Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôm Càng Xanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôm Càng Xanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Mô hình ương tôm Càng Xanh giống trên bể bạt hiệu quả

Mô hình ương tôm Càng Xanh giống trên bể bạt hiệu quả


Mô hình ương tôm càng xanh giống trên bể bạt hiệu quả by Sở NNBT | Mo hinh uong tom cang xanh giong tren be bat hieu qua

Trong những năm gần đây phong trào nuôi tôm càng xanh phát triển mạnh và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều nông dân. Nhận thấy nhiều nông dân đầu tư nuôi tôm càng xanh ngày càng nhiều do đó nhu cầu về con giống là rất cần thiết nên nhiều năm nay anh Anh Nguyễn Kỳ Viên ở ấp An Hòa xã An Thạnh huyện Mỏ Cày Nam đã tìm hiểu học hỏi và ương thành công tôm giống trong bể bạt phục vụ nguồn con giống cho bà con nuôi tôm tại địa phương.
 
- Trong khoảng 5 năm về trước thông qua lớp tập huấn khuyến nông, khuyến ngư và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình ương các loài thủy sản trong và ngoài huyện. Anh Viên đã bắt đầu thử nghiệm làm vèo ương tôm giống. Đã 5 năm kinh nghiệm trong thực hiện quy trình ương tôm giống, anh Viên trở thành chủ cơ sở sản xuất tôm giống cung cấp giống cho những hộ nuôi tôm trên địa bàn huyện.

- Anh Viên cho biết: trước đây, anh ương tôm giống trong vèo lưới nhưng qua nhiều năm thực hiện anh thấy đạt hiệu quả không cao và khó khăn trong khâu chăm sóc. Anh ương 6 vèo lưới, mỗi vèo có diện tích 8 m2 với 80.000 con tôm post. Do ương ở vèo ảnh hưởng bởi nguồn nước khó kiểm soát nên tỷ lệ tôm hao hụt cao, tỷ lệ sống chỉ đạt từ 60 - 70%. Lợi nhuận không khá, khoảng 2 năm sau, anh tiến hành đào ao chuyển sang mô hình ương tôm giống trong bể bạt. Vụ đầu anh ương thành công và thời gian sau anh chuyển hoàn toàn các vèo lưới sang nuôi trong 3 bể bạt với diện tích 70 m2 mỗi ao. Sau khi cải tạo ao đất, anh Viên mua tôm post từ các trại giống về thả ương.

- Chia sẻ kĩ thuật ương tôm giống, anh Viên cho biết: “Ban đầu khi mua tôm post về ương, tôi đã không thả trực tiếp xuống bể mà cho vào một cái thao nhỏ thả tôm post vào thao sau đó cho nước vào từ từ nhằm hạ độ mặn và điều hòa nhiệt độ, tránh tôm khi thả trực tiếp xuống nguồn nước nhằm làm thuần nhiệt và độ mặn tránh tôm bị sốc khi thả thẳng ra môi trường nước ngọt.

- Theo anh Viên, kĩ thuật ương tôm giống tương đối dễ. Mật độ thả nuôi 1000 con/m2, trong bể nuôi cần thả vài tàu lá dừa làm giá thể cho tôm con trú ngụ. Tôm con chỉ ăn thức ăn công nghiệp, mỗi ngày anh cho tôm ăn 5 lần. Cứ cách 4 giờ anh tiến hành cho tôm ăn một lần. Trong suốt thời gian nuôi trong khoảng 2 tuần đầu anh không thay nước nhằm giữ màu nước ổn định, tôm mới thả ra môi trường tự nhiên tránh cho tôm khỏi bị động nước. Ở những lần sau cứ mỗi tuần anh thay nước hai lần đảm bảo nguồn nước sạch cho tôm phát triển và giảm rủi ro tôm chết do nguồn nước bị ô nhiễm.

- Anh đầu tư 3 bể bạt, mỗi bể có diện tích 70 m2, chi phí đầu ao và cả con giống khoảng 8 triệu đồng mỗi bể. Khi mua tôm post giá chỉ 160 đồng/con, qua thời gian nuôi dưỡng, sau 30 ngày ương tôm đạt trọng lượng 3cm/con. Thị trường tiêu thụ tôm giống rất thuận lợi. Giá tôm giống hiện nay từ 600 - 800 đồng/con. Mỗi năm anh tiến hành ương từ 3 đến 4 vụ. Mỗi năm anh xuất bán từ 120.000 - 150.000 con tôm giống chủ yếu cung cấp tôm giống cho các hộ nuôi tôm trên địa bàn huyện. Sau thu hoạch anh lãi từ 50 - 60 triệu đồng mỗi năm.

- So sánh hiệu quả từ ương tôm giống trong vèo lưới và trong bể bạt anh Viên cho biết: Nuôi trong bể bạt tỷ lệ sống đạt cao hơn so với ương trong vèo lưới. Nuôi trong bể bạt tỷ lệ tôm sống đạt từ 85 - 90%. Để đạt hiệu quả cao, bể nuôi cần đảm bảo nguồn nước phải sạch. Trước khi thả tôm post anh xử lí nước bằng clor hoặc thuốc tím để diệt đi mầm bệnh trong nguồn nước nhằm giảm tỷ lệ hao hụt tôm giống.

- Nhạy bén trong sản xuất, ham học hỏi kinh nghiệm, thành công từ mô hình ương tôm giống trong bể bạt anh Viên phấn khởi nói: “ương tôm giống trong bể bạt không phải tốn nhiều diện tích đất, nông dân có thể làm kinh tế hiệu quả, lợi nhuận thu nhập tương đối khá. Nhiều năm qua gia đình tôi khá lên nhờ mô hình này”.

- Hiện nay, phong trào nuôi tôm càng xanh trong mương vườn phát triển mạnh, hiện ngành nông nghiệp huyện đang khuyến khích người dân nuôi tôm càng xanh xen canh trong mương vườn góp phần tăng thêm thu nhập. Thành công từ mô hình ương tôm giống của anh Viên sẽ góp phần tạo ra nguồn tôm giống tại chỗ đáp ứng nhu cầu nuôi tôm của người dân địa phương.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật


Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật by TTKNQG | An Do giam xuat khau tom sang Nhat

Động thái bất ngờ của Cơ quan An toàn thực phẩm Nhật Bản yêu cầu bắt buộc phải kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ đã làm giảm hẳn lượng tôm mà Nhật nhập khẩu từ các bang ở Ấn Độ như Andhra Pradesh và Orissa.
 
- Nhiều hộ nuôi tôm ở hai bang trên đang rất lo lắng về tình hình xuất khẩu tôm sang Nhật Bản - một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Ấn Độ (60% sản lượng tôm của bang Orissa được xuất sang Nhật), kể từ sau khi Nhật Bản phát hiện dư lượng ethoxyquin trong tôm Ấn Độ xuất sang nước này và ban hành lệnh bắt buộc kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm Ấn Độ kể từ đầu tháng 8 vừa qua. Việc Nhật Bản đột ngột hạ mức dư lượng ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ xuống 0,01 ppm mà không thông báo trước cho các nhà xuất khẩu hay cơ quan chức năng của Ấn Độ, đã tác động mạnh tới lĩnh vực xuất khẩu tôm của Ấn Độ: hàng loạt lô tôm của Ấn Độ bị trả về, nhiều công ty phải tạm ngừng xuất khẩu tôm sang thị trường này và các nhà xuất khẩu không dám tiếp tục thu mua tôm từ người nuôi, giá tôm Ấn Độ trên thị trường thế giới giảm từ 20 - 25%.

- Chính phủ Ấn Độ đã cử nhiều đoàn sang đàm phán với cơ quan chức năng của Nhật Bản nhưng tình hình chưa được cải thiện. Vào đầu tháng 9 vừa qua, Cơ quan Phát triển xuất khẩu thủy sản Ấn Độ (MPEDA) cũng cử một phái đoàn của MPEDA do Chủ tịch cơ quan này dẫn đầu, tới Nhật Bản để tái khẳng định với các nhà chức trách Nhật Bản rằng sản phẩm tôm xuất khẩu của họ là “hoàn toàn an toàn” và mức dư lượng ethoxyquin trong tôm do Nhật Bản đơn phương áp đặt (chỉ là 0,01 ppm) là “phi lý vì không dựa trên các nghiên cứu khoa học tầm quốc gia và quốc tế”. Đoàn công tác trên cũng đã gặp Bộ trưởng Sức khỏe, Lao Động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản Yoko Komiyama yêu cầu xem xét và can thiệp gấp vấn đề trên. Bộ trưởng Komiyama đã chuyển vấn đề này sang cho ủy ban an toàn thực phẩm Nhật Bản xem xét và giải quyết.

- MPEDA cũng chỉ ra rằng không có các tiêu chuẩn quốc tế nào đối với giới hạn tối thiểu cho dư lượng chất ethoxyquin trong tôm do chưa có chứng cứ khoa học thuyết phục nào cho thấy nó có hại cho sức khỏe con người.

- Theo thống kê của Cơ quan Quản lý Nghề cá biển Mỹ (NMFS), trong năm 2011, Ấn Độ là nước cung cấp tôm lớn thứ ba cho thị trường Nhật Bản sau Thái Lan và Việt Nam, với 30.936 tấn, tăng 9,1% so với năm 2010.

- Số liệu ngày 1/10 của Bộ Thương mại Ấn Độ cho biết, xuất khẩu của Ấn Độ từ tháng 4 - 8/2012 giảm 5,96% xuống còn 119,5 tỷ USD, so với 127,5 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái; trong khi nhập khẩu giảm 6,2% xuống mức 191,1 tỷ USD. Thâm hụt mậu dịch của Ấn Độ trong thời gian này là 71 tỷ USD.

