằng nước muối nồng độ 2 - 3 ‰ (hoà 20 - 30 gam muối với 10 lít nước). Cho nòng nọc bị bệnh vào nước muối đó trong vòng 5 - 10 phút và vớt chúng ra và thả lại vào chỗ nuôi đã thay nước mới. 

8. Bệnh đốm đỏ



- Nguyên nhân : phát sinh do vi khuẩn Becteria ,Aeromonas hydrophilla. 



- Triệu chứng: ếch biểu hiện tình trạng buồn rầu, di chuyển chậm chạp, không quan tâm đến môi trường xung quanh, không ăn hay ít ăn, biểu hiện có những vết chấm đỏ trên chân, vùng da dưới bụng và mẩn đỏ khắp mình, chân bị sưng, gốc đùi có màu đò. Khi mổ bụng có tình trạng chảy máu trong và có nước trong ổ bụng, gan có màu đỏ và đọng máu. 



- Cách điều trị: chỉ trị được lúc ếch mới phát bệnh không quá nặng ,khi ếch bị qúa nặng thì việc chữa trị không có hiệu quả, có thể dùng kháng sinh Enrofloxaxin 2 - 3g/1kg thức ăn cho ăn liên tục 3 - 7 ngày hay oxytetraciline 3 - 5g/kg thức ăn cho ăn liên tục 7-10 ngày . Ngâm ếch trong dung dịch thuốc tím nồng độ 5 - 8ppm (5 - 8gr/1m3 nước ) từ 10 - 15 phút để diệt vi khuẩn gây bệnh có trong nước hồ nuôi xâm nhập vào da ếch, xử lý diệt trùng hồ nuôi ngay , khi chữa bệnh giảm 50% lượng thức ăn xuống . 



- Phòng bệnh: Phòng tốt nhất là quản lý chất lượng nước luôn luôn sạch,có chế độ thay nước thường xuyên và không nuôi với mật độ quá dầy. 

9. Một số bệnh khác: bệnh mắt trắng, mù mắt, vẹo cổ và bệnh quay cuồng 
- Nguyên nhân: chưa biết rõ nhưng thường thấy ở những con ếch bị nhiễm Bactheria.



- Triệu chứng: Đặc điểm mắt trắng, đục mù, viêm sưng vùng mắt, có mủ ở mí mắt, có hiện tượng thần kinh thường nằm ngửa bụng thể hiện tình trạng quay cuồng, cổ vẹo, lưu ý những bệnh này thường có ở ếch từ 50 con/kg trở lên và cần phân biệt khi ếch bị xót mắt ngộ độc do hàm lượng vôi trong hồ cao mắt bị màng mờ trắng và thân mình nằm bơi nghêng, trường hợp này nhanh chóng cho nuôi trong nước sạch và rửa hồ ngay. 



- Cách điều trị: để giảm bớt sự lây lan của bệnh bằng cách cách ly con bị bệnh ra riêng, khử trùng hồ nuôi bằng thuốc tím 4 – 6 g /m3 nước, tạt khắp nơi trong bể liên tiếp trong 3 - 4 ngày, hòa trộn thuốc kháng sinh với thức ăn để đề phòng vi khuẩn xâm nhập. 



- Phòng bệnh: Nên tránh mua ếch bố mẹ, ếch giống từ các trại có quá khứ đã xảy ra bệnh này đem về nhân giống hay nuôi và nên tổ chức quản lý trại cho tốt. 

10. Một số biện pháp phòng bệnh tồng hợp
- Chất lượng ếch giống : Nên nuôi ếch giống cỡ 100 – 200 con/kg, trọng lượng từ 6 – 10 g/con nuôi cỡ 400 – 500 con/kg hao hụt rất cao 30 –40% do chúng cắn sát hại lẫn nhau, ngay trong cùng một lứa, cùng một bố mẹ chỉ có 60 – 70% ếch con có tiêu chuẩn làm giống, còn 30 – 40% các con còn lại chậm lớn còi cọc, những trại uy tín thường lọai bỏ những con ếch này không bán cho người nuôi. 



- Một điều rất cần được lưu ý là ếch lai, sau khi nhân giống vài đời, tình trạng đồng huyết rất mạnh và các gen xấu tiềm ẩn được trỗi dậy khiến ếch dễ bị bệnh, không lớn. 



- Môi trường nước nuôi tốt không bị ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, không nhiễm phèn, nhiễm mặn, nhiễm chất thải công nghiệp… Trong suốt quá trình nuôi phải quản lý kiểm sóat chất lượng nuớc thường xuyên và xử lý nhanh chóng kịp thời khi phát hiện tình trạng nước xấu đi. 



-  Cách chăm sóc quản lý trong thời gian nuôi. 



-  Làm sạch sẽ và vệ sinh thu dọn hết chất thải thức ăn dư thừa 



- Ngăn ngừa phòng chống bệnh bằng một số thuốc sát khuẩn như sulfat đồng, thuốc tím …hòa tan trong nước nuôi ếch mỗi tuần một lần để diệt khuẩn trong hồ nuôi và mỗi ngày nên ngâm thức ăn 10 - 15 phút và trộn với men vi sinh tiêu hóa, sinh tố, mỗi tuần 2 lần nên trộn thức ăn với sorbitol thuốc giải độc mát gan cho ếch, cố gắn làm thành hồ đáy hồ láng không làm trầy xước thân mình ếch và dùng Oxytetraciline chữa bệnh này. 

Một số bệnh thường gặp trên Ếch, Nguồn: Khuyến Nông Việt Nam.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Mô hình nuôi ếch đồng hiệu quả ở Hà Tĩnh

Mô hình nuôi ếch đồng hiệu quả ở Hà Tĩnh


Mô hình nuôi ếch đồng hiệu quả ở Hà Tĩnh by ST | Mo hinh nuoi ech dong hieu qua o ha tinh

Năm 2004, Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xây dựng một số mô hình trình diễn nuôi ếch trong tỉnh, với tổng diện tích 0,5 ha, bước đầu đem lại hiệu quả thiết thực, xin giới thiệu hai mô hình điển hình để bà con tham khảo, áp dụng.


1. Nuôi trong lồng
- Chủ mô hình là chị Vương Minh Nga, xã Cẩm Dương, huyện Cẩm Xuyên, với quy mô là 10 lồng nuôi, thể tích 27 – 30m3/lồng. Lồng làm bằng lưới cước, phía trên có cửa cho ếch ăn.

- Lồng nuôi: Đặt trong ao diện tích 900m2, sâu 0,8-1,2m, mỗi lồng được bố trí 6 cọc để giữ lồng, đáy lồng được trải một lớp xốp, trên lớp xốp trải một lớp phên tre và phên nứa để giữ độ ẩm và làm sàn ăn cho ếch.

- Mật độ: 80 con/m3, tổng lượng giống thả 24.300 con/ lồng.

- Chăm sóc, quản lý:
+ Thức ăn: Chủ yếu dùng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi nhập từ Thái Lan, ngoài ra còn sử dụng thức ăn tươi như giun đất, côn trùng, các loại cám gạo, cám ngô trộn với bột cá để tạo thức ăn viên.
+ Thời gian cho ăn: Cho ếch ăn 2 bữa/ngày vào lúc 6h và 18h, lượng thức ăn cho ăn bằng 4 – 5% trọng lượng ếch trong ao. Sau 2 giờ cho ăn, tiến hành kiểm tra thức ăn thừa hay thiếu để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

- Hàng ngày theo dõi hoạt động của ếch, kiểm tra địch hại như chuột, rắn rết. Định kỳ thay nước ao 1 lần/tuần, luôn duy trì bèo tây ở mương và trong ao để làm mát nước. Sau 20 ngày nuôi, tách những con vượt đàn sang nuôi riêng để tránh chúng ăn lẫn nhau.

- Kết quả: Do ảnh hưởng của thời tiết nên sau 4,5 tháng nuôi, ếch đạt cỡ trung bình 180 – 200g/con, tỷ lệ sống 60%.

- Thu hoạch: 2.770,2kg x 35.000đ/kg = 96,957 triệu đồng

- Chi phí: 68,7 triệu đồng, bao gồm: Cải tạo ao: 2 triệu đồng; giống 24,3 triệu đồng; thức ăn 5,4 tấn x 6 triệu đồng/tấn = 32,4 triệu đồng; thuốc và hóa chất: 3 triệu đồng; khấu khao 20%: 2 triệu đồng; nhiên liệu, điện: 5 triệu đồng.

- Lợi nhuận: 28,257 triệu đồng.

2. Nuôi trong ao đất
- Chủ mô hình này là anh Nguyễn Văn Quang, xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, với quy mô 1.000m2, tường được che bằng ngói fibrôximăng và lưới cước cao 1,2m, đào mương trong ao rộng 1,5m, sâu 0,3m.

- Chuẩn bị ao nuôi: Tẩy ao bằng cách dùng 12kg vôi sống rải đều lên 100m2 ao.

- Thả giống: Ngày thả 26/4/2004, mật độ thả 27 con/m2, cỡ 170 – 200 con/kg.

- Chăm sóc, quản lý: Tương tự như nuôi ếch trong lồng.

- Kết quả: Sau 4,5 tháng nuôi, ếch thương phẩm đạt trung bình 200g/con, tỷ lệ sống 60%.

- Thu hoạch: 3.240kg x 35.000đ/kg = 113,4 triệu đồng.

- Chi phí: 81 triệu đồng, gồm:
+ Cải tạo ao, ruộng 5 triệu đồng; giống 27 triệu đồng; thức ăn: 6 tấn x 6 triệu đồng/tấn = 36 triệu đồng.
+ Thuốc và hóa chất: 3 triệu đồng
+ Khấu hao 20%: 5 triệu đồng.
+ Nhiên liệu+điện : 5 triệu đồng.

- Lợi nhuận: 32,4 triệu đồng.

* Theo ông Trương Huy Dũng, cán bộ khuyến ngư Sở Thủy sản Hà Tĩnh: “Ếch là loài nuôi mới phù hợp với điều kiện khí hậu ở Hà Tĩnh, ngành thủy sản tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo và khuyến khích nông dân trong tỉnh mở rộng diện tích nuôi để tăng thu nhập, tận dụng tiềm năng, diện tích mặt nước, tạo công ăn việc làm cho lao động nông nhàn”.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Mô hình nuôi ếch Thái hiệu quả ở Bến Tre

Mô hình nuôi ếch Thái hiệu quả ở Bến Tre


Mô hình nuôi ếch Thái hiệu quả ở Bến Tre by ST | Mo hinh nuoi ech thai hieu qua o ben tre

Ếch Thái Lan có tên khoa học là Rana Rugulosa, được du nhập vào Việt Nam mới 4 năm nay. Đã có một số người từng nếm mùi thất bại vì đầu tư mạnh vào nuôi ếch Thái Lan. Thế nhưng, ở huyện Mỏ Cày đã có người thành công, đó là chú Nguyễn Văn Ót ở ấp Hội Thành, xã Đa Phước Hội.


- Sau nhiều năm nuôi trăn, kỳ đà, không đạt hiệu quả như mong muốn, năm 2003 chú Nguyễn Văn Ót (còn gọi là chú Năm Ót) chuyển sang nuôi ếch đồng nhưng hiệu quả vẫn thấp. Đến tháng 5/2007, chú Năm Ót bắt đầu nuôi 2.700 con ếch Thái Lan trong diện tích 500m2. Hiện tại còn 2.469 con, trong đó có 600 ếch cái và 700 ếch đực để nhân giống. Nguồn thức ăn là trùn quế, bà chằn và thức ăn viên dành cho cá.

- Về kinh nghiệm nuôi ếch Thái Lan, chú Năm Ót nói một cách tự tin: “Nuôi ếch Thái Lan không có gì khó, chỉ cần cho ăn đều đặn, thay đổi thức ăn, nguồn nước nuôi phải sạch, phòng ngừa 4 loại bệnh như ghẻ, mù mắt, quẹo cổ và sình bụng”.

- Sau khi hướng dẫn chúng tôi tham quan mô hình nuôi ếch Thái Lan, chú Năm Ót cho biết thêm: “Bên cạnh học hỏi kinh nghiệm qua bạn bè đã và đang nuôi ếch Thái Lan, đồng thời qua nghiên cứu các tài liệu nuôi ếch Thái Lan, tôi rất đồng tình về kỹ thuật của tiến sĩ Lê Thanh Hùng – Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh.”