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Mô hình nuôi tôm càng xanh bằng giống tôm nhân tạo ở huyện Càng Long

Mô hình nuôi tôm càng xanh bằng giống tôm nhân tạo ở huyện Càng Long


Mô hình nuôi tôm càng xanh bằng giống tôm nhân tạo ở huyện Càng Long by TV | Mo hinh nuoi tom cang xanh bang giong nhan tao

Địa bàn huyện Càng Long có 5 xã nằm ven Sông Tiền với nhiều sông rạch chằng chịt và được lưu thông bởi hai quốc lộ 53 và 60. Định hướng của huyện là quy hoạch vùng này phát triển nuôi trồng thủy sản kết hợp vườn cây ăn trái. Hàng năm, có khoảng 500 - 700 hộ dân thả nuôi tôm càng xanh trên 200 ha mặt nước ao hồ, năng suất bình quân 500 - 1.000 kg/ha, thu nhập bình quân 70 - 100 triệu đồng/ha. Những năm gần đây, lượng tôm giống ngoài thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, không đủ đáp ứng cho nhu cầu nuôi của nông dân.


- Riêng ấp Long Sơn, xã Đức Mỹ có diện tích tự nhiên: 310 ha, nhân dân ở đây sản xuất chủ yếu là vườn cây ăn trái kết hợp nuôi trồng thuỷ sản. Trong năm 2008 diện tích nuôi trồng thuỷ sản của toàn ấp là 58 ha, trong đó diện tích nuôi tôm càng xanh: 19 ha, năng suất 700 kg/ha, sản lượng đạt khoảng 13 tấn, thu nhập bình quân 50 triệu/ha, chủ yếu nuôi với hình thức là quảng canh và quảng canh cải tiến. Nguồn giống thả nuôi chủ yếu là giống tôm càng xanh tự nhiên, chỉ có một số ít bà con sử dụng giống tôm càng xanh nhân tạo. Đặc điểm tự nhiên của hai loại giống này như sau:
+ Giống tôm càng xanh tự nhiên: Có kích thước lớn nhưng kích cỡ không đồng đều, cung cấp với số lượng ít không đủ giống thả cho những quy mô lớn.

+ Giống tôm càng xanh nhân tạo: Có kích thước nhỏ nhưng kích cỡ đồng đều, cung cấp với số lượng nhiều và đáp ứng đủ nhu cầu nuôi.

- Vào cùng thời điểm đó xã Đức Mỹ được Trung tâm Khuyến Ngư tỉnh Trà Vinh nay là Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư) đã đầu tư một mô hình nuôi tôm càng xanh bằng nguồn giống tôm nhân tạo ở ấp Nhuận Thành đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông hộ và cho thấy giống tôm càng xanh nhân tạo đã thích nghi tốt với điều kiện môi trường sống ở nơi đây. Từ những hiệu quả mang lại trên, năm 2009 Trung tâm Khuyến nông- Khuyến ngư tỉnh Trà Vinh kết hợp với phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Càng Long và UBND xã Đức Mỹ tiến hành triển khai xây dựng đề án đầu tư mô hình nuôi tôm càng xanh bằng nguồn giống tôm nhân tạo ở ấp Long Sơn, xã Đức Mỹ với qui mô diện tích ao là 0,5 ha. Nguồn vốn thuộc Chương trình vốn sự nghiệp 2009. Thời gian thực hiện 6 tháng (tháng 6 - 12/2009). Mật độ thả nuôi 10 con/m2, kích cỡ giống thả Post 12 - 15 (nguồn gốc giống từ Trung tâm Giống thủy sản tỉnh Trà Vinh). Định mức hỗ trợ 40% con giống, 20% thức ăn, 100% thuốc và hóa chất phòng trị bệnh. Tổng lượng giống thả là 50.000 con Post 15. Dự kiến tổng kinh phí đầu tư cho mô hình là 36.310.000 đồng. Trong đó Trung tâm hỗ trợ không hoàn lại 11.640.000 đồng.

- Để thực hiện mô hình này ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cử cán bộ kỹ thuật xây dựng quy trình nuôi theo hướng bền, không sử dụng hóa chất kháng sinh cấm sử dụng theo quyết định của Bộ thủy sản. Định kỳ đến mô hình hướng dẫn hộ nuôi thực hiện đúng quy trình và cấp sổ nhật ký theo dõi quá trình nuôi. Bên cạnh đó, kết hợp với Ủy ban nhân dân xã Đức Mỹ tổ chức tập huấn kỹ thuật nuôi tôm càng xanh cho 50 hộ dân ở lân cận. Đồng thời cuối vụ tổ chức hội thảo, đánh giá rút kinh nghiệm để nhân rộng mô hình.Hiệu quả mô hình sẽ mang lại một số kết quả cụ thể như:
+ Về mặt kinh tế: Đưa giống tôm Càng xanh nhân tạo nuôi đại trà trên địa bàn huyện. Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật làm giảm chi phí đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng lợi nhuận cho nông hộ.
+ Về mặt xã hội: Giúp nông dân phát huy năng lực và khả năng làm kinh tế hộ gia đình, rèn luyện tay nghề kỹ thuật và trình độ quản lý cộng đồng, giải quyết việc làm ở nông thôn, nâng cao mức sống và ổn định an ninh trật tự ở địa phương.
+ Về mặt môi trường: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường ở nông thôn, đảm bảo môi trường trong sạch giúp mô hình nuôi đạt hiệu quả bền vững. Mô hình thực hiện có hiệu quả sẽ mở ra một hướng mới cho ngành thủy sản, từ đó góp phần thúc đẩy phong trào nuôi tôm càng xanh của huyện nhà phát triển. Giống tôm nhân tạo này sẽ thay thế dần nguồn giống tôm tự nhiên đang khan hiếm như hiện nay, đồng thời đem lại nguồn sản phẩm hàng hóa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu đáp ứng được những yêu cầu của tình hình mới hiện nay.

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Cơ sở giống và thức ăn thủy sản Hoàng Oanh

Cơ sở giống và thức ăn thủy sản Hoàng Oanh


- Địa chỉ: Phường Thới Hòa, quận Ô Môn, tp. Cần Thơ.
- Điện thoại: 0918. 465 024          Fax: 07103. 810 763
- Email: tthanhhai10@gmail.com
- Website: http://www.thuysancantho.vn
- Chuyên cung cấp giống và thức ăn thủy sản các loại.

 







Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Tác hại của Tảo độc trong ao nuôi Tôm

Tác hại của Tảo độc trong ao nuôi Tôm


Tác hại của tảo độc trong ao nuôi tôm by C.ty UVVN | Tac hai cua tao doc trong ao nuoi tom

1. Tổng quan
a) Cơ chế gây độc của tảo
- Độc tố tảo là độc tố sinh học được sản sinh ra từ tảo, chủ yếu thuộc 3 ngành: tảo hai rãnh (Dinophyta), tảo lam (Cyanobacteria), tảo silic (Diatom). Ngoài ra, tảo lông roi bám (Haptophyta) và tảo vàng kim (Chrysophyta) cũng được phát hiện có chứa các độc tố. Ở Việt Nam, đã xác định 61 loài tảo độc hại ở các vùng ven biển Bắc bộ,Trung bộ, riêng Nam bộ có khoảng 20 loài (Chu văn Thuộc, 2007).

- Cơ chế gây độc của độc tố tảo lên thủy sinh vật là làm tắc nghẽn mang hay gây độc khi phân hủy giải phóng độc tố ra môi trường hoặc có thể tích lũy trong các sinh vật và thông qua chuỗi thức ăn, chúng gây nguy hại cho các loài động vật ăn thịt bao gồm cả con người (Landsberg, 2002; Backer và ctv, 2003; Hallegraeff, 2004). Các loài động vật thân mềm có vỏ và cá sống rạn là sinh vật chủ yếu tích lũy độc tố tảo,một số sinh vật biển khác như cua, rùa biển và cá mập cũng có thể tích lũy các độc tố này (Shumway, 1990; Landsberg, 2002). Tùy loài tảo, hàm lượng độc tố phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Tảo hai rãnh Alexandrium có hàm lượng độc tố cao nhất là giai đoạn tăng trưởng (Cembella, 1998), tảo silic Pseudonitszchia độc tố được sản sinh chủ yếu vào giai đoạn ổn định (Bates, 1998) còn tảo Prorocentrum cordatum chỉ độc ở giai đoạn tàn lụi (Grzebyk và ctv., 1997).

b) Các dạng nở hoa của tảo độc
- Các loài tảo không chứa độc tố, khi nở hoa có thể tăng đến mật độ rất cao ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nước như làm cho pH, oxy hòa tan dao động lớntheo chu kỳ ngày-đêm, tăng hàm lượng ammonia, cạnh tranh dinh dưỡng, khi tảo tàn dễ gây hiện tượng thiếu oxy cục bộ trong ao nuôi, tăng hàm hàm lượng các khí độc gây chết trực tiếp đối với các đối tượng nuôi thủy sản.Một số loài thường gặp là: Gonyaulax polygramma, Noctiluca scintillans (tảo hai rãnh),Trichodesmium erythraeum (tảo lam)...


- Các loài tảo sản sinh ra các độc tố mạnh gây tác động trực tiếp đến đối tượng nuôi và cả con người (Liopo, 2001). Các dạng độc tố này thường gặp ở nhóm tảo hai rãnh, tảo silicvà tảo lam:
+ Đối với tảo 2 rãnh và tảo silic(độc tố thường tích lũy trong nhóm hai mảnh vỏ) có thể gây ra 4 dạng hội chứng: ASP (Amnesic Shellfish Poisoning) gây mất trí nhớ, DSP (Diarrhetic Shellfish Poisoning) gây tiêu chảy, NSP (Neurotoxic Shellfish Poisoning) gây bệnh trên hệ thần kinh và PSP (Paralytic Shellfish Poisoning) gây liệt cơ, độc tố được tiết ra từ các loài Alexandrium acatenella, A. catenella; Dinophysis acuta, D. acuminata, D. fortii; Pseudonitzschia multiseries…Ở loài tảo 2 rãnh sống đáy như là Gambierdiscus toxicus, Ostreopsis spp., Prorocentrum spp.... (độc tố tích lũy trong nhóm cá sống trong rạnsan hô) thường gây ra hội chứng CFP (Ciguatera Fish Poisoning) là độc tố gây bệnh cả trên hệ thần kinh và hệ tiêu hóa.
+ Độc tố tảo lam được chia thành 2 nhóm chủ yếu là độc tố gan (hepatotoxin) và độc tố thần kinh. Độc tố gan được tìm thấy trong các loài tảo như Microcystisaeruginosa, M. ichthyoblabe, M. novaceki, M. viridis, M. Wesenbergi. Trong tự nhiênhơn 65% các đợt nở hoa của tảo lam có độc tố là do Microcystis aeruginosa gây ra(Sivonen, 1990).Ngoài ra, Oscillatoria nigroviridis vừa có khả năngsản sinh ra độc tố gan hepatotoxin, vừa sản sinh ra độc tố thần kinh (Ostensvik et al., 1981). Đối vớigiống Nostoc có các loài sản sinh ra độc tố gan dạng hepta và pentapeptide như là: N. linckia, N. paludosum, N. rivulare, N. zetterstedtii.Trong khi đó, một số loài chỉ sản sinh ra độc tố thần kinh như là: Oscillatoriaformosa,Anabaena circinalis, A. flosaquae, A. hassallii, A. variabilis, A. lemmermannii, A. spiroides var. Contracta (Carmichael, 1988; Sivonen, 1990).

- Một số loài tảo không độc với người nhưng lại độc với cá và các động vật không xương sống (đặc biệt trong các hệ thống nuôi thâm canh) do phá hủy hoặc làm tắc nghẽn mang của chúng như là Chaetoceros convolutus (tảo silic), Gymnodinium mikimotoi (tảo 2 rãnh)…

2. Sự phát triển của tảo trong ao nuôi tôm
- Dall et al. (1990)cho rằng có mối liên quan mật thiết giữa phytoplankton và sự phát triển của tôm. Nhìn chung, môi trường nước ở các ao tôm khá giàu chất lơ lững, vật chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng hòa tan (Paez-Osuna, 2001), điều này phụ thuộc vào mức độ thâm canh (bao gồm: mật độ thả, nguồn nước, phân bón và thức ăn) chất thải càng nhiều thì nitơ và phospho bị thải ra ngoài môi trường càng cao và đó là điều kiện thuận lợi cho tảo nở hoa trong ao tôm (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003). Có nhiều nguyên nhân gây hiện tượng nở hoa như: bón phân bất hợp lý, sản phẩm thải từ động vật thủy sản và các điều kiện môi trường kể cả nồng độmuối. Các loài gây nở hoa chủ yếu thuộc các giống loài tảo ưa môi trường giàu dinh dưỡng. Tôm cũng có thể ăn tảo khi nó sử dụng chất vẫn ở đáy ao (Gomez-Aguirre và Martınez-Cordova, 1998). Tuy nhiên, khi tảo nở hoa trong ao tôm có nhiều bất lợi, có thể gây hại đến sinh trưởng của tôm (Ming -Yuan và Jians-Heng, 1993; Cortes-Altami và Licea-Duran, 1999). Hiện tượng nở hoa ở tảo trong ao nuôi thường kéo dài khoảng 5-10 ngày tùy vào giống loài tảo và điều kiện môi trường dinh dưỡng. Trong ao, tảo nở hoa có thể gây bệnh đốm nâu (Stirling và Day, 1990) hoặc gây thiếu oxy cục bộ vào ban đêm từ đó dẫn đến sự thiếu oxy trong máu làm tôm chết hàng loạt (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003).

- Thông thường trong ao nuôi, các loài tảo silic phát triển thì có lợi hơn các nhóm tảo khác. Do đó, để tảo silic phát triển tốt cần bón phân nhiều lần với liều lượng ít để đạt tỉ lệ N/P là 20:1 (Boyd và Daniel, 1993).Khi nồng độ muối giảm, nhiều ngành tảo khác sẽ phát triển ưu thế dưới sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, độ muối và hàm lượng chất dinh dưỡng...Theo Boyd (1989), tảo silic thường chiếm ưu thế trong ao nước lợ, mặn. Trong khi đó,tảo lục phát triển mạnh ở các ao có độ mặnthấp, muối dinh dưỡng thấp đến trung bìnhvà nhiệt độ ôn hòa. Tuy nhiên, trong các ao tôm ở vùng cận nhiệt đới, nhiệt đới, tảo lam lại là nhóm tảo phát triển ưu thế nhất, kế đếnlà tảo tảo silic và ít nhất là tảo hai rãnh (Cortes-Altam et al., 1994; Rungsupa et al., 1999). Theo Sevrin và Pletikosic (1990), tảo lam thường ưu thế ở mùa hè, tuy nhiên chúng là nhóm tảo có thể chịu đựng môi trường khắc nghiệt nên có thể phát triển cả trong mùa đông ở các ao nông, ít thay nước và ánh sáng mạnh (Santoyo, 1972). Theo nghiên cứu của Barraza-Guzman (1994), tảo lam nở hoa với mật độ cao nhất đạt 3,5 triệu tế bào/lít.

3. Hiện tượng tảo độc nở hoa trong ao nuôi tôm
- Sự nở hoa của nhóm tảo hai rãnh (Dinoflagellate) gây nên thủy triều đỏ ở các ao nuôi tôm đã gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với nghề nuôi (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003). Trên các ao nuôi tôm sú Penaeus monodon và P. orientalis ở Đài Loan, Trung Quốc và Malaysia có nhiều giống loài tảo nở hoa do môi trường giàu dinh dưỡng bao gồm: Euglena spp., Noctiluca scintillan,Alexdrium tamarense, Chattonella spp., Protoperidinium balechii; chúng gây ra tình trạng thiếu oxy máu, tiết ra độc tố PSP, ASP làm giảm sinh trưởng ở tôm, gây bệnh, hoặc trực tiếp gây chết tôm (Chen và Gu, 1993; Huei-Meei et al., 1993; Jiasheng et al., 1993; Mingyuan và Jiansheng, 1993; Kotaki et al., 2000). Trong ao tôm thẻ chân trắng Liptopenaeus vannamei, L. stylirostris ở Ecuador và Mexico, một số giống loài tảo nở hoa được phát hiện: Gyrodinium instriatum,Synechocystis diplococcus,Schizothrix calcicola, Prorocentrum minimum, Gymnodinium catenatum. Các loài này thường nở hoa khi môi trường giàu dinh dưỡng hay do sự thay đổi nồng độ muối, chúng tiết ra độc tố PSP và gây thiếu oxy máu làm giảm sinh trưởng và gây chết ở tôm (Jimenez, 1993; Cortes-Altamirano, 1994; Delgado et al., 1996; Cortes-Altamirano và Alonso-Rodrıguez (1997); Cortes-Altamirano và Licea-Duran (1999).

- Ở Việt Nam, tảo độc nở hoa làm thiệt hại về kinh tế đã được ghi nhận vào tháng 5 và tháng 6/1995, tảo Noctiluca scintillans nở hoa ở khu vực vịnh Vân Phong thuộc vùng biển Khánh Hòađã làm chết khoảng 20 tấn tôm hùm với thiệt hại ước tính khoảng 6 tỷ đồng (Nguyễn Ngọc Lâm và ctv., 1996).Theo Kotaki et al., (2000) ở ao nuôi tôm sú tại Đồ Sơn, tảo Nizschia navis-varingica nở hoa do môi trường giàu dinh dưỡng tiết ra độc tố ASP (1,7pg/tế bào, 1 pg = 1/1.000.000 mg) gây chết tôm.


(Một số giống loài tảo độc hại - A: Pseudoniszchia pungens, B: Dinophysis caudata, C: Noctiluca Scintillans, D:Microcystis aeruginosa, E:Noctiluca scintillans nở hoa ở Newzealand)


Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Ths. Dương Thị Hoàng Oanh – Khoa Thủy sản – ĐH Cần Thơ.

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Kinh nghiệm chọn Tôm Càng Xanh giống

Kinh nghiệm chọn Tôm Càng Xanh giống


Kinh nghiệm chọn tôm càng xanh giống by NS 24h | Kinh nghiem chon tom cang xanh giong

Chất lượng tôm giống là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tỉ lệ hao hụt, năng suất và hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm càng xanh. Nếu con giống tôm càng xanh kém chất lượng như: kích cỡ không đều, bơi lội yếu, bị xây xát hoặc gãy chân do bị đánh bắt hoặc có nhiều mầm bệnh, vỏ mềm do mới lột xác sẽ dẫn đến tỉ lệ hao hụt rất cao ngay từ khi vận chuyển đến địa điểm thả nuôi và sẽ cho năng suất khi thu hoạch kém, dù các yếu tố khác như môi trường nước, thức ăn, phòng bệnh ... đều thoả mãn nhu cầu kĩ thuật trong suốt quá trình nuôi.


Với mục đích hỗ trợ bà con ngư dân trong việc chọn con giống, góp phần hạn chế một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại trong quá trình nuôi tôm càng xanh, chúng tôi xin giới thiệu một số phương pháp để chọn con giống tôm càng xanh bảo đảm chất lượng.

1. Chọn tôm đều cỡ
- Tôm giống phải có chiều dài tương đối đều nhau, tiêu chuẩn tôm giống phải từ 3 - 5 cm (trong trường hợp chọn từ tôm post thì tôm post phải được nuôi trong môi trường nước ngọt hoàn toàn, không có tôm bơi ngửa và chiều dài từ 1 - 2 cm).

- Trong trường hợp trong đàn tôm giống chọn nuôi có một số ít tôm lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với chiều dài bình quân của số lượng tôm dự tính chọn nuôi, thì số lượng tôm có kích thước lớn hơn hoặc nhỏ hơn không quá 10 %.