- Cụ thể là ếch được nuôi trong bể xi măng, có độ nghiêng khoảng 50 để dễ thay nước, che lưới nylon trên bể nhằm tránh nắng trực tiếp, không nên che mát hoàn toàn. Mực nước trong ao chỉ nên ngập khoảng ½ đến 2/3 thân ếch, thường xuyên phun nước tưới ếch nhất là mùa nắng. Mật độ thả nuôi, tháng đầu 150 - 200 con/m2 đến tháng thứ 3 từ 80 -100 con/m2. Sau 7-10 ngày tuổi, lựa những con lớn nuôi riêng để tránh chúng ăn thịt lẫn nhau. Ếch thường ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm. Cho ếch uống vitamin C theo định kỳ để giúp tăng cường sức khỏe và tiêu hóa thức ăn.

- Nếu nuôi trong ao đất thì ao không lớn quá vì khó quản lý, xung quanh ao nên dùng tôn hoặc phên tre để rào cao khoảng 1,2m. Mật độ thả nuôi thưa hơn trong bể xi măng, cách 2 - 3 ngày phải thay nước, chỉ thay nước 1/3 - ¼ tránh thay hết nước. Nuôi trong ao đất ít tốn công chăm sóc so với nuôi trong bể xi măng, nhưng lại khó kiểm soát.

- Để phòng các bệnh lở loét đỏ chân, sình bụng, mù mắt, cổ quẹo nên giữ nước sạch, thường xuyên thay nước, theo định kỳ trộn các men tiêu hóa vào thức ăn của ếch, loại bỏ những con có triệu chứng bệnh mù mắt, cổ quẹo, mật độ nuôi không nên quá dày đặc.

- Chú Năm Ót cho biết thêm kinh nghiệm, môi trường nuôi không có mùi hôi, ô nhiễm, đảm bảo cung cấp đầy đủ thích hợp nguồn thức ăn có nhiều đạm cho ếch phát triển nhanh (thức ăn phải tươi sống hoặc chế biến). Môi trường xung quanh phải yên tĩnh, không ồn ào. Không nên nuôi ếch vào mùa đông vì thời tiết lạnh thường xuyên làm cho ếch kém ăn, dễ bị nhiễm bệnh. Khi mua ếch về nuôi phải rõ nguồn gốc, tránh mua con giống trôi nổi trên thị trường.

- Nói về quy mô phát triển đàn ếch Thái Lan, chú Năm Ót phấn khởi: “Sang năm 2008, tôi sẽ tăng đàn ếch lên khoảng 20.000 con trên diện tích hơn 1.000m2, đến khi bán được chắc được khoảng 6 tấn, thị trường chủ yếu của tôi hiện nay tại Tiền Giang”.

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Mô hình nuôi ếch Thái hiệu quả ở Đồng Tháp

Mô hình nuôi ếch Thái hiệu quả ở Đồng Tháp


Mô hình nuôi ếch Thái hiệu quả ở Đồng Tháp by ST | Mo hinh nuoi ech thai hieu qua o dong thap

Ếch là động vật lưỡng cư gần gũi với con người từ xa xưa, ếch hiện diện khắp nơi hoang dã, sống ở các vùng đầm lầy, đồng bằng và cả ở miền núi. Thịt ếch trắng hồng, dai, thơm ngon là nguồn cung cấp đạm động vật cho con người. Ếch được chế biến nhiều món ngon khoái khẩu đối với các cư dân châu Âu và châu Á, vì có giá trị thương phẩm cao. Từ năm 2003, nghề nuôi ếch ở Việt Nam được hình thành. Ở một số trang trại nhỏ ở miền Bắc, miền Trung đã nhập giống ếch Thái Lan về nuôi, đến giữa năm 2004, ở Nghệ An, Hà Tĩnh cũng đã nhập giống ếch này.


- Ở tổ 1 ấp 3 xã Bình Hàng Tây huyện Cao Lãnh, có anh Nguyễn Văn Thâm, người đầu tiên cho ếch sinh sản và ươm ếch giống. Năm 2004, sau khi ươm thành công mẻ đầu tiên để thử nghiệm, năm 2005, anh mở rộng bể ươm lên 200m vuông với 12 mẻ, mỗi mẻ ươm 30.000 con với 100 cặp giống bố mẹ ếch bò Thái Lan sẽ cho ra giống lai F1.

- Hiện nay trại sản xuất giống của anh Thâm đã có ếch con 20 ngày tuổi, ếch con từ ngày sinh sản đến lúc thả nuôi được là 30 ngày, giá ếch giống từ 800 – 1.000đ/con, anh Thâm đã ký hợp đồng giao con giống ở các trại chăn nuôi miền Trung.

- Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà khoa học: Bên cạnh những thuận lợi của dòng ếch lai Thái Lan, để phát triển thành ngành nuôi bền vững, các trang trại sản xuất ếch giống cần kỹ thuật cao, lâu dài, không thể chấp nhận từ vài trăm cặp ếch bố mẹ nhập từ Thái Lan về nhân giống phân tán khắp nơi nuôi thịt rồi tiếp tục cho tái sinh sản, dẫn đến tình trạng đồng huyết thoái hóa, ếch con không phát triển, chậm lớn, chết hàng loạt.

- Như vậy các trang trại sản xuất giống cần có những nghiên cứu nên nhập ếch bò Bắc Mỹ về phối giống với ếch địa phương như ở Thái Lan đã làm, có như vậy mới tạo được nhiều giống ếch lai tốt tránh tình trạng đồng huyết và giúp cho nghề nuôi ếch tại Việt Nam phát triển bền vững.

- Ở Việt Nam, khí hậu nóng ẩm, nhiều sông rạch đầy lầy, thuận lợi phát triển nghề nuôi này. Quy trình nuôi ếch cũng dễ thực hiện, tiền đầu tư bể nuôi, vèo nuôi ít tốn kém, nhưng khi quyết định nuôi, bà con cũng cần trang bị cho mình hiểu biết kỹ thuật.

- Việc chọn địa điểm nuôi cũng phải đảm bảo phù hợp với tập tính, môi trường sinh sống của ếch và phù hợp với quy mô đầu tư của kinh tế hộ, hay kỹ thuật trang trại. Môi trường, nước nuôi cũng cần xem xét một cách cẩn trọng.

- Nên mua ếch giống cùng cỡ, ếch con có tập tính rất háu ăn, nếu để đói, ếch có thể ăn thịt lẫn nhau, ếch thả nuôi chỉ một lần thôi với mật độ trung bình 100con/ m vuông.

- Về thức ăn cho ếch cũng rất thuận lợi, ếch bò Thái Lan có thể ăn thức ăn viên chế biến sẵn. Sau thời gian từ 3 - 4 tháng, có thể đạt trọng lượng 4 con/kg. Lượng thức ăn cần phải điều chỉnh theo từng lứa tuổi của ếch.

- Ở Việt Nam, người ta nuôi ếch có thể dùng thức ăn viên của cá tra, basa. Nuôi ếch cũng cần có chế độ kiểm tra xử lý như: thường xuyên kiểm tra nguồn nước, kiểm tra dịch bệnh, nhất là trong lúc thay nước, bà con cũng cần tiếp tục phân đàn, lựa lại kích cỡ lần nữa.

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Kỹ thuật nuôi Ếch Thái trong bể xi măng

Kỹ thuật nuôi Ếch Thái trong bể xi măng


Kỹ thuật nuôi ếch Thái trong bể xi măng by NG NN | Ky thuat nuoi ech thai trong be xi mang

Hiện nay, mô hình nuôi ếch Thái trong bể xi măng được một số nông dân ở Đồng Nai thực hiện. Thuận lợi của mô hình này là không cần nhiều đất, nhanh thu hồi vốn và lợi nhuận đem lại khá cao.


1. Chuẩn bị bể nuôi
- Có thể tận dụng đất dư thừa trong vườn làm bể hoặc chuồng heo đã bỏ nuôi để nuôi ếch. Bể nuôi ếch có diện tích trung bình 6 - 10m2, tường cao 1,2 - 1,5m để tránh ếch nhảy ra. Đáy bể nên làm hơi nghiêng để dễ thay nước. Nên che lưới nylon trên bể để tránh ánh nắng trực tiếp và làm tăng nhiệt độ. Đồng thời, tránh kẻ thù gây hại như: rắn, mèo, chuột, chim cú. Chú ý, bể nuôi ếch không nên che mát hoàn toàn. Trong bể nuôi nên làm thêm một ụ nhỏ hoặc bè cao hơn nền bể 15 - 20cm đủ cho tất cả ếch trong bể có thể trú ngụ để những khi ếch không muốn dầm nước hoặc mực nước trong bể quá cao ếch bị ngộp sẽ lên đó trú.

- Mực nước trong bể nuôi chỉ để ngập một nửa thân ếch. Nên thường xuyên phun nước tưới cho ếch, nhất là vào lúc trưa nắng.

2. Mật độ thả nuôi
- Tháng thứ nhất chỉ thả 150 - 200 con/m2.

- Tháng thứ 2 chỉ để khoảng 100 - 150 con/m2.

- Tháng thứ 3 chỉ để 80 - 100 con/m2.

- Sau khi thả nuôi ếch được khoảng 7 - 9 ngày nên lựa những con ếch lớn vượt đàn đem nuôi riêng để tránh trường hợp con lớn ăn con nhỏ. Nước trong bể nuôi phải thay thường xuyên, có thể dùng nước sông, nước giếng, nước ao để nuôi ếch, song nước phải đảm bảo sạch.

3. Thức ăn và cách cho ăn
- Cho ếch ăn nhiều lần trong ngày. Ếch giống từ 5 - 100 gram cho ăn khoảng 3 - 4 lần/ngày và lượng thức ăn bằng 7 - 10% trọng lượng của ếch.

- Khi ếch lớn 100 - 250 gram cho ăn 2-3 lần/ngày và lượng thức ăn 3 - 5% trọng lượng của thân.

- Ếch ăn mạnh vào lúc chiều tối và đêm nên ban ngày cho ếch ăn ít, tập trung thức ăn vào tối và đêm cho ếch. Định kỳ bổ sung thêm vitamin C, men tiêu hóa để giúp ếch tăng cường sức khỏe bớt bị bệnh và tiêu hóa tốt thức ăn.

- Có thể dùng cá tạp băm nhỏ, cám nấu chín, thức ăn viên dạng nổi để cho ếch ăn. Ở nước ta chưa có thức ăn chuyên cho ếch, song nông dân có thể sử dụng thức ăn viên nổi cho cá da trơn hay cá rô phi của Công ty Cargill, Blue star, Unipresident. Nếu dùng thức ăn viên nổi nên dùng loại có kích cỡ, hàm lượng protein phù hợp với độ tuổi của ếch. Cụ thể:

- Ếch từ 3-30 gram chọn thức ăn viên có kích thước 2,2 - 2,5 mm và có hàm lượng protein khoảng 35%.

- Ếch 30 - 100 gram dùng thức ăn có kích thước 3 - 4mm, hàm lượng protein là 30%.

- Ếch 100 - 150 gram sử dụng thức ăn có kích thước 5 - 6mm và hàm lượng protein khoảng 25%.

- Ếch lớn hơn 150 gram có thể dùng thức ăn có kích thước 8 -10mm và hàm lượng protein khoảng 22%.

- Trung bình cứ 1 kg ếch tăng trọng hết khoảng 1,3 - 1,5kg cám viên.

4. Phòng trừ một số bệnh hay gặp ở ếch
- Ếch nuôi trong bể xi măng có mật độ dày thường mắc một số bệnh như: lở loét đỏ chân, sình bụng, mù mắt, quẹo cổ thân có những đốm trắng. Khi mắc các bệnh này nếu không chữa trị kịp ếch sẽ chết rất nhanh. Cách phòng trừ:

- Bệnh lở loét đỏ chân: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra khi bể nuôi bị dơ bẩn. Ếch bị bệnh này thường có triệu trứng ăn ít, di chuyển chậm, có những nốt đỏ trên thân, chân bị sưng và góc đùi có tụ huyết. Khi mổ bụng ếch ra sẽ thấy xuất huyết trong ổ bụng. Cách phòng bệnh tốt nhất là thường xuyên thay nước và giữ nước nuôi trong bể luôn sạch sẽ. Khi phát hiện ếch có dấu hiệu bị bệnh thì dùng 5 gram thuốc Norfloxaxine trộn lẫn trong 1kg thức ăn cho ếch ăn liên tục trong 5 - 7 ngày. Hoặc dùng 3 - 5gram thuốc kháng sinh Oxytetracycline trộn trong 1kg thức ăn cho ếch ăn trong khoảng 5 - 6 ngày liên tục. Ngoài ra, ngâm ếch trong dung dịch Iodine với dung lượng 10ml/m3 nước.