2. Chọn tôm khỏe
- Bắt một con tôm giống, khoảng 80 - 100 con cho vào một cái chậu nhựa có nước cao 7 - 10cm, dùng tay quay tròn nước trong chậu. Tôm khoẻ sẽ bơi ngược dòng nước, đuôi xoè hoặc bám vào thành đáy thau. Tôm yếu sẽ bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu. Ðàn tôm dự tính đước nuôi được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu chiếm ít hơn 5% trên số lượng tôm kiểm tra.

- Bà con có thể bắt một ít tôm như trên thả vào dung dịch có pha Formol với nồng độ 100ppm (pha 1ml Formol trong 10 lít nước sạch) sau 2 giờ, số lượng tôm chết ít hơn 5% trên tổng số tôm kiểm tra, chứng tỏ đàn tôm nuôi là khoẻ mạnh.

- Mặt khác, cần lưu ý một số yếu tố để chọn tôm khoẻ như:
+ Tôm khoẻ phải không bị dị hình, còn đủ chân, càng, râu.
+ Tôm khoẻ lúc nào đôi râu cũng xếp song song nhau, tôm yếu đôi râu hình chữ V.
+ Tôm khoẻ thì dạ dày (nằm phía trên đầu) có chứa thức ăn và đường ruột vẫn còn thức ăn và được biểu hiện là đường chỉ có màu nâu, liền nhau, không bị đứt đoạn chạy dọc theo thân).
+ Tôm khoẻ thì bơi lội nhanh nhẹn và khi tắt sục khí, tôm sẽ bung mình lên khỏi mặt nước.

3. Chọn tôm không bị bệnh
- Tôm khoẻ thân thường có màu xanh trong, phần vỏ và phần chân tôm không có những đốm nâu đen hoặc vàng xám, trên thân vỏ và phần đuôi không có chỗ bị ăn mòn hoặc khuyết sâu.

- Tôm bệnh thường có màu trắng đục, mang có đốm đen, phần vỏ và chân có nhiều chấm nhỏ màu nâu đen hoặc xám vàng và bị đóng rong. Tôm bệnh thường bơi lội và phản ứng chậm.

- Ngoài ra bà con cần lưu ý:
+ Tôm càng xanh thường dễ lột xác sau khi đánh bắt và thay đổi môi trường nước, do đó nếu mua tôm giống ươn trong ao thì nên vận chuyển tôm giống về địa điểm nuôi thả sau khi kéo lưới thu hoạch và trữ trong vèo lưới có sục khí từ 12 - 14 giờ, để tránh hao hụt trước và sau khi thả tôm.
+ Khi chọn mua tôm giống nên mua những con giống từ những trại tôm và những cơ sở có uy tín và cung ấp con tôm giống có chất lượng để khi mua,b à con không bị thiệt thòi trong quá trình đong đếm và bị ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế do tôm không đạt chất lượng, hao hụt nhiều trong quá trình nuôi dưỡng.

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

Mô hình nuôi Tôm Càng Xanh trên ruộng lúa ở Cà Mau

Mô hình nuôi Tôm Càng Xanh trên ruộng lúa ở Cà Mau


Nguồn tin: Báo Cà Mau, 11/07/2011
Ngày cập nhật: 14/7/2011

Mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa, nuôi ghép cùng tôm sú đã mang lại hiệu quả cao ở các huyện Thới Bình, U Minh. Để vụ nuôi thành công, bà con cần chú ý những điểm sau.

1. Mùa vụ
Mùa vụ thả nuôi tôm càng xanh ở Cà Mau bắt đầu từ tháng 6 - 7 dương lịch và thời gian nuôi thường từ 5 - 6 tháng. Khi độ mặn trong các vuông, đầm nuôi quảng canh xuống dưới 12‰ thì tôm giống có thể sinh trưởng tốt.


2. Chuẩn bị ruộng nuôi
- Nông dân Thới Bình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa cho năng suất trên 300 kg/ha.

- Sau khi thu hoạch vụ lúa, tiến hành chuẩn bị ruộng nuôi như: sửa lại bờ ao, lấp các lổ mội, hang cua, sên vét bùn ở các mương bao, ao ương, sau đó bón vôi với liều lượng 150 - 200 kg/ha và phơi ruộng 3 - 5 ngày trước khi lấy nước. Lưu ý ở những ruộng có mương mới đào thì nên rửa phèn 2 - 3 lần trước khi bón vôi và phân.

- Khi ruộng nuôi đã sẵn sàng thì khâu lấy cấp nước cần chú ý mực nước trên mặt vuông từ 30 - 40 cm hay 0,8 - 1 m đối với ao ương và bón 30 kg phân hữu cơ hay 0,5 kg urê kết hợp với 1 kg phân NPK hoặc DAP cho 1.000 m2 để gây màu nước. Sau 3 - 5 ngày nước có màu xanh đậm thì tiến hành thả tôm.

- Ao ương tôm trong 3 tuần đầu thả giống là khâu rất quan trọng cho tỷ lệ đạt đầu con khi thu hoạch. Người nuôi tôm nên dành 10% diện tích bằng cách đắp bờ, dùng lưới mành, tấm ni-lông hay tấm bạt… ngăn một phần mương bao để ương tôm càng xanh bột. Thời gian ương trong 2 - 3 tuần trước khi thả ra ruộng, nhằm hạn chế hao hụt và dễ chăm sóc tôm ở giai đoạn còn nhỏ.

3. Chọn giống
Khâu lựa chọn con giống là rất quan trọng, cần tìm mua con giống chất lượng, với tỷ lệ đực trội hơn cái thì năng suất, sản lượng mới cao. Mật độ nuôi ở mô hình quảng canh không cho ăn là 12.000 con tôm giống/ha, ở mô hình cho ăn dặm từ tháng thứ 3 trở đi thì mật độ 20.000 con tôm giống/ha.

4. Chăm sóc
- Khâu chăm sóc tôm trong suốt quá trình nuôi là rất quan trọng. Trong thời gian ương tôm trong ao vèo cần cho ăn thức ăn có chất lượng cao, như thức ăn công nghiệp, hay bột cá với lượng cho ăn từ 10 - 20% trọng lượng đàn tôm. Mỗi ngày cho ăn 3 lần. Nếu vèo trong ao, không quá 2 tuần thì cho tôm ra ngoài, nếu vèo trong mành thì không quá 4 ngày cho ra ngoài (để tránh tôm ăn thịt nhau). Khi qua tháng nuôi thứ 3 thì cho tôm ăn bằng cách kết hợp rải thức ăn ven bờ và sàng ăn. Số lần cho ăn từ 2 - 4 lần trong ngày. Thức ăn được sử dụng như: cám, gạo, cá phi…; đặc biệt nếu cho ăn con hến tôm sẽ rất mau lớn.

- Lưu ý: Để tôm tăng trưởng tốt thì ở tháng nuôi thứ 3 trở đi, tối thiểu 1 tháng phải thay nước 1 lần để kích thích tôm lột xác, tăng trọng lượng. Nếu nuôi trong ruộng lúa thì không nên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất mà sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong quá trình chăm sóc lúa để tránh ảnh hưởng đến tôm nuôi. Nếu có điều kiện nên sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ mỗi tháng, để tránh các loại nấm, vi khuẩn gây hại cho tôm.

- Khi tôm đạt kích cỡ thương phẩm thì tát nước khô mặt ruộng, sau đó tiến hành thu hoạch.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Kỹ thuật ương Tôm Càng Xanh

Kỹ thuật ương Tôm Càng Xanh


Kỹ thuật ương tôm càng xanh by TS Cần Thơ | Ky thuat uong tom cang xanh

Tôm càng xanh là đối tượng thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao, được nuôi nhiều nước trên thế giới. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các mô hình nuôi tôm càng xanh trong mương vườn, ruộng lúa, ao hồ... ngày càng phát triển.


1. Lợi ích việc ương
- Trở ngại lớn nhất đối với các nông hộ khi nuôi tôm thịt từ giống nhân tạo mua từ các cơ sở ương là về chất lượng (kích cỡ không đồng đều) và giá tôm giống cao (chiếm 30% chi phí sản xuất). Để giảm thiểu tối đa tổn thất cho người nuôi thì việc chọn hình thức ao ương sang (ương ngay trong ao nuôi thịt) sẽ khắc phục được tình trạng khó khăn lúc thu hoạch (hao hụt nhiều do thao tác) và công việc vận chuyển tôm đến ao nuôi (có thể làm tôm bị yếu).

- Lợi điểm chính của ao ương sang là tôm tập trung nên có thể theo dõi chính xác hơn và cho ăn dễ dàng hơn. Do đó, việc ngăn một phần ao nuôi để ương tôm là có hiệu quả hơn dùng hệ thống ao ương riêng biệt đối với các nông hộ sản xuất tôm thịt.

2. Công trình ương
- Chọn địa điểm: Nơi có nguồn nước tốt và giữ được nước, chủ động nguồn nước cấp khi cần thiết để thay.Thuận lợi giao thông cho việc vận chuyển tôm giống; Gần nơi cung cấp nguồn post. Việc chọn địa điểm phù hợp cho sản xuất nhằm giảm giá thành xây dựng, giảm chi phí sản xuất và có thể điều chỉnh hệ thống nuôi cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất mà người nuôi nên cẩn thận xem xét.

- Diện tích phần ương: Dựa trên nhu cầu số lượng tôm giống cần cho nuôi thịt và mật độ thả ương để quyết định diện tích phần ương trong ao, có thể chiếm từ 15 - 20% diện tích ao nuôi. Phần ương này có thể giới hạn lại bằng cách dùng lưới để ngăn ao hoặc dùng giai đặt trong ao để ương. Đối với những hộ ương để cung ứng giống cho người nuôi tôm thịt cũng phải căn cứ vào nhu cầu con giống trong khu vực để bố trí ao ương cho phù hợp, thường từ 300 - 500 m2/ao để thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý.

- Hệ thống cấp thoát nước và mực nước : Bố trí cống cấp và thoát nước dạng chìm, riêng biệt với tổng đường kính cống từ 30 - 50 cm/1000m2 đặt ở đầu và cuối ao nuôi với yêu cầu:Đảm bảo cấp đầy hay tháo cạn nước trong vòng 4 - 6 giờ; Cống thoát nằm ở nơi thấp nhất; Độ dốc đáy ao là 1:200 giảm dần từ cống cấp đến cống thoát.Trong suốt quá trình ương phải duy trì mực nước từ 0,8 - 1,2m.

- Giá thể: Dùng chà tre khô bó lại thả xuống ao để tạo nơi trú ẩn cho tôm, tốt nhất diện tích thả chà nên chiếm 5% diện tích mặt nước.

3. Các biện pháp kỹ thuật
- Chất lượng nước ao: Một số chỉ tiêu môi trường nước thích hợp trong ao ương nuôi tôm càng xanh cần duy trì trong quá trình sản xuất:
+ Nhiệt độ:28 – 30 độ C.
+ Độ trong: 25 - 40 cm.
+ Oxy hòa tan: 4 - 7 mg/l.
+ Độ pH: 7 – 8.
+ H2S: 0,01 - 0,05 mg/l.
+ NO2-: 0,01 - 0,3 mg/l.
+ NH3+: 0,05 - 0,7 mg/l.

- Chuẩn bị ao ương
+ Cải tạo ao: Ao ương trước khi thả giống 7 ngày cần phải được cải tạo đúng qui trình: tát cạn ao; bắt hết cá dữ, cá tạp và các địch hại khác gây nguy hại cho tôm ương; vét bớt bùn đáy chỉ để lại khoảng 10-20 cm bùn; san bằng nền đáy dốc về phía cống thoát; đắp bờ, lấp hang hốc; phơi đáy ao 2-3 ngày...
+ Bón vôi: dùng vôi sống CaO với liều lượng liều lượng 10 -15 kg/100 m2 nhằm vệ sinh, khử trùng ao ương và phòng bệnh cho tôm; Lấy nước vào ao ương 0,3 - 0,5 m qua cống cấp có lưới xanh nhiều lớp hoặc vải thật mịn để ngăn ngừa cá tạp và địch hại; Gây màu nước bằng phân chuồng đã ủ hoai thật kỹ với liều lượng 100 - 150g/m3 nước, cần ngâm trong nước 1 ngày, sau đó tóe đều khắp mặt ao để tránh phân bị trôi dạt về phía góc ao. Nếu có điều kiện có thể bón thêm phân vô cơ hàng tuần từ 0,5 - 1kg/1000 m2. Tốt nhất là sử dụng phân gà phơi khô hoặc phân gà vi sinh (có bổ sung một số khoáng vi lượng); Sau khi bón 3 ngày khi thấy nước có màu xanh lá non thì tiếp tục cho nước vào cho đến 0,8 - 1,0 m rồi tiến hành thả post.

- Thả giống:
+ Chọn giống: postlarvae có ngày tuổi từ 12 - 15 có kích cỡ đồng đều, không dị hình, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc đặc trưng.
+ Mật độ thả: ương với mật độ vừa phải từ150 - 200con/m2 tùy vào trình độ kỹ thuật, nhu cầu con giống, khả năng cung cấp thức ăn cho tôm.
+ Thời điểm thả ương: từ tháng 4 - 6 và từ tháng 8 - 10 dl.
+ Cách thả giống: vận chuyển post trong bao có bơm oxy vào lúc mát trời. Để tránh tôm bị sốc nhiệt độ nên ngâm bao chứa tôm trong ao ương từ 15 - 20 phút, sau đó mở miệng bao tát nước vào từ từ và để tôm tự bơi ra. Chú ý nên thả tôm cách bờ trên 1 m vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

- Chăm sóc và quản lý:
+ Cho ăn: Loại thức ăn: nên sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên dành cho tôm càng xanh giống với hàm lượng đạm từ 30 - 35% để cung cấp dinh dưỡng ổn định cho tôm trong sốt quá trình ương. Ngoài ra, tùy sự sẵn có các nguồn thức ăn ở địa phương như cá biển, ốc bươu vàng, cua đồng, hến...dùng thay thế một phần thức ăn công nghiệp sau khi ương được 15 ngày bằng cách xay nhỏ rồi mới cho tôm ăn.
+ Lượng thức ăn: cho ăn 20% TLT đối với ương mật độ 200 con/m2. Có thể ước tính liều lượng cho ăn của 10.00 tôm post như sau: Ngày thứ 01 - 10: 25 - 35g/ngày , Ngày thứ 11 - 20: 40 - 50 g/ngày , Ngày thứ 21 – 30: 60 - 80g/ ngày.
+ Thời gian cho ăn: nên cho tôm ăn 3 - 4 lần/ ngày.Vào lúc sáng sớm và chiều mát thì lượng cho ăn trong ngày phân chia nhiều hơn các lần còn lại.
+ Sàng ăn : sử dụng sàng ăn để kiểm tra việc cho ăn, biết được khả năng sử dụng thức ăn, sức khỏe của tôm để kịp thời điều chỉnh hàng ngày lượng thức ăn cho phù hợp với sự sinh trưởng của tôm nuôi. Có thể bố trí 02 sàng ăn /300m2 với đường kính 70 - 80 cm hoặc hình vuông với kích thước 60 x 60cm, đặt sát đáy ao, nơi sạch và hơi xa bờ ao.
+ Chăm sóc:Thường xuyên kiểm tra bờ, lưới, cống để tránh thất thoát, không cần thay nước, chỉ bổ sung lượng nước bốc hơi, các thông số như pH và độ trong nên kiểm tra hàng ngày để theo dõi sự biến động của môi trường ương.

4. Thu hoạch tôm ương
- Sau một tháng ương, bung vèo hoặc giai cho tôm ra ao. Tỉ lệ sống từ 70 - 85% .Trọng lượng bình quân 0,5 - 1,0g/con, có thể đạt kích cỡ từ 3 - 5 cm. Đối với ao ương riêng biệt thì trước khi thu hoạch phải chuẩn bị giai chứa để trong ao hay bể có sục khí. Nên thu hoạch vào sáng sớm bằng cách tháo cạn nước, dùng lưới kéo thu một phần sau đó tát cạn thu toàn bộ.

- Cách vận chuyển tôm giống: Dùng bao nilon cỡ 60 x 90 cm có bơm oxy chuyển từ 1000 - 1500 con/bao cho vào khoảng 5 - 10 lít nước của bể chứa tôm vận chuyển trong 8 - 10 giờ.

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

Những bệnh thường gặp trong sản xuất giống Tôm Càng Xanh

Những bệnh thường gặp trong sản xuất giống Tôm Càng Xanh


Những bệnh thường gặp trong sản xuất giống tôm càng xanh by Khuyến Nông | Nhung benh thuong gap trong san xuat giong tom cang xanh

Tôm càng xanh (TCX) Macrobrachium, là loài giáp xác sống và phát triển chủ yếu trong môi trường nước ngọt, kích thước cá thể lớn, thịt thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng, có giá trị kinh tế cao. Nguồn TCX trong sông ngòi tự nhiên ở miền Nam nước ta rất phong phú, nhưng do khai thác không hợp lý, sản lượng ngày càng giảm và cạn kiệt. Do đó việc sản xuất tôm giống là cần thiết. Tuy nhiên, trong sản xuất giống, tôm càng xanh thường mắc một số bệnh sau:

1. Bệnh gây chết giữa chu kỳ nuôi
- Bệnh này thường gặp khi đã nuôi ấu trùng từ 10 - 20 ngày, khi bị bệnh ấu trùng thường chết rất nhiều, sau 2 - 3 ngày có thể chết hết .

- Triệu chứng là: ấu trùng yếu, bơi lội chậm chạp hơn bình thường, màu sắc xám nhạt (sau 10 ngày nuôi màu sắc của ấu trùng thường nâu sáng), ăn yếu và chậm ( tôm khoẻ mạnh sau 10 ngày nuôi khi cho Artemia vào sau 2 giờ ấu trùng ăn hết).

- Khi xem ấu trùng qua kính hiển vi thấy phần gan tụy tạng co lại, nhỏ hơn bình thường,các sắc tố bị mất. Khi quan sát bể vào ban đêm thấy có hiện tượng những con tôm chết phát sáng, xem qua kính hiển vi thấy có vi khuẩn Coccobacilli trong ruột tôm rất nhiều. Hiện tượng phát sáng là do vi khuẩn này gây nên.

- Sử dụng thuốc kháng sinh không có hiệu qủa, khi bị bệnh này thường phải xả bỏ, vệ sinh làm đợt mới, tuy nhiên bệnh này ít gặp.

- Phòng ngừa bệnh bằng cách: Vệ sinh kỹ toàn bộ trại sau một chu kỳ sản xuất, phơi khô trại sau 10 ngày, khi nuôi quản lý chăm sóc tốt nhằm hạn chế mắc bệnh.

2. Bệnh lột xác dính vỏ
- Bệnh này thường xảy ra khi ấu trùng ở giai đoạn PL 10-11, khi ấu trùng lột xác vỏ bị dính lại ở chủy (dạng nhẹ), dính ở chân ngực, không bơi được và chết, xảy ra chủ yếu vào ban đêm khi tôm lột xác. Tỷ lệ lột xác bị dính thường từ 10 –30%.

- Nguyên nhân gây bệnh không xác định được rõ ràng, có nhiều tác giả cho rằng do hàm lượng NH4 – N trong bể nuôi cao, hoặc thiếu khoáng chất.

- Phòng trị bằng cách, sử dụng formaline 10 – 15ppm kích thích tôm lột xác, cho thêm khoáng vi lượng, vitamin C vào trong thức ăn, giúp hạn chế mắc bệnh. Đặc biệt nên sử dụng vi sinh trong quá trình sản xuất.

3. Bệnh do nguyên sinh động vật


- Trong sản xuất giống tôm và cá thường bị bệnh này, ở TCX thường thấy xuất hiện nhiều các loại sau: Zoothamnium, Epistylis, Acineta, Vocticella…Trong đó, Zoothamnium hay gặp nhiều nhất. Chúng ký sinh ở các phần phụ như chủy, chân ngực, chân bụng, đuôi khi chúng phát triển nhiều ấu trùng không lột xác được dẫn tới chết.