- Bệnh sình bụng do 3 nguyên nhân: Ếch ăn phải thức ăn ôi, thiu hoặc cho ếch ăn quá nhiều không tiêu hóa được, nguồn nước nuôi dơ vì ít thay. Ếch bị bệnh có triệu chứng bụng trương phồng, nằm nguyên một chỗ, một số con hậu môn lòi ra, ruột bị sưng lên. Cách chữa trị: Ngưng cho ăn 1 - 2 ngày, làm vệ sinh sạch bể nuôi. Sau đó, trộn thức ăn với thuốc Sulphadiazine và trimethroprim với tỷ lệ 4 - 5gram/kg thức ăn và cho ếch ăn trong 5 ngày. Bệnh sình bụng ở ếch có thể phòng bằng cách: định kỳ trộn các men tiêu hóa như Lactobacillus vào thức ăn cho ếch với khối lượng 2 gram/kg thức ăn. Và phải thường xuyên thay nước, giữ bể nuôi, nước trong bể thật sạch.

- Bệnh mù mắt, quẹo cổ: Ếch mắc phải bệnh này mắt bị viêm sưng, sau đó dẫn đến mắt đục và mù cả 2 mắt. Còn bệnh quẹo cổ do cột sống ếch bị biến dạng làm cổ quẹo qua một bên, khi bệnh nặng ếch thường xuyên quay cuồng và chết. Cách chữa trị 2 loại bệnh trên là khử trùng bể bằng thuốc Iodine với liều lượng 5 - 10ml/m3 nước trong bể.

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Một số mô hình nuôi Ếch Thái

Một số mô hình nuôi Ếch Thái


Một số mô hình nuôi ếch Thái by Khuyến Nông | Mot so mo hinh nuoi ech thai

I. Đặc điểm sinh học
1. Phân bố
Ếch là động vật lưỡng cư sống được cả trên cạn và dưới nước, ếch có khả năng hô hấp bằng phổi và qua da. Ếch phân bố khắp nơi ao hồ, đồng ruộng, sông ngòi, những nơi ẩm ướt và có nguồn nước ngọt. Thịt ếch trắng hồng, dai, thơm ngon là nguồn cung cấp đạm rất tốt cho con người.


2. Dinh dưỡng
Trong tự nhiên, ếch là loài ăn động vật sống, con mồi phải di động như các loài côn trùng, giun, ốc, cá con, tép... Trong điều kiện nuôi sử dụng được thức ăn công nghiệp.

3. Sinh trưởng
- Ếch đồng: nuôi từ cỡ ếch giống 3 - 5g/con, sau 1 tháng có thể đạt 25 - 30g/con, 3 - 4 tháng thành ếch thương phẩm cỡ 80 – 100g/con. Sống ngoài tự nhiên ếch 1 tuổi, con cái nặng 60g, con đực nặng 50g.

- Ếch Thái Lan: nuôi từ cỡ ếch giống 3 - 5g/con, sau một tháng có thể đạt từ 50 - 70g/con, 2,5 - 3 tháng ếch đạt từ 150 - 300g/con lúc này có thể bán ếch thương phẩm.

4. Sinh sản
- Ếch sau khi đạt 10 - 12 tháng tuổi thì có thể tham gia sinh sản. Mùa vụ sinh sản của ếch bắt đầu từ tháng chạp đến tháng 9 âm lịch. Ếch đẻ rộ vào mùa xuân, những đêm mưa rào, ếch đực dùng tiếng kêu để tìm bạn tình, ếch đực kêu to vang vọng là nhờ có hai túi kêu mỏng thông với xoang miệng như hai chiếc loa thùng khuếch đại âm thanh. Còn ếch cái chỉ kêu nhỏ nhẹ và rời rạc.

- Sức sinh sản của ếch: 20.000-30.000 trứng/1kg ếch cái.

II. Các mô hình nuôi
- Nuôi trong bể xi măng: Thích hợp vùng ven đô thị có diện tích đất giới hạn (tận dụng chuồng trại cũ hay bể xi măng bỏ không).

- Nuôi trong ao đất: Thích hợp vùng ven đô thị hay nông thôn có diện tích đất khá lớn.

- Nuôi trong giai (vèo), đăng quầng: Thích hợp vùng có ao hồ lớn có thể vừa nuôi ếch kết hợp với nuôi cá.

1. Nuôi ếch trong bể xi măng


- Bể có diện tích trung bình 6 - 30m2 (2x3, 2x5, 3x5, 4x6, 5x6m), độ cao 1,2 - 1,5m để tránh ếch nhảy ra. Đáy ao nên có độ nghiêng khoảng 5o để dễ thay nước. Nên che lưới nylon trên bễ để tránh nắng trực tiếp và làm tăng nhiệt độ (có thể sử dụng lưới lan). Không nên che mát hoàn toàn bể nuôi. Mực nước trong ao khống chế ngập 1/2 - 2/3 thân ếch. Nên thường xuyên phun nước tưới ếch nhất là vào lúc trưa nắng.

- Mật độ thả nuôi:


+ Tháng thứ nhất: 150 - 200 con/m2
+ Tháng thứ hai: 100 - 150 con/m2
+ Tháng thứ ba: 80 - 100 con/m2

- Sau khi thả nuôi 7 - 10 ngày phải kiểm tra lựa nuôi riêng những con ếch lớn vượt đàn để tránh sự ăn lẫn nhau. Khi ếch đạt trọng lượng 50 - 60gr sự ăn nhau giảm. Thường xuyên thay nước. Nước thay có thể là nước sông, nước giếng, nước ao nhưng phải đảm bảo sạch. Cho ăn nhiều lần trong ngày:- ếch giống (5 - 100gr): 3 - 4 lần trong ngày. Lượng thức ăn 7 - 10% trọng lượng thân.- ếch lớn (100 - 250gr): 2 - 3 lần/ngày. Lượng thức ăn 3 - 5% trọng lượng thân

- Ếch ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm hơn ban ngày (lượng thức ăn vào chiều tối và ban đêm gấp 2 - 3 lượng thức ăn ban ngày). Định kỳ bổ sung Vitamin C và men tiêu hóa để giúp ếch tăng cường sức khoẻ và tiêu hoá tốt thức ăn. Có thể tận dụng các bể xi măng cũ để nuôi ếch Thái Lan.

- Khi khống chế độ sâu nước 10 - 20cm (không để mực nước quá cao, ếch sẽ ngộp nếu không lên cạn được) phải sử dụng giá thể để ếch lên cạn cư trú. Giá thể cho ếch lên bờ (gỗ, tấm nhựa nổi, bè tre…). Phải bố trí đủ giá thể để tất cả ếch có chổ lên bờ (1/3 - 1/2 diện tích bể). Trường hợp giữ mực nước cao 10 - 20cm có thể không cần phải che bể.

2. Nuôi trong ao đất


- Chuẩn bị ao
+ Ao diện tích từ 30 - 300 mét vuông (4 x 8m; 5 x10m, 10 x 20 m…), ao không quá lớn sẽ khó quản lý. Có thể trãi bạt nylon nếu ao không giữ nước. Thông thường mô hình này được thiết kế theo dạng ao nổi hoặc nửa nổi nữa chìm.
+ Có thể xây tường gạch hoặc dùng lưới, tôn fibro xi măng, phên tre rào chung quanh ao cao 1,0 - 1,2 mét để tránh ếch nhảy ra ngoài.
+ Mực nước ao khống chế 20 - 30 cm, có ống thoát nước tránh chảy tràn. Nên đặt ống cấp và thoát nước riêng biệt ở hai bờ đối diện nhau theo chiều dài của ao.
+ Tạo giá thể cho ếch lên cạn ở (bè tre, gỗ, tấm nilon…). Nên thả lục bình hay rau muống làm nơi cư trú cho ếch. Diện tích gía thể 50% diện tích ao nuôi. Nếu ao có diện tích rộng khoảng vài trăm m2 thì xung quanh nên chừa bờ rộng từ 1,0 – 1,5 m, cao hơn mực nước trong ao khoảng 20cm, trên đó trồng cây che mát để ếch lên ở.

- Mật độ nuôi: Ếch giống nên thả thưa hơn nuôi trong bể xi măng (60 - 80 con /mét vuông là tối ưu trong tháng đầu), nên thả giống loại lớn (100 – 120 con/kg) và tương đối đồng đều để hạn chế hiện tượng ăn nhau, có thể phân cỡ ương dưỡng trước trên bể xi măng rồi mới thả xuống ao nuôi.

- Cho ăn, chăm sóc:
+ Cho ăn thức ăn viên nỗi hoặc thức ăn tự chế biến, giai đoạn ếch giống cho ăn 3-4 lần/ngày và 2-3 lần/ngày đối với ếch lớn (100g trở lên). Thức ăn thả trực tiếp trên gía thể hay trên chỗ cạn cố định trong ao. Lượng thức ăn trong ngày cũng giống như nuôi trong bể xi măng và tùy vào sức ăn thực tế của ếch.
+ Thường xuyên thay nước tránh để nước dơ ếch dễ nhiễm bệnh (2 - 3 ngày/ 1 lần). Chỉ thay 1/3 lượng nước trong ao.
+ Định kỳ xử lý nước trong ao bằng CF – 1.100, Zeolite, Calci – 100 để ổn định Ph, làm sạch môi trường nước và đáy ao.
+ Chú ý kiểm tra, canh phòng thường xuyên các loài địch hại vào ăn ếch (chim, chuột, rắn, mèo, chó, cá dữ…).
+ Nuôi ếch trong ao đất lớn nhanh và ít tốn công chăm sóc hơn nuôi trong bể xi măng, chi phí đầu tư thấp hơn nhưng có nhược điểm:
. Tỉ lệ sống thấp hơn nuôi trong bể xi măng do khó kiểm soát được bệnh, địch hại và lựa ếch vượt đàn.
. Nếu bờ ao không chắc chắn, bị rò rỉ, ếch đào hang để trú ẩn ít ra ăn mồi nên chậm lớn.

3. Nuôi ếch trong giai hay đăng quầng
Thích hợp vùng có ao hồ lớn có thể vừa nuôi ếch kết hợp nuôi cá.

a) Nuôi trong giai


- Giai có kích thước 6 - 50 mét vuông (2x3, 4x5, 5x10m), cao 1 - 1,2 m, làm bằng lưới nylon may kín 5 mặt và phía trên có nắp đậy để tránh ếch nhảy ra ngoài và đề phòng địch hại.

- Giai treo trong ao sao cho đáy vèo ngập nước ngập khoảng 20 – 30 cm.

- Tạo giá thể cho ếch lên cạn cư trú (tấm nylon đục lỗ, bè tre, lục bình…). Tổng diện tích giá thể chiếm 2/3-3/4 diện tích giai. Có thể đặt những tấm xốp phía mặt dưới của đáy để giai nổi lên làm nơi cho ếch lên nghỉ ngơi, tắm nắng và ăn mồi.

- Mật độ nuôi trong giai tương đương nuôi trong bể xi măng (150 - 200 ếch con trong tháng đầu), đến khi thu hoạch còn khoảng 80 – 100con/mét vuông.

- Cho ăn cũng giống như cho ăn trên bể xi măng : rải thẳng vào giai hoặc để trên những miếng nổi (thường áp dụng cho thức ăn tự chế biến).

- Định kỳ xử lý nước trong ao bằng CF – 1.100, Zeolite, Calci – 100 để ổn định pH, làm sạch môi trường nước và đáy ao.

- Chú ý kiểm tra, canh phòng thường xuyên các loài địch hại vào ăn ếch (chuột, rắn, cá dữ…).

b) Nuôi trong đăng, quầng
- Đăng quầng có kích thước lớn hơn giai (100 - 500 mét vuông), dùng lưới nylon hay đăng tre bao quanh một phần diện tích trong ao, bên dưới không có đáy như giai.

- Mật độ nuôi trong đăng quần (20 - 40 con/mét vuông).

- Thả lục bình, bè tre, nylon nổi để làm nơi ếch lên cạn cư trú. Diện tích giá thể ¾ diện tích đăng quầng.

- Chế độ cho ăn, chăm sóc và quả lý nguồn nước giống như nuôi trong giai.