- Nguyên nhân gây bệnh: Do xử lý tôm mẹ không tốt, mang mầm bệnh vào bể, hoặc chăm sóc kém, thức ăn dư thừa nhiều, hàm lượng hũu cơ trong bể cao cũng sinh ra bệnh này.

- Cách phòng trị: Chăm sóc cho ăn, quản lý môi trường tốt, tạo điều kiện cho ấu trùng lột xác nhanh, định kỳ xi phông sạch đáy bể, thay nước đúng định kỳ giữ môi trường nuôi tốt ít sẽ hạn chế tối đa bệnh này

- Cách trị: sử dụng triflutralin 48% với liều lượng 1cc/m3 nước, hoặc Iodine 5cc/m3.
4. Bệnh hoại tử
- Bệnh này thường hay gặp trong sản xuất giống tôm càng cũng như tôm biển, ở TCX bệnh thường xuất hiện từ giai đoạn PL5 trở đi. Khi quan sát trong bể nuôi thấy ấu trùng tôm bơi không bình thường, hoặc chìm nhiều ở đáy bể, quan sát trên kính hiển vi thấy các phần phụ cuả ấu trùng bị ăn mòn, hoặc cụt như chủy, chân bụng, chân ngực, chỗ bị ăn mòn có màu vàng cam. Khi bị bệnh nặng, không trị kịp thời ấu trùng chết nhiều.

- Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do vi khuẩn và môi trường nuôi không tốt, trong đó yếu tố nhiệt độ là chủ yếu. Khi nhiệt độ nước nuôi trên 29 độ C thường bị bệnh này.

- Cách phòng trị: Khống chế nhiệt độ nước nuôi ổn định từ 27 – 28 độ C, lúc thay nước chú ý các yếu tố độ mặn, pH, nhiệt độ …phải cân bằng giữa nước cấp và trong bể nuôi. Khi phát hiện có dấu hiệu bệnh phải trị kịp thời, do nguyên nhân chủ yếu là vi khuẩn và môi trường nên có thể diệt khuẩn bằng iodine, sau đó cải thiện môi trường.

5.Bệnh đục cơ
- Bệnh này thường xảy ra trong giai đoạn tôm bột (PL), quan sát trong bể nuôi thấy xuất hiện một số con có màu trắng đục trên thân, điểm trắng đục xuất phát từ đuôi và lan dần ra, tôm bị bệnh bơi lội khó khăn, những con bị nặng sẽ chết. Bệnh xảy ra mang tính tự phát do các hiện tượng sốc của môi trừơng , như sự dao động của nhiệt độ, độ mặn và oxy, kết hợp với mật độ cao cũng như các thao tác trong khi nuôi không phù hợp.

- Tỷ lệ mắc bệnh thường từ 10 – 30%, sử dụng thuốc kháng sinh thường không hiệu qủa, chủ yếu là phòng ngừa, giảm tối đa các hiện tượng gây sốc ngay sau khi phát hiện bệnh, bệnh sẽ không tăng và khỏi. Trong thời gian đang tôm đang bị bênh nên trộn Vitamin C vào thức ăn để giúp tôm giảm stress.

6. Bệnh đen mang
- Bệnh này thường xuất hiện vào giai đoạn PL5 - PL8 trong chu kỳ phát triển của ấu trùng.

- Nguyên nhân gây bệnh: Do trong nước có hàm lượng hữu cơ cao, tảo chết, khi ấu trùng bị nhiểm bệnh, hàng ngày khi xi phông bể xuất hiện xác tôm chết nổi lên. Xem trên kính hiển vi thấy nhiều chấm đen trên các tơ mang, khi bệnh nặng tôm chết nhiều.

- Phòng bệnh: chăm sóc và quản lý môi trường tốt, quản lý tảo phát triển không bị tàn đồng loạt.

- Cách điều trị bệnh: Có thể thay nước 20 – 50%, kết hợp dùng vi sinh để xử lý.

7. Bệnh dính chân
- Bệnh thường gặp trong sản xuất giống tôm càng cũng như tôm sú. Tác nhân gây bệnh do vi khuẩn dạng sợi (Filamentous bacteria) và vi khuẩn không phải dạng sợi, một số loài tảo, nguyên sinh động vật. Khi quan sát ấu trùng tôm trên kính hiển vi thường thấy xuất hiện đầy đủ các loại này, nhưng vi khuẩn dạng sợi là chủ yếu. Chúng bám vào các sợi lông tơ, số lượng nhiều tôm bơi lội khó khăn và các lông tơ rụng dần, sau đó tổn thương các phần phụ như chân bụng, đuôi, chủy… bị nhiễm nặng tôm chết đồng loạt, nhất là các giai đoạn nhỏ.

- Cách điều trị: bệnh này phải dựa vào sự quan sát trên kính hiển vi, xác định loài nào gây bệnh chủ yếu trị trước sau mới trị bệnh tiếp theo.
Ví dụ: Gây bệnh do vi khuẩn dạng sợi là chủ yếu và có cả nguyên simh động vật (Zoothamnium).Trị bệnh do vi khuẩn dạng sợi trước, sử dụng CuSO4 với nồng độ 0,3ppm sau 24 giờ là khỏi bệnh; ngày sau đó thay nước 80%, sau 2 ngày trị tiếp bệnh do nguyên sinh động vật gây ra.

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011

Video Kỹ thuật nuôi Tôm Càng Xanh

Video Kỹ thuật nuôi Tôm Càng Xanh


Nhằm giúp đọc giả có thêm thông tin cũng như kỹ năng về nuôi tôm càng xanh chúng tôi xin giới thiệu Video Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh đến đocc giả.



Video Kỹ thuật nuôi Tôm Càng Xanh, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

Kỹ thuật nuôi Tôm Càng Xanh trong vườn dừa

Kỹ thuật nuôi Tôm Càng Xanh trong vườn dừa



Trong những năm gần đây, giá tôm càng xanh luôn ổn định ở mức cao. Bà con đã tận dụng mương vườn của mình để nuôi. Nhưng chủ yếu nuôi theo phương pháp cổ truyền như nuôi nhử, đắp đập tràn, với phương pháp trên có lãi nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao. Chính điều này phong trào nuôi tôm từ vườn dừa chưa phát triển mạnh. Nếu tận dụng mặt nước sẵn có từ vườn dừa, đồng thời áp dụng cải tiến một số phương pháp như cải tạo mương vườn, chọn giống, quản lý, chăm sóc tốt thì hàng năm chúng ta có một lượng tôm càng xanh thương phẩm khá lớn.

1. Phương pháp cải tạo mương vườn
- Đối với mương vườn dừa có đặc điểm chiều ngang nhỏ từ 2-5m. Chiều dài lớn từ 50-200m, mặt vườn thì lớn. Do đó thường phèn từ hai bên rò rỉ dồn về mương vườn và khi mưa làm sói bờ gây nước đục. Nên khi cải tạo mương chú ý:
+ Nên vét hết bùn đáy ao lên, và trên líp vườn đắp bờ cho dốc hướng ra ngoài mương để tránh trời mưa đổ xuống mương và bón vôi lúc cải tạo từ 10-20kg/100m2(Tùy theo mương cũ hay mới) mương có hệ thống cống hoặc bọng đảm bảo độ sâu mương từ 0,6-0,8m.
+ Nếu có điều kiện bà con nên chia mương vườn thành nhiều lô có thể từ 50-200m2 tùy theo thực tế mương vườn, cũng có thể dùng lưới mùng hoặc đăng tre để chắn chia lô.

- Mục đích của việc chia lô là:
+ Tôm thả đều cỡ.
+ Hạn chế tôm ăn thịt lẫn nhau.
+ Ít cạnh tranh thức ăn.
+ Dễ thu hoạch.
. Xung quanh bờ ao nên dùng lưới rào tránh địch hại cho tôm (như chuột,…)
. Nước lấy vào ao qua hệ thống lọc kỹ, tránh cá vào mương có thể ăn tôm, hoặc cạnh tranh thức ăn tôm sau này.
. Nước lấy vào 3-5 ngày mới được thả tôm nuôi.

2. Chọn tôm giống
Nên có lượng tôm giống phong phú và quanh năm, đây là điều kiện thuận lợi cho người nuôi. Tuy nhiên do đặc điểm tôm giống tự nhiên thường có kích cỡ lớn, không đều nhau và khâu vận chuyển, bảo quản tôm giống tự nhiên chưa tốt, nên tôm khi thả nuôi bị xay xác nhiều, dẫn đến tỉ lệ sống thấp. Vì thế việc chọn tôm giống thả là yếu tố quyết định sự thành công cho vụ nuội. Một số chỉ tiêu giúp chọn giống tôm đạt chất lượng:
- Chọn lựa những con khỏe mạnh còn đầy đủ các phụ bộ.

- Cách vận chuyển: Dùng lưới buộc tôm lại tránh tôm va chạm nhau, ít xay xác trong quá trình vận chuyển (không buộc quá chặc), sau đó cho vào xô hoặc thùng nhựa đã đổ nước và có thổi khí. Khi vận chuyển tôm đến nơi để cho tôm khỏe 15 phút sau đó dùng Iodine liều dùng 200ppm thời gian tắm 3-5 phút, rồi mới thả tôm xuống mương.

- Chọn những con tôm đồng cỡ thả theo từng lô hoặc từng mương.

- Mật độ thả tối đa từ 1-2 con/m2.

3. Thức ăn và chăm sóc quản lý
Chúng ta biết rằng sự tăng trọng của tôm càng xanh là thông qua quá trình lột xác. Muốn vậy thì khi nuôi tôm cần cung cấp dinh dưỡng đầy đủ để tạo vỏ mới và môi trường nuôi phải được đảm bảo.
- Các yếu tố môi trường:
+ pH: 7-8,5.
+ Oxy: >3mg/lít.
+ Các chất khí độc như NH3,H2S,…phải đảm bảo.