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo Ếch trái vụ

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo Ếch trái vụ


Nuôi ếch trái vụ cho giá bán gấp đôi, nhưng người nuôi vẫn phải thường xuyên “đỏ mắt” tìm con giống bởi ếch chỉ sinh sản được vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 8). Gần đây, với sự tận tụy trong nghề, anh Võ Xuân Hậu - một cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Bà Rịa – Vũng Tàu, đã cho ếch sinh sản trái vụ đáp ứng nhu cầu ếch giống cho bà con nông dân.


- Nhiều người đến cơ sở sản xuất giống ếch của anh Võ Xuân Hậu tại xã Châu Pha (huyện Tân Thành) đã vô cùng ngạc nhiên, bởi vì chỉ sử dụng tám bể lót bạt (2,5m x 4m) nhưng anh đã sản xuất hơn 30.000 con ếch giống trong mỗi đợt (một vụ sản xuất 3 đợt). Hơn 1 năm nay, cơ sở của anh Hậu đã trở thành địa chỉ quen thuộc và tin cậy đối với những nông, ngư dân có nhu cầu nuôi ếch trái vụ.

- Anh Hậu cho biết, nhiều nông, ngư dân rất quan tâm đến ếch, bởi yêu cầu về điều kiện nuôi ếch không quá khó. Ếch có khả năng nuôi được trong ao đất, trong bể xi măng, thậm chí chỉ cần có mặt bằng vài chục mét vuông lót bạt cũng nuôi được. Tuy nhiên, điều làm anh trăn trở nhất đó là các cơ sở sản xuất giống hiện nay chỉ có thể cung ứng được con giống trong mùa mưa, mùa này ếch sinh trưởng rất tốt, nhưng ngặt nỗi người nuôi hay bị lao đao bởi ếch thương phẩm thường xuyên bị rớt giá. Nhiều cơ sở cũng đã sử dụng phương pháp phun nước làm mưa nhân tạo để cho ếch sinh sản trái vụ, nhưng phương pháp này vừa tốn kém vừa không đạt kết quả cao.

- Hiểu được mong muốn của người nuôi cùng với sự tận tụy trong nghề, anh Hậu đã mày mò tìm được cách cho ếch sinh sản nhân tạo bằng phương pháp sử dụng kích dục tố. Với phương pháp này, trước tiên phải nuôi vỗ ếch bố mẹ sao cho vào đến thời điểm tháng 8 - 9 có được sức khỏe sung mãn nhất. Sau đó sử dụng kích dục tố HCG (Human Chorionic Gonadotropin) cùng một số chất dẫn xuất khác để tiêm cho ếch đực và ếch cái. Điều quan trọng nhất là phải chọn thời điểm về đêm để đạt nhiệt độ lý tưởng cho ếch sinh sản (từ 27- 29 độ C) thì kết quả mới cao.

- Khi cho ếch sinh sản trái vụ, việc nuôi nòng nọc thành ếch con cũng là một quy trình rất khó khăn, vì ở thời điểm này môi trường không thuận lợi cho nòng nọc phát triển để thành ếch con, nòng nọc thường xuyên bị “rớt đáy” (chết). Do đó giai đoạn này phải tạo môi trường thật tự nhiên, tốt nhất là sử dụng bèo hoa dâu để ổn định môi trường và nhiệt độ cho nòng nọc phát triển.

- Theo anh Hậu, thời điểm nuôi ếch có khả năng cho giá cao nhất là vào tháng 8 - 9 âm lịch (bắt đầu thả giống). Tuy nhiên, anh Hậu cũng khuyến cáo bà con nông, ngư dân nên cẩn trọng, bởi khi nuôi ở những thời điểm này ếch hay bị các bệnh: Mù mắt, ghẻ và một số bệnh liên quan đến đường tiêu hóa… Nếu gặp phải trường hợp này bà con có thể liên hệ ngay số điện thoại 0989.706192 (gặp anh Võ Xuân Hậu) hay mang mẫu ếch, nước đến bộ phận xét nghiệm của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư để được kiểm tra và tư vấn miễn phí.

- Với sáng kiến cho ếch sinh sản nhân tạo như trên, mỗi vụ anh Hậu đã sản xuất và cung ứng đến hơn 80.000 con ếch giống đáp ứng phần nào nhu cầu của bà con nông dân nuôi ếch trong tỉnh. Đồng thời, anh còn tham gia tích cực trong các hoạt động chuyển giao kỹ thuật về nuôi ếch thương phẩm cũng như sản xuất giống ếch. Những đóng góp trên, vừa qua anh Hậu đã được ngành nông nghiệp tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cải tiến kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn sản xuất có hiệu quả.

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo ếch trái vụ, Nguồn: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu, 28/5/2009.

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

Kinh nghiệm nuôi Ếch Đồng

Kinh nghiệm nuôi Ếch Đồng



Thời gian gần đây, nhiều hộ nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long đã tự mày mò chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng nhằm tạo điều kiện nâng cao thu nhập thêm trong gia đình. Nhiều hộ nông dân chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi cá rô đồng, cá lóc, … bên cạnh một số hộ nông dân lại chọn ếch đồng để nuôi, bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cao và rút ra một ích kinh nghiệm nuôi ếch đồng như sau:

- Thời gian nuôi: Khoảng tháng 4 - 5 dương lịch.

- Diện tích: Ao nuôi diện tích khoảng 1.200 m2.

- Ao chuồng:
+ Ao phải được bao bọc cẩn thận bằng hàng rào tôn.
+ Dùng tôn quây thành hàng rào, xung quanh đào ao vuông, phần giữa ao trồng lúa tạo nguồn thức ăn côn trùng cho ếch. Dưới ao anh thả vài đám bèo lục bình, trên bờ trồng chuối, rau lang làm nơi trú ẩn, tạo bóng mát cho ếch vào mùa nắng.

- Trọng lượng: Ếch tăng trưởng nhanh, sau 4 - 5 tháng đã đạt trọng lượng trung bình 8 - 10 con/kg. Trung bình khoảng 12-15 con/kg.

- Ếch đồng luôn có giá cao, được thị trường ưa chuộng, có giá bán luôn ổn định từ 40.000 - 50.000 đ/kg.

- Nguồn thức ăn của ếch đồng rất phong phú, có nhiều trong tự nhiên như cua, ốc, các loại côn trùng, cá tạp, giun đất và thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm cao... vì thế nuôi ếch đồng không tốn nhiều vốn mà lại cho thu nhập khá cao.

- Cách cho ăn: Cho ăn vào sáng sớm và chiều tối, lượng thức ăn trong ngày bằng 5 – 7% trọng lượng ếch. Thức ăn được rải đều trên các tấm xốp nối trên mặt nước vì vậy cũng dễ kiểm soát lượng thức ăn cho ếch.

- Nếu muốn nuôi tiếp thì cần ương dưỡng con giống, tỷ lệ lấy ví dụ như sau lấy 150 con ếch nái cho đẻ trứng với tỷ lệ ếch đực là 1/10.

- Vấn đề phòng và trị bệnh cho ếch cũng rất đáng quan tâm. Khi môi trường nuôi bị ô nhiễm do nguồn nước bẩn, thức ăn bị thối rữa sẽ làm ếch bị nhiễm bệnh ngoài da, rồi nhiễm trùng sinh ra trướng bụng hoặc lở loét trên da, chúng sẽ bỏ ăn và chết sau vài ngày. Vì vậy cần thường xuyên thay nước cho ếch định kỳ 5 - 7 ngày một lần. Vệ sinh khử trùng toàn bộ khu vực nuôi ếch sau khi thu hoạch và trước khi thả giống bằng cách luân phiên các loại thuốc khử trùng như: Virkon, Oxidan-tca, Han-Iodin, Benkocid… Khi có ếch chết hoặc có triệu chứng bệnh cần loại bỏ ngay ra khỏi ao nuôi. Tránh tiếng động mạnh đột ngột sẽ làm ếch sợ hãi kém ăn, chậm lớn. Đề phòng các dịch hại của ếch như cá dữ, rắn, chuột, mèo.

* Lưu ý: Để nâng cao kinh nghiệm và kỹ thuật nuôi, người nuôi cần tham gia các khóa tập huấn về KHKT thì hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn, khi đó nhiều nông dân tham gia đầu tư nuôi ếch và nguồn thu nhập cho người dân cũng sẽ cao hơn.

Kinh nghiệm nuôi ếch đồng, Nguồn: Tài liệu Việt Nam.

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Video Kỹ thuật nuôi Ếch Thái Lan

Video Kỹ thuật nuôi Ếch Thái Lan


Nhằm cung cấp thêm thông tin cho đọc giả về Kỹ thuật nuôi Ếch Thái Lan chúng tôi xin giới thiệu với đọc giả Video Kỹ thuật nuôi Ếch Thái Lan đến mọi người.



Video Kỹ thuật nuôi Ếch Thái Lan, Nguồn: Khuyến nông Bình Dương.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Kỹ thuật nuôi ếch sinh sản

Kỹ thuật nuôi ếch sinh sản

I-ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐẶC TÍNH SINH SẢN CỦA ẾCH

1- Đặc điểm sinh học


- Ếch là loài sống lưỡng cư, lúc sống dưới nuớc, lúc sống trên cạn, chúng di chuyển dưới nước bằng cách bơi do chi có màng bơi, trên cạn chúng di chuyển bằng cách nhảy, có thể nhảy cao tới 1 m; do đó khi nuôi phải có tường bao chắn.

- Ếch có phổi , nhưng kém họat động, chúng hô hấp chủ yếu qua da, dưới da có nhiều túi chất nhờn, nếu độ ẩm thấp, da khô ếch sẽ chết; do đó ếch sống nơi ẩm ướt, có bóng mát, bụi dậm, khi vận chuyển phải lót bèo lục bình giữ ẩm.



- Đối với ếch đồng, mùa khô ếch sống trong hang để tránh nhiệt độ cao và nắng làm khô da, mùa mưa mới chui ra sinh sản và sinh sống; chúng sinh sản theo mùa.Do đó muốn sinh sản nhân tạo phải tạo môi trường nhân tạo như dùng vòi phun nước vv…

- Mắt ếch kém, chỉ phát hiện các loại mồi sống( mồi động như côn trùng, muỗi vv..), chúng bắt mồi bằng lưỡi, vì vậy khi câu ếch người ta dùng các loại mồi có màu sắc như màu đỏ( dùng đoạn nhựa nylon dài 2cm, rộng 0,2cm, cột vào dây gân để câu ếch con làm giống); tuy nhiên ếch có thể ngửi mùi khá nhạy, vì vậy chúng ta có thể tập cho ếch ăn thức ăn tĩnh( thức ăn tự chế) ếch ngửi mùi để tìm thức ăn.

- Ếch nghe tiếng động rất tinh, vì vậy nơi nuôi ếch phải yên tĩnh, nếu không sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của ếch.

- Ếch ít vận động, nhất là ban ngày, nhưng ban đêm chúng hoạt động nhiều hơn, chủ yếu kiếm ăn vào ban đêm.

- Hoạt động của ếch và nòng nọc chia làm 2 pha trong 1 ngày, đêm:

+ Pha hoạt động bắt đầu khoảng 19 giờ cho đến 5 giờ sáng hôm sau. Cường độ hoạt động cao nhất thường vào lúc 20 giờ đến 23 giờ và giảm dần cho đến sáng.

+ Nòng nọc hoạt động chủ yếu vào ban ngày, mạnh nhất từ lúc 5 giờ đến 9 giờ30 và 16 đến19 giờ. Sự nghỉ ngơi của nòng nọc thể hiện ở chỗ chúng nằm sâu trong ao, bơi lội chậm và tập trung thành từng đám ở gần bờ hoặc ẩn dưới dễ các đám rau, bèo.
2- Tập tính sinh sản và sự phát triển của phôi ếch.

a- Tập tính sinh sản.

- Đầu mùa mưa là mùa sinh sản của ếch, chúng bắt cặp nhau vào khoảng nửa đêm, chúng thụ tinh ngoài, con cái đẻ trứng, con đực ôm con cái và tưới tinh trùng vào trứng, trứng đóng thành đám nhờ lớp màng nhày, vì vậy cá không ăn được trứng ếch.

- Ếch đực khác ếch cái ở các đặc điểm sau: ếch đực có 1 túi kêu dưới má nhỏ bằng hạt bắp, nhăn nheo màu vàng xậm, ếch cái không có túi kêu; ếch đực có chai tay ở ngón tay thứ nhất bàn tay trước như giác bám để ôm ếch cái khi sinh sản; ếch đực đầu nhỏ, bụng thon và trọng lượng nhỏ hơn ếch cái.