- Thức ăn cho tôm có hai loại: thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến.
+ Thức ăn công nghiệp: chọn loại có nồng độ đạm lớn hơn 30%.
+ Thức ăn chế biến như ốc, cua, cá biển, còng,…
+ Ngày cho ăn 2 lần, buổi sáng từ 8h, chiều khoảng 17h.

* Lưu ý: thức ăn chế biến phải còn tươi, khi cho ăn không được dư, dễ làm dơ ao, có thể cắt từng khúc vừa cỡ tôm để cho ăn.

- Lượng thức ăn hàng ngày:
+ Thức ăn công nghiệp từ 3-5% trọng lượng thân;
+ Thức ăn tự chế biến: từ 5-7% trọng lượng thân.
* Lưu ý: để tôm mau lột xác khi cho tôm ăn cần bổ sung thêm khoáng và vitamin, liều dùng 3-5g/kg thức ăn.

- Quản lý mương nuôi
+ Hàng ngày kiểm tra màu nước, cống bọng lưới chắn, chú ý những ngày nước kém hoặc trời mưa lớn dùng vôi từ 1-2 kg/100m2 hòa với nước tạt xuống mương để ổn đinh pH giúp tôm chống sốc.
+ Kiểm tra lượng thức ăn hàng ngày để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp.
+ Giảm lượng thức ăn khi tôm sắp lột và tăng lên khi tôm lột xác xong.
+ Kiểm tra đáy ao, nếu thấy đáy ao dơ có mùi hôi hoặc dơ thì dùng vi sinh để xử lý, đồng thời kết hợp thay nước.

4. Thu hoạch
- Sau 4-5 tháng nuôi, tôm đạt kích cỡ >100g thì tiến hành thu hoạch, những tôm chưa đạt kích cỡ thu hoạch thì thả lại tiếp tục nuôi.

- Phương pháp thu: dùng lưới kéo hoặc chài.

- Tiếp tục cải tạo mương và tiến hành thả vụ sau.

Kỹ thuật tôm càng xanh vườn dừa, Nguồn: Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bến Tre.

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Video Kỹ thuật nuôi Tôm Càng Xanh

Video Kỹ thuật nuôi Tôm Càng Xanh


Nhằm giúp độc giả có thêm thông tin cũng như kỹ năng về nuôi tôm càng xanh chúng tôi xin giới thiệu Video Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh đến độc giả.




Video Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Video Kỹ thuật sản xuất Tôm Càng Xanh toàn đực

Video Kỹ thuật sản xuất Tôm Càng Xanh toàn đực

Giới thiệu với độc giả Video Quy trình sản xuất giống Tôm Càng Xanh toàn đực.


Video Kỹ thuật sản xuất Tôm Càng Xanh toàn đực, Nguồn: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I.

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất Tôm Càng Xanh toàn đực

Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất Tôm Càng Xanh toàn đực



I. Các giải pháp công nghệ tạo tôm toàn đực
Tôm càng xanh Macrobrachium rosenberggi sống trong môi trường nước ngọt, có thể nuôi trong ao, ruộng cấy lúa, là sản phẩm thuỷ sản có giá trị kinh tế, có nhu cầu ở thị trường trong và ngoài nước. Tôm càng xanh đực và cái có sự khác biệt rõ rệt về tốc độ sinh trưởng, kích cỡ khi thu hoạch, thường cuối vụ nuôi tôm đực có kích thước lớn hơn đáng kể so với tôm cái. Việc tạo đàn tôm càng xanh toàn đực phục vụ nuôi tôm càng xanh có năng suất, kích thước lớn khi thu hoạch là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và nuôi trồng thuỷ sản.

Từ kết quả nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể, có chế di truyền điều khiển giới tính ở tôm càng xanh, các nhà khoa học đã kết luận bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n ở tôm càng xanh là 118, tôm đực đồng giao tử cặp nhiễm sắc thể giới tính (ZZ) và tôm cái dị giao từ (WZ). Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu điều khiểu giới tính tạo tôm càng xanh toàn đực và hiện có 3 giải pháp công nghệ được coi là có triển vọng ứng dụng, đó là:

1. Kỹ thuật chuyển giới tính
Sử dụng hooc môn đực hoá trộn vào thức ăn cho tôm ăn, hoặc hoà tan thành dung dịch để ngâm, tắm tôm trong những khoảng thời gian nhất định. Ðàm tôm toàn đực kiểu hình được tạo ra gồm các cá thể tôm đực có kiểu di truyền ZZ và tôm đực có kiểu di truyền WZ chuyển giới tính. Kết quả sử dụng hooc môn chuyển giới tính tôm phụ thuộc vào một số yếu tố, như loại hooc môn, thời gian, liều lượng sử dụng, giai đoạn phát triển của tôm khi đưa vào xử lý

2. Tạo tôm cái giả ZZ bằng hoocmone
Khi cho tôm cái giả ZZ cho sinh sản với tôm đực thường ZZ sẽ có đàn tôm con toàn đực ZZ. Có thể tạo tôm cái giả có kiểu di truyền ZZ bằng kỹ thuật chuyển giới tính cái sử dụng hooc môn điều khiển cái hoá.

3. Kỹ thuật cắt tuyến androgenic tạo tôm cái giả ZZ
Tuyến androgenic ở tôm càng xanh chi phối quá trình biệt hoá giới tính đực. Một số nhà nghiên cứu cho thấy tôm càng xanh đực ở giai đoạn 30 - 60 ngày thổi khi được cắt bỏ tuyến androgenic sẽ chuyển giới tính thành tôm cái, tôm cái chuyển gới tính (ZZ) do cắt bỏ tuyến androgenic khi sinh sản với tôm đực thường (ZZ) cho đàn tôm có tỷ lệ đực từ 98 - 100%.

II. Kết quả nghiên cứu ở nước ta
Từ năm 1999 đến nay Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I đã kết hợp với Ðại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản III và Trường trung học thuỷ sản IV tiến hành một số nghiên cứu nhằm điều khiển giới tính, tạo tôm càng xanh toàn đực. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực nghiệm điều khiển giới tính ở tôm càng xanh theo 3 giải pháp công nghệ nêu trên.

Nghiên cứu chuyển giới tính: Ðược tiến hành trong 2 năm 1999 và 2000. Ðã tiến hành nghiên cứu thăm dò dùng hooc môn 17α - methyltestosterone (MT) với 2 phương pháp xử lý: trộn hooc môn vào thức ăn và hoà tan thành dung dịch để tắm tôm. Ðã thí nghiệm trộn với các hàm lượng 30 - 40 và 50 mg MT/kg thức ăn, cho tôm giai đoạn PL5 và PL10 ăn thức ăn trộn hooc môn trong thời gian 30 ngày và 45 ngày ở các nồng độ 3ppm, 5ppm và 10ppm MT. Cũng đã thí nghiệm tắm tôm giai đoạn PL5 và PL10 trong thời gian 9 ngày và 15 ngày. Sau 6 đợt thí nghiệm, tỷ lệ tôm đực ở các lô thí nghiệm cho ăn thức ăn trộn hooc môn dao động từ 42,1 - 76,5%, ở các lô thí nghiệm tắm trong dung dịch hooc môn là 29,7 - 72,7%, không đạt tỷ lệ giới tính như mong muốn.

Nghiên cứu tạo tôm cái ZZ bằng sử dụng hooc môn: Ðã thí ngiệm sử dụng 2 loại hooc môn nhóm estrogen là Diethynylstibestrol (DES) và Ethynylestradiol (EE). Mỗi loại hooc môn đều thí nghiệm với tôm giai đoạn PL5 và PL10 ăn thức ăn trộn 100 và 200 mg/kg thức ăn trong thời gian 30 và 45 ngày, tỷ lệ tôm cái ở các lô thí nghiệm đạt từ 10 - 54,6% không sai khác tỷ lệ giới tính ở các lô đối chứng. Các lô thí nghiệm tắm tôm giai đoạn PL5 ở nồng độ 5ppm trong thời gian 9 và 15 ngày cho tỷ lệ tôm cái 28,6 - 50%.

Các thí nghiệm chuyển giới tính và tạo tôm cái giả ZZ bằng sử dụng hooc môn nói trên đều không đạt kết quả như mong muốn mặc dù chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm thông tin từ các nghiên cứu nước ngoài về loại hooc môn sử dụng, liều lượng, thời điểm, giai đoạn tôm xử lý để ứng dụng vào nghiên cứu ở nước ta. Tỷ lệ chuyển giới tính tôm trong các lô thí nghiệm của chúng tôi đều thấp cho thấy có thể các loại hooc môn sử dụng hoàn toàn không có tác dụng, hoặc tác dụng rất ít đến quá trình biệt hoá giới tính ở tôm càng xanh. Hooc môn chuyển giới tính đực 17α - methyltestosterone có bản chất steroid, trong khi đó một số nghiên cứu gần đây cho rằng hooc môn biệt hoá giới tính đực ở giáp xác rất có thể có bản chất protein. Ngoài ra do chưa xác định chính xác tuổi của tôm bắt đầu biệt hoá giới tính, do vậy không thể loại trừ khả năng tôm được đưa vào thí nghiệm ở giai đoạn phát triển (PL5 và PL10), với những thời gian 30 - 45 ngày ở hình thức cho ăn và 9 - 15 ngày ở hình thức tắm là chưa thích hợp.