- Thời vụ sinh sản: Ếch sinh sản tự nhiên rộ nhất từ tháng 5 đến tháng 8 ; mùa khô ếch thường nghỉ đẻ.

- Số lứa đẻ của ếch cái từ: 2 - 3 lứa/ năm.

- Điều kiện đẻ trứng: Nhiệt độ từ 25 – 300C, sau những trận mưa rào, có hồ nước ngọt.

- Tập tính đẻ trứng:

+ Trước khi giao phối: Từ 2 – 4 đêm trước khi giao phối ếch đực đã cất tiếng " Ộp ộp ẹp ẹp" gọi ếch cái.

+Ếch đực ôm ếch cái ngang ngực. Chúng ôm nhau đến hàng giờ. Sau đó ếch cái phóng trứng, ếch đực phóng tinh dịch( sự thụ tinh ngoài).

+ Trứng thụ tinh có đường kính 2mm. Mỗi trứng có 2 cực: cực động vật màu đen xoay lên phía trên. Cực dinh dưỡng màu trắng ngà xoay xuống phía dưới. Các trứng nằm trong khối chất nhầy phồng trong nước làm thành những màng trong suốt bảo vệ cho trứng khỏi bị những va chạm cơ học, làm cho những động vật khác khó nuốt; cũng như tăng cường độ tụ quang các tia nắng mặt trời làm tăng nhiệt độ bao quanh trứng.

b-Sự phát triển của phôi ếch.

+ Nòng nọc mới nở và giai đoạn mang ngoài:

Khi mới nở nòng nọc ếch chưa hình thành đầy đủ, có đuôi đơn giản, đầu và thân chưa phân biệt rõ, miệng chưa hình thành, chỉ có cơ quan bám hình chữ V hay bán nguyệt, nhờ đó nòng nọc bám vào chất nhầy chung quanh trứng hoặc vào các cây thủy sinh. Sau đó mang ngoài màu đỏ phân nhánh xuất hiện rõ ở hai bên cổ, khi đó chúng bắt đầu bơi lội được như cá nhờ sự phát triển của vây đuôi.

+ Giai đoạn mang trong.

Mang ngoài tiêu biến xuất hiện 2 lớp da phát triển về phía sau che lấp mang ngoài. Sau cùng lớp da đó kết hợp với nhau để lộ ra lỗ thở nằm ở phía bên trái của đầu. Dưới lớp da kể trên, trên các cung mang xuất hiện các lá mang. Vì các lá mang không lộ ra ngoài mà bị che phủ bởi lớp da, nên được gọi là mang trong. Mang trong tồn tại đến giai đoạn cuối của sự biến thái. Cơ quan bám ở giai đoạn này đã tiêu biến và thay thế vào đó là miệng hình phễu có mỏ sừng và nhiều hàng răng nhỏ ở môi gọi là răng môi.

+ Giai đoạn xuất hiện chi sau.

Chi sau thoạt đầu chỉ là mấu lồi ở 2 bên thân phía trước lỗ hậu môn. Sau đó chúng phát triển dần các phần của một chi hoàn chỉnh, thoạt đầu chi sau, khi mới xuất hiện chưa hoạt động. Khoảng một tuần sau chúng mới hoạt động và giúp cho nòng nọc bò được ở trên nền đáy.

+ Giai đoạn xuất hiện chi trước.

Khác với chi sau, chi trước sau khi xuất hiện chúng hoạt động ngay. Nòng nọc ở giai đoạn này có thể bò được lên trên bờ, song chúng vẫn chỉ loanh quanh bên bờ hồ nước. Sự xuất hiện chi trước gắn liền với sự tiêu biến vây đuôi.
II- ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA ẾCH. 1- Đối với ếch.

- Những điều kiện cơ bản quyết định sự sống của ếch là: Khí hậu nóng nhiệt độ thích hợp 25 – 280, độ ẩm không khí cao, ẩm độ thích hợp nhất 80%, có vực nước ngọt.

- Ngưỡng nhiệt độ đối với sự sống của ếch:

+ Nhiệt độ ếch bị tử vong: 0oC

+ Nhiệt độ ếch bị lạnh cóng: 8 - 90oC

+ Nhiệt độ ếch bị tê liệt vì nóng: 400oC

+ Nhiệt độ cao làm ếch bị tử vong: 500oC

- Nồng độ muối trong nước chỉ cần khoảng 1% cũng đủ làm cho nòng nọc và đa số ếch bị tử vong.

2 - Đối với nòng nọc.

- Nhiệt độ nước thay đổi: 25 – 300oC.

- Độ PH 6,8 – 7,5.

- Điều kiện thức ăn đầy đủ.

- Nước không bị ô nhiễm.

III-KỸ THUẬT NUÔI ẾCH THỊT. 1-Chọn địa điểm nuôi.

- Có thể nuôi ếch trong ao hay mương vườn, diện tích từ 50 – 100m2.

- Nơi nuôi ếch phải gần nguồn nước sạch, chủ động cấp và thoát nước.

- Xung quanh ao nuôi ếch phải có tường hay bao chắn cao 1,2m trở lên.

- Bố trí khu vực trong ao có lục bình hay rau muống, chiếm tối đa 1/3 diện tích mặt nước cho ếch trú ẩn khi cần thiết.

2- Thiết kế hồ, ao, mương nuôi ếch.

Hiện nay có 3 dạng nuôi ếch: dạng xây hồ bằng xi măng hay hồ đắp bờ bằng đất phủ bạt xanh nuôi ếch theo kiểu công nghiệp; dạng nuôi ếch trong rèo bằng lưới Nylon như ươm cá giống và dạng nuôi trong ao mương theo kiểu quảng canh cải tiến.

a-Dạng nuôi trong hồ xi măng hay hồ đất.

Xây hồ bằng gạch ống hay đắp bờ bằng đất phủ bạt xanh có chiều rộng khoảng 3 m, dài khoảng 4 m, tường cao 1m; nuôi được 1000con. Trong hồ dùng lưới chia làm 2 – 3 ô để tách ếch lớn nhỏ nuôi riêng nếu không chúng sẽ ăn thịt nhau.

-Hồ có mực nước sâu 0,3 – 0,4m, có van xả nước, để mỗi tuần thay nước khoảng 2 lần.

- Trong hồ làm sàn bằng phên tre hay ván gỗ mỏng hay miếng mút thả nổi trên mặt nước đặt thức ăn vào đó để ếch lên ăn. để ếch có chỗ nhảy lên nghỉ ngơi;

- Treo bóng đèn điện vào ban đêm cách mặt nước khoảng 0,5m để ếch bắt côn trùng.

b-Dạng nuôi trong rèo bằng lưới Nylon

- Dùng loại lưới chỉ xanh hoặc lưới nylon có kích cỡ mắt lưới khoảng 0,5cm càng tốt, may vào nhau như chiếc mùng quay ngược, dài khoảng 4m, rộng khoảng 3m, chiếu sâu khoảng 1,2m. Nuôi được 1.000con. Trong cũng ngăn chia ra làm 2- 3 ô bằng lưới.

- Dùng một miếng mút có kích thước rộng 1m, dài 2m, đặt ở giữa và dưới đáy chiếc rèo trước khi thả xuống ao, để ếch nhảy lên đó ăn và nghỉ ngơi. hai bên võng xuống có độ sâu của nước khoảng 0,3 – 0,4m, để ếch hụp lặn vận động.

- Đóng cọc để cố định rèo cho chắc chắn, lấy dây kìm cột chặt đáy vào các cây cột để gió không làm bay rèo hoặc xáo trộn mạnh ảnh hưởng đến ếch.

- Lúc ếch còn nhỏ trên mặt rèo căng lưới mắt thưa để phòng chống chim bắt ếch con

- Ban đêm cũng treo bóng đèn điện để dẫn dụ côn trùng làm thức ăn cho ếch, treo bóng đèn cao 0,5 m so với mặt nước.

c-Dạng nuôi trong ao, mương vườn.

- Ao có mực nước sâu 0,5 – 1m. Tường hoặc lưới rào phải cách bờ ao một khoảng từ 1- 1,5m, để ếch có chỗ nhảy lên nghỉ ngơi và bắt côn trùng.

- Làm sàn bằng phên tre hay ván gỗ mỏng thả nổi trên mặt nước đặt thức ăn vào đó để ếch lên ăn.

- Trước khi thả ếch giống phải bơm cạn nước ao, sên vét bùn đáy, vệ sinh ao sạch sẽ, gia cố bờ. Sau đó cho nước vào ao với mực nước sâu từ 0,4 – 1m và thả bèo lục bình, rau muống, rau ngổ để vừa tạo bóng mát vừa là nơi chú ẩn cho ếch( bèo chiếm 1/3 diện tích mặt nước).

- Dưới ao có thể nuôi cá trê, rô phi để tận dụng thức ăn thừa và chất thải của ếch.

3- Thả giống.
- Chọn ếch giống cỡ 5 – 10g/con( 100 – 200con/kg), khỏe mạnh ít bị sây sát, không dị tật, tương đối đồng đều.

- Nên chọn mua giống từ những cơ sở nhân giống ếch đã được thuần dưỡng, quen ăn mồi tĩnh chế biến.

- Mật độ thả tùy từng loại ao và điều kiện chăm sóc, có thể thả từ 20 – 30 con/m2.

4- Cho ăn.

- Lúc ếch còn nhỏ lên cho ăn thức ăn công nghiệp dạng viên loại dùng cho cá da trơn có thể là thức ăn của hãng Cargil( Mỹ) hay CP( Thái Lan) loại T503

- Thức ăn có độ đạm giảm dần theo ngày tuổi của ếch. Cụ thể như sau:

+ Ếch từ 1 - 10 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil 40% đạm.

+ Ếch từ 10 - 25 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil 28% đạm.

+ Ếch trên 25 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil 26% đạm.

- Ngoài những loại thức ăn tự nhiên có sẵn trong ao nuôi như côn trùng….Cho ếch ăn thêm thức ăn chế biến như: bột hoặc gạo, cám mịn nấu chín để nguội( 80%) trộn với bột cá hoặc cá tạp, cua, tép, ốc….xay nhỏ( 20%). Có thể trộn thức ăn sống cho ếch ăn, nhưng phải trộn men tiêu hóa vào thức ăn.

- Thức ăn được vãi đều trên tấm nylon hoặc ván gỗ thả nổi trên mặt ao để ở vị trí cố định, gần nơi ếch lên bờ ăn mồi.

- Lượng thức ăn hàng ngày bằng 8 - 10% trọng lượng đàn ếch, cho ăn ngày 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát.

- Vệ sinh sàn ăn sạch sẽ trước khi cho ăn để tránh bệnh đường ruột đối với ếch.

- Để tăng thức ăn cho ếch có thể bố trí đèn để bẫy châu chấu và các loại côn trùng khác, hoặc tạo một ô nuôi trùn Quế làm thức ăn bổ sung cho ếch hay dưới ao thả cá Rô Phi, định kỳ đánh tỉa chế biến làm thức ăn cho ếch.

5-Chăm sóc và quản lý.

- Hàng ngày theo dõi hoạt động của ếch như: sức ăn, mức tăng trọng, khả năng linh hoạt bắt mồi, các dấu hiệu bệnh, chất lượng nước…để xử lý kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra.

- Ếch là đối tượng dễ bị địch hại sát hại như: mèo, chuột, rắn, chim, gà, vịt, lươn, cá lóc vv…vì vậy cần tìm cách tránh các đối tượng này làm hại ếch.

- Kiểm tra thức ăn của ếch hàng ngày để có sự điều chỉnh hợp lý, không để thức ăn dư thừa lãng phí, gây ô nhiễm môi trường nước. Nếu thấy ếch kém ăn phải tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp khắc phục kịp thời.

6- Thu hoạch và vận chuyển ếch.

- Đối với ếch đồng cỡ 5 - 10g/con, nuôi 3 - 4 tháng ếch đồng chỉ đạt trọng lượng 150 - 200g/con; giống ếch xanh của Thái Lan nuôi sau 3,5 – 4 tháng đạt bình quân 0,5kg/con, có thể thu hoạch ếch thương phẩm. Dùng lưới có cỡ mắt lớn( a8 – a15) để thu hoạch ếch. bắt ếch vào sáng sớm hay chiều mát.

- Vận chuyển ếch bằng thùng hay khay cao 20cm, dưới đáy lót bèo lục bình, xung quanh và lắp đậy có lỗ thông khí.

- Trước khi vận chuyển gom ếch lại cho quen với môi trường trật hẹp và ngưng cho ăn.

- Mật độ ếch khi vận chuyển đảm bảo 30 - 50kg/m2 thùng, không để ếch chồng chất lên nhau và phải giữ ẩm độ thích hợp cho ếch.

IV- KỸ THUẬT NUÔI ẾCH SINH SẢN. 1- Thiết kế ao nuôi ếch bố, mẹ.

+ Địa điểm.

Thường ngăn hồ nuôi ếch làm 2 ngăn: một ngăn nuôi ếch bố, một ngăn nuôi ếch mẹ. Thực hiện trước mùa sinh sản 1 tháng.

+ Yêu cầu ngăn nuôi ếch bố, mẹ.

- Có nước ngọt.

- Diện tích ứng với 5 ếch/1m2.

- Có hang trú ẩn( đắp mô đất hay thả miếng mút có ngăn ô hay bên bờ có chỗ đặt những viên ngói úp)

- Có vách ngăn: vách ngăn có thể bằng lưới, có chiều cao khoảng 1m.

2-Bể ương trứng ếch con.

a- Bể ương trứng.

- Bể ương trứng được thành lập tạm thời trong khoảng 10 ngày kể từ khi thả trứng vào. Sau đó bể được dọn đi để không ảnh hưởng đến diện tích.

- Bể ương trứng được xếp bằng những hàng gạch trên nền đất, với diện tích 2 x 0,80 x 0,40m, đáy dốc khoảng 30 để tiện cho việc thay nước. Bể được lót bằng 1 tấm ny lon liền để chứa nước.

- Lượng nước: mực nước trong hồ ương đảm bảo khoảng 0,25 – 0,35m so với đáy bể.

- Thực vật trong bể: thường được thả rong đuôi chó, bẹ chuối được tỉa thành giải làm chỗ bám cho nòng nọc.

b- Bể nuôi nòng nọc.

- Bể nuôi nòng nọc thường có kích thước: 1m x 2,5m, đáy bể bằng đất thịt có hình lòng máng, tạo cho đáy bể có độ sâu khác nhau để nòng nọc tự lựa chọn độ sâu tùy ý thích hợp với nhiệt độ trong ngày. Phủ bạt xanh để giữ nước.

- Hệ thực vật trong ao ương nòng nọc có thả rong đuôi chó hay bèo lục bình với ½ diện tích mặt nước.

- Mật độ nuôi khoảng 2.000 cá thể/1m2

3- Kỹ thuật cho ếch đẻ.

a-Thời vụ cho sinh sản.

Thời vụ sinh sản tự nhiên của ếch bắt đầu khoảng từ tháng 5 đến tháng 8, khi trời mưa.Chúng ta có thể dùng nước phun tạo mưa nhân tạo để cho ếch sinh sản nghịch mùa.

b-Cách chọn ếch bố, mẹ để nuôi thúc cho đẻ.

+ Thời điểm: Dựa vào thời tiết của năm để xác định. Trung bình thời gian tách ếch đực, ếch cái để nuôi thúc khoảng 1 tháng trước khi ếch đẻ.

+ Tiêu chuẩn ếch bố, mẹ: Ngoại hình tốt: da trơn bóng không sây sát. Ếch cái tối thiểu 400g, con đực tối thiểu 300g. Chúng có thể đẻ 2 - 3 đợt /năm. Ếch đẻ đợt 2 cách đợt đầu khoảng 3 tuần.

- Tỉ lệ đực /cái; Nên 2 đực/1cái, hoặc có thể 1 đực/1 cái.

- Mật độ: 2 cặp/m2 hoặc 2 đực+ 1 cái/m2.

c-Cách cho ếch đẻ trong điều kiện tự nhiên.

+ Thời điểm:

- 3 hoặc 4 ngày sau khi thấy ếch đực kêu liên miên, trời mưa, nhiệt độ trung bình từ 25 - 300C.

- Nếu trong những điều kiện kể trên có, nhưng thiếu mưa cần phun nước làm mưa nhân tạo để kích thích ếch đẻ.

- Cần tháo hết nước trong bể và bơm vào nước mới, sạch và trong.

+ Cho ếch đực và cái tiếp xúc với nhau:

- Cho ếch bố mẹ nhịn ăn bữa chiều.

- Mở lưới ngăn 2 ô ếch bố, mẹ đã nuôi thúc.

- Đảm bảo yên tĩnh( không chiếu sáng, không gây tiếng động)

- Về ban đêm, ếch đực ôm ếch cái để giao phối trên bờ bể nước hay khu vực nuôi, giữa các đám bèo lục bình hay rau muống. Khi ếch cái đẻ xong, trứng bám

trên các cây cỏ thủy sinh hoặc nổi trên mặt nước thành từng đám.

4-Kỹ thuật ương trứng, ương nòng nọc và nuôi ếch con.

a- Kỹ thuật ương trứng và nuôi nòng nọc có kiểm soát:

+ Phương thức ương nuôi 1 pha: Trong phương thức này chỉ sử dụng hai hệ thống bể nước: Hệ thống bể nước ếch đẻ trứng( 1). Sau đó trứng được vớt và chuyển vào hệ thống bể nước ương trứng( 2), ở hệ thống ương trứng nòng nọc sẽ hoàn thành sự biến thái.

+ Phương thức ương nuôi 2 pha: Trong phương thức này có 3 hệ thống bể nước được sử dụng: hệ thống bể nước ếch đẻ trứng, hệ thống bể nước ương trứng và hệ thống bể nước ương nòng nọc. Ếch đẻ trứng ở bể nước( 1 ), sáng sớm hôm sau vớt trứng ếch chuyển vào bể nước ương trứng, khi trứng nở và hoàn thành giai đoạn mang trong thì chuyển nòng nọc vào bể nước ương nòng nọc(3). Tại đây nòng nọc sẽ phát triển hết quá trình biến thái



b- Sự đẻ trứng của ếch đồng và cách vớt trứng:

- Chỉ thu lượm trứng có màu đen( trứng có cực động vật xoay lên trên); trứng có màu trắng ngà( cực dinh dưỡng xoay lên trên là trứng ung).

- Hớt cả đám trứng, không chạm vào màng vỏ trứng bằng vợt làm bằng mùng lưới.

- Thao tác nhẹ nhàng đừng để trứng đè lên nhau trong chậu đựng nước, đưa vợt đặt nhẹ vào chậu có nước sạch và nhẹ nhàng lừa cho mảng trứng ếch trôi ra.

*Ương trứng thẳng trong hồ nước hoặc sử dụng giai.

- Giai là dụng cụ để ương trứng thay cho bể ương. Giai được thả xuống hồ nước. Trứng ếch sau khi vớt được chuyển ngay vào giai.

- Cấu tạo giai: giai có kích thước như một cái mùng, để ngửa, có kích thước 1m x 1m x 0,25m, được may bằng tơ tằm hoặc lưới có mắt nhỏ hơn 1mm.

- Cách mắc giai: Cắm 4 cọc xuống bể nước, cách thành hồ khoảng 1m. Cột 4 góc của giai treo vô 4 cọc như chiếc mùng lật ngược. Che mát cho giai.

- Mật độ trứng ương: 10 - 30.000 trứng/m2. Nhiệt độ thích hợp cho trứng nở 25 – 30oC.

- Thời gian trứng nở từ : 7 – 8 giờ.

*Sự phát triển của nòng nọc.

#Giai đoạn mang ngoài:

- Hai bên cổ nòng nọc có mang ngoài màu đỏ phân nhánh. Miệng là giác bám thường bám vào cây cỏ trong nước. Bơi lội kiếm ăn phù du sinh vật, gặm cây cỏ thủy sinh. Giai đọan này kéo dài khoảng 2 – 6 ngày.

- Định kỳ thay nước mỗi ngày một lần( Nếu nuôi trong giai trong hồ nước có diện tích lớn không cần thay nước).

# Giai đoạn mang trong.

- Miệng hình phễu, đuôi phát triển dài. Giai đoạn này kéo dài từ 8 – 11ngày.

- Chăm sóc: cho ăn thức ăn hỗn hợp với mồi động vật bằm nhỏ. Liều lượng 200g/1000 con/ngày.

-Định kỳ thay nước ngày một lần.

# Sự phát triển của nòng nọc trong bể ương nòng nọc.

Sau khi nòng nọc kết thúc xong giai đọan mang trong thì chuyển nòng nọc sang bể nước ương nòng nọc. Mật độ thả 2000 - 3000 cá thể/m2.

# Giai đoạn nòng nọc xuất hiện chi sau:

Chi sau lúc đầu là 2 mấu lồi cơ ở 2 bên thân phía trước hậu môn sau phát triển dần thành 2 chi sau hoàn chỉnh. Nòng nọc có thể bò được ở đáy bể. Giai đoạn chi sau kéo dài 20 – 30 ngày.

# Giai đoạn nòng nọc xuất hiện chi trước và rụng đuôi.

- Chi trước xuất hiện và đuôi ngắn đi, nòng nọc có thể bò lên cạn. - - Giai đoạn chi trước xuất hiện kéo dài 4 – 8 ngày.

- Bắt đầu tập cho nòng nọc ăn thức ăn hỗn hợp, tăng cường cho ăn mồi sống. Liều lượng thức ăn 60g/1000 cá thể/ngày.

- Vệ sinh hàng ngày, thay máng ăn, dọn thức ăn thừa.

- Thường xuyên theo dõi địch hại.

c- Kỹ thuật nuôi ếch con.

- Đặc điểm :ếch con mới nở dài khoảng 44 – 53mm, nặng khoảng 12g( 8 – 20g).

- Chăm sóc: Cần cho ăn nhiều mồi động vật sống hoặc mồi động vật bằm nhỏ phù hợp với cỡ miệng và tiếp tục tập cho ăn thức ăn hỗn hợp.

V- KỸ THUẬT CHO ẾCH ĂN.

1-Đặc điểm về tính ăn của ếch.

Ếch có 2 giai đoạn sống.

+Giai đoạn nòng nọc: Tập tính ăn giống các loài cá ăn tạp( cả thức ăn động vật và thực vật), tuy nhiên ở thời kỳ xuất hiện chi trước, nòng nọc đã có thể lên cạn để bắt mồi.

+Giai đoạn ếch: Có tập tính bắt mồi trên cạn là chủ yếu và dưới nước là thứ yếu. Trong tự nhiên chúng chỉ ăn mồi động( tức động vật sống như sâu, bọ, côn trùng, cua, ốc vv…). Trong nuôi ếch công nghiệp chúng ta có thể tập cho chúng ăn thức ăn tĩnh( thức ăn chế biến, có cả thành phần thực vật)

+ Cách tập cho ếch ăn thức ăn hỗn hợp.

- Thức ăn hỗn hợp và dụng cụ cho ăn:

Thức ăn hỗn hợp có thành phần như sau: Sợi hủ tíu luộc chín cắt thành những đoạn nhỏ dài 1cm( 50%) + cá tươi nghiền nhỏ(50%), tạo thành từng cục hình chóp đường kính 3 cm, đường cao 3cm, hoặc vo viên tròn bằng đầu ngón chân cái.

- Cách cho ăn:

*Đối với nòng nọc đã xuất hiện 2 chi trước: Để thức ăn hỗn hợp đã nặn thành khối. Mỗi tấm ván để 2 khối. Các ván thả xuống bể nuôi nòng nọc và thả xuống nước sát bờ.

*Đối với ếch con đã rụng đuôi: Thực hiện như trên, song chỉ thả ván ăn xuống nước sát thành bể nước.

Khối thức ăn hỗn hợp hấp dẫn ruồi đến, nòng nọc, ếch và ếch con đớp mồi, đồng thời đớp thức ăn hỗn hợp.. Kết quả thực nghiệm cho thấy nòng nọc ếch và ếch con nhảy lên ván ăn. Có khi trên một ván ăn có vài con ếch con hoặc nòng nọc cùng đớp mồi và đớp cả vào nhau. Mặt khác nòng nọc vốn quen ăn mồi tĩnh, nên ruồi chỉ là yếu tố kết hợp.

Việc luyện cho ếch trưởng thành ăn thức ăn hỗn hợp cũng tiến hành theo phương pháp tương tự, nhưng ít kết quả hơn nhiều so với việc tập luyện nòng nọc từ khi chúng mới xuất hiện 2 chi trước.

2-Kỹ thuật cho nòng nọc ăn.

+ Dụng cụ cho ăn:

Dụng cụ cho ăn được sử dụng nhằm hạn chế tối đa sự ô nhiễm môi trường nước do thức ăn thừa. Các dụng cụ bao gồm: các khay, chậu có thành thấp khoảng 3cm, cột dây 4 góc thả xuống nước.

Máng ăn được làm bằng gỗ có chiều rộng khoảng 20 – 30cm, thành cao khoảng 10cm, ngăn làm nhiều ngăn và dựng nghiêng xuống bể nuôi

+ Phương thức cho ăn:

*Nòng nọc từ ngày tuổi thứ 4 đến thứ 8 cho ăn lòng đỏ trứng vịt luộc chín bóp nát.

-Cách cho ăn: Vãi lòng đỏ trứng vịt bóp nát xuống nước ở 2 bên bờ trong ngày đầu. Từ ngày thứ 2 trở đi để vào khay ăn hoặc sàn ăn trong nước. Nếu cho ăn 2 bữa mỗi ngày: bữa sáng vào 6giờ30 và bữa chiều vào 1giờ. Liều lượng 150g/1m2/ngày

*Nòng nọc cho đến hết giai đoạn mang trong:

- Thức ăn: Mồi động vật bằm nhỏ và thức ăn hỗn hợp.

- Cách cho ăn: để thức ăn vào khay hoặc sàn. Khay thức ăn hoặc máng hay sàn cho ăn như trên.

- Thời điểm cho ăn:6 giờ30 và 1giờ

*Nòng nọc cho đến hết giai đoạn xuất hiện chi sau:

- Thức ăn: Mồi động vật bằm nhỏ và thức ăn hỗn hợp.

- Cách cho ăn: Như trường hợp nòng nọc ở giai đoạn mang trong, song có một số thức ăn đặt ở dưới đáy bể nước vì lúc này nòng nọc đã có chi sau có thể bò được ở đáy. Thời điểm cho ăn:6 giờ30 và 17giờ. Số lượng 250g/1000 cá thể/ngày.

*Nòng nọc từ giai đoạn xuất hiện chi trước đến khi thành ếch con.

- Thức ăn: Mồi động vật bằm nhỏ và thức ăn hỗn hợp.

- Cách cho ăn: Tập cho chúng ăn thức ăn hỗn hợp như đã trình bày ở trên.

- Thời điểm cho ăn: giờ30 và 17 giờ

3- Kỹ thuật cho ếch con ăn.

+ Thức ăn: Mồi động vật và thức ăn hỗn hợp.

+ Cách cho ăn:

Để mồi động vật và thức ăn hỗn hợp vào khay, các khay để trên bờ cách mé nước chừng 0,5 – 2m. Ban đêm bật đèn để thu hút sâu bọ, đèn để cách mặt ván ăn khoảng 0,5m, cách thành bể nuôi từ 3 - 4 tấc.

VI-MỘT SỐ BỆNH CỦA ẾCH VÀ CÁCH PHÒNG, TRỊ.

Phần lớn bệnh của ếch đều do sai xót kỹ thuật trong khi nuôi ,chăm sóc không đúng kỹ thuật, không hiểu biết tường tận phương pháp nuôi, không đáp ứng đủ các yêu cầu của ếch cần có. Cụ thể ếch bị bệnh là do: thời tiết thay đổi lạnh dưới 20C0, mưa dầm nước mưa trong hồ nhiều, nuôi mật độ dầy, hồ nuôi đáy không láng, chưa rửa sạch chất vôi, không diệt sạch mầm bệnh hồ nuôi khi nuôi lại, nước bị xấu không ổn định ,không thay nước và thay nước không đúng kỹ thuật, chỗ nuôi ếch ồn ào không thích hợp, thức ăn hư ,cũ mốc không tươi, không đủ chất lượng, cách cho ăn không thích hợp và cho ăn quá nhiều.

1/-BỆNH ĐỎ CHÂN:
- Nguyên nhân : phát sinh do vi khuẩn Becteria ,Aeromonas hydrophilla.

- Hiện tượng : ếch biểu hiện tình trạng buồn rầu, di chuyển chậm chạp, không quan tâm đến môi trường xung quanh, không ăn hay ít ăn, biểu hiện có những vết chấm đỏ trên chân, vùng da dưới bụng và mẩn đỏ khắp mình, chân bị sưng, gốc đùi có màu đò. Khi mổ bụng có tình trạng chảy máu trong và có nước trong ổ bụng, gan có màu đỏ và đọng máu.

- Cách điều trị : chỉ trị được lúc ếch mới phát bệnh không quá nặng ,khi ếch bị qúa nặng thì việc chữa trị không có hiệu quả, có thể dùng kháng sinh Enrofloxaxin 2 - 3g/1kg thức ăn cho ăn liên tục 3 -7 ngày hay oxytetraciline 3-5g/kg thức ăn cho ăn liên tục 7-10 ngày . Ngâm ếch trong dung dịch thuốc tím nồng độ 5 -8ppm (5-8gr/1m3 nước ) từ 10 -15 phút để diệt vi khuẩn gây bệnh có trong nước hồ nuôi xâm nhập vào da ếch, xử lý diệt trùng hồ nuôi ngay , khi chữa bệnh giảm 50% lượng thức ăn xuống .

- Phòng bệnh: Phòng tốt nhất là quản lý chất lượng nước luôn luôn sạch,có chế độ thay nước thường xuyên và không nuôi với mật độ quá dầy

2/-VIÊM ĐƯỜNG TIÊU HÓA DO VI KHUẨN

- Nguyên nhân : nhiễm vi khuẩn protosua

- Biểu hiện: ếch biếng ăn ,gầy ốm đôi khi có hiện tượng sình trương bụng

- Trị bệnh: dùng Metronidazole liều lượng 2-3 g/1kg thức ăn cho ăn liên tục trong 2-3 ngày và xử lý nước thường xuyên để giảm lượng vi khuẩn có trong bể, vệ sinh sạch hồ nuôi .

3/-BỆNH THÂN XANH VÀNG

- Nguyên nhân: Bệnh phát sinh từ nước cónồng độ Axit cao, pH 4,5 – 5,7

- Biểu hiện: Màu da ếch trở nên vàng tái và đôi chổ da ếch bị bung ra có thể thấy quầng màu trắng thành từng vùng trên khắp thân ếch.

- Trị bệnh: Điều chỉnh độ pH trong nước duy trì ở mức trên 6,8 hay gần 7 là tốt nhất, dùng vôi bột trắng hòa tan trong nước điều chỉnh cho phù hợp, nên kiểm tra độ pH của nước trước khi cho vào bể nuôi và duy trì độ pH trong nước nuôi luôn ổn định.

4/.BỆNH BERTERIA :

- Nguyên nhân : Do nước dơ bẩn sinh ra lọai vi khuẩn gây bệnh này.

- Hiện tượng : Làm cho ếch ốm yếu đi, da bị lở loét, mầm bệnh lây lan từ con này qua con khác.

- Trị bệnh: Làm vệ sinh hồ nuôi, thay nước thường xuyên, cho ăn thức ăn trộn Oxytetraciline 2 – 3 gr/kg thức ăn cho ăn liên tục 7 ngày.

5/. BỆNH SÁN LẢI:

- Nguyên nhân : Do 03 lọai sán lá, sán sơ mít và giun đũa.

- Biểu hiện: Ếch ăn nhiều nhưng lớn chậm, sau đó biếng ăn rồi chết.

- Trị bệnh : Dùng thuốc sổ lải Pepracin trộn với thức ăn ( 0,1% trọng lượng thức ăn )

6/ BỆNH GHẺ :

- Nguyên nhân : Bệnh này xảy ra ở các lứa tuổi của ếch do bị kiến cắn sinh mụn hoặc do ếch hoảng sợ nhảy gây ra vết thương.

- Hiện tượng : Thân hình ếch có các vết lở loét, ếch đau nhức, biếng ăn, dẫn đến kiệt sức và chết.

- Trị bệnh: Cách ly ếch bệnh riêng dùng thuốc xức lên chỗ loét nhiều lần trong ngày cho đến khi lành bệnh, tìm diệt các ổ kiến chung quanh và trộn O xytetracyline 3 –5 gr vào thức ăn trong 3 – 5 ngày.

7. BỆNH SÌNH BỤNG, THỨC ĂN KHÔNG TIÊU VÀ VIÊM RUỘT :

- Nguyên nhân : Thức ăn không tiêu, ếch ăn quá nhiều, hoặc thức ăn bị ôi chua.

- Hiện tượng : bụng ếch bị trương phình ếch nằm yên một chỗ, một vài con ruột lịi ra ở lỗ hậu môn, ruột sưng và mỏng, bên trong có dịch lỏng trong lẫn với cặn thức ăn không tiêu và có mùi thối.

- Trị bệnh: Ngưng cho ăn một hai ngày hoặc giảm lượng thức ăn xuống, làm vệ sinh sàn ăn, tăng độ tươi sống của thức ăn, trộn thức ăn với thuốc kháng sinh như: Oxytetraciline 2-3g/kg thức ăn hay Enrrofloxaxin 3 g/kg thức ăn cho ăn trong 7 ngày.

8/. CÁC BỆNH KHÔNG TRỊ ĐƯỢC NHƯ: MẮT TRẮNG, MẮT MÙ, CỔ VẸO VÀ QUAY CUỒNG :

- Nguyên nhân: chưa biết rõ nhưng thường thấy ở những con ếch bị nhiễm Bactheria.

- Biểu hiện: Đặc điểm mắt trắng, đục mù, viêm sưng vùng mắt, có mủ ở mí mắt, có hiện tượng thần kinh thường nằm ngửa bụng thể hiện tình trạng quay cuồng, cổ vẹo, lưu ý những bệnh này thường có ở ếch từ 50 con/kg trở lên và cần phân biệt khi ếch bị xót mắt ngộ độc do hàm lượng vôi trong hồ cao mắt bị màng mờ trắng và thân mình nằm bơi nghêng, trường hợp này nhanh chóng cho nuôi trong nước sạch và rửa hồ ngay.

- Trị bệnh: để giảm bớt sự lây lan của bệnh bằng cách cách ly con bị bệnh ra riêng, khử trùng hồ nuôi bằng thuốc tím 4 – 6 g /m3 nước, tạt khắp nơi trong bể liên tiếp trong 3-4 ngày, hòa trộn thuốc kháng sinh với thức ăn để đề phòng vi khuẩn xâm nhập.

-Phòng bệnh : Nên tránh mua ếch bố mẹ, ếch giống từ các trại có quá khứ đã xảy ra bệnh này đem về nhân giống hay nuôi và nên tổ chức quản lý trại cho tốt.

9/. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH TỔNG HỢP.

* Chất lượng ếch giống : Nên nuôi ếch giống cỡ 100 – 200 con/kg, trọng lượng từ 6 – 10 g/con nuôi cỡ 400 – 500 con/kg hao hụt rất cao 30 –40% do chúng cắn sát hại lẫn nhau, ngay trong cùng một lứa, cùng một bố mẹ chỉ có 60 – 70% ếch con có tiêu chuẩn làm giống, còn 30 – 40% các con còn lại chậm lớn còi cọc, những trại uy tín thường lọai bỏ những con ếch này không bán cho người nuôi.
Một điều rất cần được lưu ý là ếch lai, sau khi nhân giống vài đời, tình trạng đồng huyết rất mạnh và các gen xấu tiềm ẩn được trỗi dậy khiến ếch dễ bị bệnh, không lớn.

* Môi trường nước nuôi tốt không bị ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, không nhiễm phèn, nhiễm mặn, nhiễm chất thải công nghiệp….Trong suốt quá trình nuôi phải quản lý kiểm sóat chất lượng nuớc thường xuyên và xử lý nhanh chóng kịp thời khi phát hiện tình trạng nước xấu đi.

* Cách chăm sóc quản lý trong thời gian nuôi.

* Làm sạch sẽ và vệ sinh thu dọn hết chất thải thức ăn dư thừa

*Ngăn ngừa phòng chống bệnh bằng một số thuốc sát khuẩn như sulfat đồng, thuốc tím …hòa tan trong nước nuôi ếch mỗi tuần một lần để diệt khuẩn trong hồ nuôi và mỗi ngày nên ngâm thức ăn 10 -15 phút và trộn với men vi sinh tiêu hóa, sinh tố, mỗi tuần 2 lần nên trộn thức ăn với sorbitol thuốc giải độc mát gan cho ếch, cố gắn làm thành hồ đáy hồ láng không làm trầy xước thân mình ếch và dùng Oxytetraciline chữa bệnh này .

VII- HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI ẾCH.

Qua kinh nghiệm của nhiều hộ nuôi ếch cho biết nuôi ếch theo phương thức công nghiệp trong bể xi măng nếu cứ đầu tư 1,3 - 1,4 kg thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh đảm bảo chất lượng( giá 8.000đ/kg, với hàm lượng đạm 40%) ta thu được 1 kg ếch sống, tương đương 25.000 - 30.000đ, giá thành 1 kg ếch 13.000đ -15.000đ( tùy nguồn thức ăn); như vậy cứ mỗi kg ếch thịt lãi khoảng 15.000đ – 18.000đ. Thời gian thu hoạch sau 3 – 4 tháng nuôi( 250 – 300gam/con). Chi phí phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thức ăn và tỷ lệ sống của ếch. Nếu nuôi quảng canh cải tiến lợi nhuận có thể còn cao hơn.

Kỹ thuật nuôi ếch sinh sản

TS.Nguyễn Xuân Khoa

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bạc Liêu

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Mô hình nuôi Ếch làm giàu

Mô hình nuôi Ếch làm giàu


Mỗi năm xuất bán khỏang 17 tấn ếch thịt và 50 ngàn con ếch giống mang thu nhập cho gia đình vài trăm triệu đồng, đó là mô hình làm kinh tế giỏi của ông Nguyễn Văn Thoãng( còn gọi là Tư Thõang ) , ấp An Hòa xã Long Thới, huyện Chợ Lách. Để có được kết quả như hôm nay bản thân ông Tư Thõang cũng trải qua nhiều khó khăn thử thách.

- Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, tham gia bộ đội nhưng chẳng mai bị thương tật, trở về cuộc sống đời thường là thương hạng ¾ nhưng ông không buông xuôi số phận, vươn lên phát triển kinh tế gia đình bằng chính sức lao động của mình từ mô hình nuôi ếch.

- Khởi nghiệp đầu tiên của gia đình là từ 1.000 con ếch, được mua tại tỉnh Vĩnh Long cách nay 5 năm, do mới nuôi lần đầu chưa có kinh nghiệm nên tỷ lệ thất thóat khá cao khỏang 40%. Học hỏi mô hình nuôi ếch giống trên các phương tiện truyền thông đại chúng, sẳn có đàn ếch tại gia đình khỏang 600 con, ông tìm trong đó được 20 con ếch cái tốt chừa lại để giống, đồng thời đến tỉnh Tiền Giang mua thêm 20 ếch đực được lai tạo từ ếch đồng mang về cho phối giống và cứ thế ếch tiếp tục nhân ếch, đến nay đàn ếch giống của ông nhân lên rất nhiều có khỏang 300 con ếch cái, 300 con ếch đực và hàng tấn ếch thịt chưa xuất chuồng.

- Ông Tư Thõang cho biết một con ếch con khi được sinh ra đến khi trưởng thành phối giống có thể sinh sản nuôi khỏang 12 tháng, và ếch thịt nuôi 4 tháng là có thể xuất bán. Mỗi năm gia đình ông Tư Thoãng xuất bán khỏang 17 tấn ếch thịt và 50 ngàn con ếch giống, giá ếch giống bán từ 1.200 – 1.500đ/con từ khi mới sinh ra đến 40 ngày tuổi. Sau khi trừ chi phí còn lãi trên 300 triệu đồng trên năm.

- Ông Tư tâm sự khi mới tham gia mô hình nuôi ếch, gia đình cũng gặp nhiều khó khăn trong vấn đề kiến thức khoa học kỹ thuật, dần dần tích góp lại kinh nghiệm từ các mô hình trong sách, báo, nghe đài và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân đã giúp cho mô hình nuôi ếch đạt được hiệu quả, đặc biệt là trong vấn đề nuôi ếch giống. Ông Tư cho biết “ Để cho ếch sinh sản tốt, trước tiên cần phải chọn con ếch khỏe mạnh, dài, thì ếch đẻ con mới say, trung bình một con ếch đẻ một năm 3 lần, mỗi lần khoảng 300 - 500 con, Muốn ếch đẻ say ngòai thức ăn dạng viên còn bổ sung thêm cá”.

- Đối với ếch thịt, nếu không có kinh nghiệm sẽ không được thị trường ưa chuộng, vì con ếch thịt nuôi không đủ ngày tháng hay thức ăn thừa đạm cũng dễ làm cho thịt ếch không giai, bở và có mùi tanh. Vì thế để đáp ứng được thị trường vấn đề quan trọng là thức ăn, gia đình sử dụng thức ăn cho ếch dạng viên nổi 30% đạm. Nuôi trong thời gian 4 tháng là xuất bán nếu thiếu ngày làm cho thịt ếch bị bở.

- Khi cho ếch ăn cần phải phân cử, nếu ếch còn nhỏ khỏang 35 - 40 ngày tuổi cho ăn 3 cử/ngày, khi ếch được 70 ngày tuổi thì cho ăn 2 cử và giảm dần đến khi ếch chuẩn bị xuất chuồng chỉ cho ăn 1 ngày 1 cử vào lúc chiều tối. Trung bình 1con ếch được nuôi đúng thời gian, thức ăn đảm bảo đạt trọng lượng từ 3 - 5 con/ký.

- Ngòai thức ăn được xem là quan trọng đối với ếch, thì vấn đề chuồng trại cũng được ông Tư Thoãng quan tâm hàng đầu, nếu chuồng trại không đảm bảo sạch sẽ dễ gây bệnh cho ếch, một số bệnh mà ếch thường gặp là bệnh ghẻ, mù mắt. Nguyên nhân để xảy ra bệnh ghẻ, mù mắt trên ếch là do vệ sinh nguồn nước không sạch. Để phòng chống những bệnh này, ông vệ sinh chuồng trại và thay nước mỗi ngày, nước thì được bơm từ ao hồ qua hệ thống lắng lọc mới bơm vào ao bạc nuôi ếch và khi xả nước thảy ra ngòai, được ông xử lý vào túi biogas thể tích 12 mét khối dùng làm nguyên liệu khí đốt trong gia đình.

- Ông Tư Thõang không nuôi ếch dưới ao hồ mà nuôi chúng trên bồn bạc nằm trên mặt đất, diện tích khỏang 4 mét vuông, nuôi từ 1.500 – 2.000 con/bồn , hiện tại ông có 25 bồn bạc, nuôi ếch lớn nhỏ khác nhau. Sở dĩ ông nuôi ếch trong bồn bạc mà không nuôi dưới ao hồ, nguyên nhân là vì nuôi trong bồn bạc thuận lợi hơn nhiều so với nuôi ao trong việc vệ sinh, xử lý nguồn nước và tỷ lệ hao hụt ít hơn so nuôi trong ao hồ.

- Hiện nay các địa phương trong và ngòai tỉnh đều có mô hình nuôi ếch công nghiệp, vào vụ thuận giá ếch bán không cao khỏang 35.000 đồng/ký, nhưng vụ nghịch thì 50.000 – 60.000 đồng/ký. Do đó, để tránh đụng hàng dội chợ, ông Tư Thoãng thường xử lý cho ếch sinh sản vào vụ nghịch. Khoảng tháng 6 - 7 âm lịch cho ếch phối giống đến tháng 11 - 12 âm lịch trở về sau bán ếch thịt.

- Ông Tư Thoãng cho biết, ếch là lòai động vật rất dễ nuôi không tốn nhiều công chăm sóc nhưng hiệu quả rất cao. Hiện nay gia đình đã mở trại cung cấp con giống cho bà con có nhu cầu nuôi ếch. Hướng tới ông sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình này, ngòai tiếp tục cung cấp con giống, gia đình còn mở rộng cơ sở cung cấp thức ăn cho ếch, hướng dẫn bà con về kỹ thuật nuôi ếch, đồng thời sẽ thu mua lại ếch thịt của bà con sau khi mua con giống từ cở sở của ông.

Mô hình nuôi Ếch làm giàu , Nguồn: Đài truyền thanh Chợ Lách – Bến Tre.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Một số bệnh thường gặp ở ếch và cách phòng trị

Ếch bị bệnh

Một số bệnh thường gặp ở ếch và cách phòng trị


Ếch là loài đặc sản, có giá trị dinh dưỡng cao. Để đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, hiện nay ếch được nuôi nhiều với các hình thức rất đa dạng như nuôi trong ao, trong bể ximăng, trong giai…đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và trở thành một đối tượng có triển vọng xuất khẩu cần được phát triển. Tuy nhiên, cũng như các loài thủy sản khác, trong quá trình nuôi vẫn không sao tránh khỏi bệnh có thể xảy ra. Với những thông tin sau đây với mong muốn giúp người nuôi giảm thiểu tổn thất do bệnh trong quá trình nuôi.

Ếch bị bệnh
1. Phòng bệnh

- Vệ sinh và tẩy trùng ao, vườn trước khi nuôi bằng vôi

- Ðảm bảo nguồn nước sạch và giữ được vệ sinh khu nuôi ếch; nước ao nuôi không bị chua, thối đục, không có hoá chất độc.

- Kiểm tra ếch giống khi mua về, có thể tắm nước muối ăn 3%; nếu con nào bị chết phải loại bỏ ra ngay.

- Ðảm bảo số và chất lượng thức ăn trong từng giai đoạn phát triển của nòng nọc và ếch;

- Không khuấy động làm ếch giật mình căng thẳng. Cho ăn thức ăn tươi, sạch. Có bóng mát che nắng, chống nóng. Chú ý không để chim chuột ăn thịt ếch..

- Thường xuyên vệ sinh, tẩy trùng dụng cụ cho ăn, sàn ăn.

- Không để xảy ra dịch bệnh.

2. Trị một số bệnh thường gặp

Nguyên nhân gây bệnh cho ếch thường là do ếch ốm yếu, môi trường nuôi nhiễm bẩn, ếch rất dễ bị bệnh ngoài da, sau đó nhiễm trùng dẫn đến ếch bị trướng bụng, da tái đi, không ăn và chết.

2.1. Bệnh trướng hơi:

* Dấu hiệu thường thấy ở nòng nọc, bụng trướng to và ngửa bụng lên mặt nước, bệnh này do nước thối bẩn, thức ăn ươn thối.

* Phải tháo hết nước trong bể, vớt nòng nọc thả vào chậu chứa khoảng 5 lít nước hoà với 3 lọ Penicillin loại 1 triệu đơn vị, ngâm tắm nòng nọc trong 30 phút rồi thả vào bể đã làm vệ sinh, thay nước mới. Cũng có thể tắm bằng Sunfat đồng (CuSO4 ) nồng độ 5 phần triệu hoặc nước muối ăn 3% trong 10 phút.

2.2.Bệnh đường ruột (bệnh kiết lỵ):

* Dấu hiệu thường thấy là ếch bài tiết ra phân trắng và phân sống. Khi bị bệnh hậu môn đỏ, bóp hậu môn thấy máu chảy ra.

* Dùng một viên Ganidan/1.000-3.000 con/ngày ( hoặc 1 viên/1kg thức ăn), trộn vào thức ăn liên tục trong 3-4 ngày. Khi nòng nọc bị bệnh phải giảm lượng thức ăn xuống còn 50% lượng thức ăn hàng ngày.

2.3. Bệnh đốm đỏ đùi:

*Bệnh do vi khuẩn gây nên. Ở đùi ếch có những đốm đỏ, sau vài ngày không chữa kịp thời sẽ bị lở loét. Bệnh thường thấy ở ếch giống.

*Khi phát hiện bệnh, trước hết phải thay nước, nếu không hiệu quả phải dùng thuốc Sunfat đồng phun xuống ao và vườn. Liều lượng 1,5g/m3. Bệnh này rất dễ lây lan do đó cần có biện pháp đề phòng lây lan thành dịch.

2.4. Bệnh trùng bánh xe:

*Ký sinh ở da nòng nọc, khi trời nóng, gió đông thường xảy ra bệnh này. Khi có trùng ký sinh, da ếch tiết ra nhiều dịch nhờn, tạo nên những điểm màu trắng bạc.

* Dùng sunfat đồng liều lượng 2-3g/m3 nước phun toàn ao, hoặc tắm cho ếch với liều lượng 5-7g/m3 trong vòng 10-15 phút, hay tắm trong nước muối 2-3% trong vòng 10-15 phút.

Nguồn: Bản tin Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long - AG, 5/12/2006

Ếch bị bệnh