III. Nghiên cứu tạo tôm cái ZZ bằng cắt bỏ tuyến androgenic
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2000 về nghiên cứu điều khiển giới tính cá rô phi xanh và tôm càng xanh, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I và Ðại học Quốc gia Hà Nội hợp tác nghiên cứu tổ chức học tuyến androgenic, xác định vị trí tuyến trên tiêu bản tổ chức học và trên tiêu bản tôm sống làm cơ sở ứng dụng kỹ thuật giải phẫu cắt bỏ tuyến. Tháng 6 năm 2000 được sự tài trợ của Hội đồng Anh tại Hà Nội, chúng tôi đã có đợt thực tập về xác định vị trí, kỹ thuật giải phẫu tuyến androgenic trên tôm càng xanh, tôm he chân trắng, tôm vỏ cứng do Giáo sư A. Sagi (Israel) chỉ dẫn. Từ cuối năm 2000 đến nay, chúng tôi đã tiến hành giải phẫu cắt bỏ tuyến androgenic ở hàng trăm tôm càng xanh giai đoạnh 60 ngày tuổi, nuôi tôm đã giải phẫu trong điều kiện ao nuôi tại Bắc Ninh và sau 5 tháng đã thu được những tôm cái chuyển giới tính mang trứng, khẳng định triển vọng ứng dụng kỹ thuật giải phẫu cắt bỏ tuyến androgenic điều khiển giới tính tôm càng xanh ở nước ta.

IV. Con đường đưa công nghệ vào sản xuất
Các công trình nghiên cứu của nước ngoài cho thấy tôm cái mang trứng do cắt bỏ tuyến androgenic là trứng thụ tinh, sinh sản với tôm đực thường cho tỷ lệ đực ở thế hệ con là 98 - 100%, tuy nhiên kết quả của các tác giả đó mới ở phạm vi nghiên cứu, số lượng tôm thí nghiệm còn ít. Chúng tôi chưa thấy những công bố kết quả ở phạm vi sản xuất. Do vậy, trước khi đưa công nghệ tạo tôm càng xanh toàn đực bằng kỹ thuật tạo tôm cái ZZ do cắt bỏ tuyến androgenic vào sản xuất ở nước ta, theo chúng tôi cần phải tiến hành những kiểm nghiệm công nghệ đánh giá tỷ lệ đực và mức độ ổn định của nó ở đàn tôm con của tôm cái.

Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất Tôm Càng Xanh toàn đực, Nguồn: Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I.

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

Kỹ thuật gây màu nước trước khi nuôi Tôm

Kỹ thuật gây màu nước trước khi nuôi tôm


Trong nuôi tôm, màu nước nuôi rất quan trọng. Có màu nước lợi cho tôm và cũng có màu nước lại gây hại cho tôm. Vì vậy người nuôi tôm cần nắm vững quy luật thay đổi màu nước. Bản chất của màu nước được định lượng bằng hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ chứa trong nước.


1. Thành phần, tính chất của nước
a) Chất vô cơ
Các hợp chất vô cơ bao gồm chất không hòa tan và hòa tan. Nếu nước ao nuôi đủ chất lượng thì hàm lượng các chất vô cơ không hòa tan (cát, bùn) không được quá 80mg/lít, nếu quá cao tôm sẽ chết vì ngạt thở do bị bít mang. Còn các chất vô cơ hòa tan thường do phèn sắt (màu đỏ gạch) trong đó sắt có hóa trị 1, 2, 3 rất có hại cho tôm. Khi mực nước ngoài cao hơn mực nước ao nuôi thì đáy ao có thể lỏng, dạng rỉ sắt màu đỏ làm nước ao tôm có màu gạch đỏ, trên mặt ao xuất hiện ván.

b) Chất hữu cơ
- Các chất hữu cơ bao gồm các sinh vật phù du, thực vật đáy, động vật nguyên sinh. Các phiêu sinh thực vật (sinh vật phù du) và phiêu sinh động vật là nguồn thức ăn tự nhiên của tôm, giúp tôm tăng trưởng nhanh.

- Việc tạo màu nước thông qua sử dụng các loại phân hữu cơ và vô cơ là tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, nhất là ở giai đoạn đầu khi tôm còn nhỏ. Muốn nuôi tôm, trước đó phải nuôi màu nước, để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

2. Kỹ thuật gây nuôi nước
- Bón phân vô cơ (urê hoặc DAP): bón ngày thứ nhất 2,2kg/1.000m2; từ ngày thứ 2-21, mỗi ngày bón 0,65kg/1.000m2; từ ngày thứ 22-30, bón 0,95kg/1.000m2.
- Bón phân hữu cơ: dùng cám sống, bón từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 21; bón 1-1,2kg/1.000m2/ngày; từ ngày 22-30 bón 1,3kg/1.000m2/ngày.
- Các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân gà, thường dễ mang theo vi khuẩn gây bệnh. Còn các loại phân DAP, urê, tuy tạo nguồn thức ăn cho sinh vật phù du rất tốt, nhưng tàn lụi rất nhanh. Hai loại phân hữu cơ và vô cơ tuy có giúp phát triển sinh vật phù du song màu nước rất dễ lên và xuống. Các loại sinh vật phù du do các loại phân này tạo điều kiện phát triển chỉ đạt yêu cầu về định lượng, mà không đạt về định tính. Nó tùy thuộc vào loại tảo sẵn có trong ao, chứ không định hướng được loại tảo nào cần ưu tiên phát triển, loại tảo nào cần hạn chế. Việc sử dụng chế phẩm sinh học như E.M.P để nuôi các phiêu sinh là đặc dụng nhất, vì nó chủ động đưa vào nước ao nuôi một hệ vi sinh vật có lợi, nhằm giúp các loại tảo có ích phát triển và hạn chế các loại tảo có hại.

- Các chế phẩm sinh học vừa đáp ứng được yêu cầu trên, vừa làm cho nước ao nuôi "béo lên", vừa làm sạch nước, giảm BOD, COD, phòng bệnh và kích thích tôm sinh trưởng. Nếu ao nuôi khó gây màu nước, có thể do nước ao thiếu nguồn tảo cần thiết, nên lấy nước ở ao "béo" khác (có màu nước tốt) làm nguồn giống cho vào các ao này, rồi sử dụng chế phẩm sinh học để thúc đẩy các sinh vật phù du hữu ích phát triển.

- Khi màu nước ao nuôi đã đạt yêu cầu (vàng nâu hoặc nâu lục), độ trong đạt 25-40cm thì thả tôm giống. Sau khi thả tôm giống, do năng lực bơi và bắt mồi của tôm còn yếu, trong 20-30 ngày đầu (tôm con chủ yếu ăn các phiêu sinh vật) nên tạo màu nước tốt lúc đầu là biện pháp kỹ thuật quan trọng, để nâng cao tỉ lệ tôm sống, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt ở giai đoạn giữa và giai đoạn cuối.

- Chú ý, khoảng 7-10 ngày sau khi thả, tôm đã bắt mồi nên các phiêu sinh trong ao nuôi có thể cạn dần, vì thế cần tiếp tục bón tiếp chế phẩm sinh học để ổn định màu nước, đảm bảo tôm con không bị gián đoạn nguồn thức ăn tự nhiên.
- Giai đoạn đầu thực hiện 7-10 ngày "bón thúc" chế phẩm sinh học một lần, cho đến khi tôm đạt yêu cầu để chuyển sang giai đoạn giữa và cuối.

- Ao có màu nước tốt nghĩa là các loại phiêu sinh vật trong ao phát triển tốt, tôm nuôi trong vòng 20-30 ngày đầu không cần cho ăn thêm thức ăn công nghiệp. Trong trường hợp mật độ 50 con/m2, nguồn thức ăn tự nhiên có thể không đủ, cần cho thêm lượng thức ăn công nghiệp thích hợp dành cho tôm giống và đó cũng là cách gián tiếp tạo màu nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

- Giai đoạn đầu không được cho tôm ăn thức ăn tươi sống như cá, nhuyễn thể, trứng nghiền, vì tôm con chưa ăn được mà còn tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh, có hại phát triển, vô tình phá vỡ cơ cấu sinh thái nước ao.


Kỹ thuật gây màu nước trước khi nuôi tôm, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Bệnh đục cơ trên Tôm Càng Xanh

Bệnh đục thân trên Tôm Càng Xanh


Nhằm giúp người nuôi tôm theo dõi sát diễn biến môi trường, dịch bệnh, sức khoẻ của tôm, để có biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả, đem lai năng suất cao, từ đầu tháng 5 năm 2009 đến nay, Công ty Diên Khánh đã tổ chức 3 đoàn cán bộ, kỹ sư đến từng khu vực tiến hành kiểm tra tôm định kỳ cho bà con. Mỗi đoàn kiểm tra tôm có mang theo kính hiển vi, các hộp test môi trường pH, NH3 , NO2 , và các dụng cụ kiểm tra các thông số môi trường khác, cùng với sự hỗ trợ của các chuyên gia nuôi tôm người Thái Lan của Tập đoàn Kaset – Thái Lan.

1. Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh là cầu khuẩn Lactococcus garvieae (Enterococcus seriolicida). Là các vi khuẩn gram (+), có dạng hình cầu hay hình trứng. Vi khuẩn phát triển ở nhiệt độ 10-400C, độ muối thích hợp 0,5-6,0 %o, pH 9,6 (theo Winton Cheng, Jiann-Chu Chen, 1998-2001).
Theo phân lập của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I ở một mẫu tôm càng xanh bị bệnh đục thân ở Hải Phòng, đã phân lập được cầu khuẩn gram dương và trực khuẩn dung huyết mạnh, gram âm.

2. Dấu hiệu bệnh lý

Tôm kén ăn, hoạt động chậm chạp, đầu tiên cơ phần đuôi chuyển màu trắng đục, có thể quan sát rõ các vết tráng đục dưới ánh sáng mặt trời, sau lan dần lên phía đầu ngực, tôm bệnh nặng mang chuyển màu trắng đục, vỏ tôm mềm, khi luộc chín màu hồng nhợt nhạt, mất đi sắc tố đỏ của những con tôm khỏe mạnh. Tôm bị bệnh này có tỷ lệ chết cao.

3. Phân bố và lan truyền bệnh
Bệnh đục cơ ở tôm đã xảy ra ở các ao nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) ở Trung Quốc, Đài Loan, tỷ lệ nhiễm bệnh từ 30- 75%. Ở Việt Nam bệnh đục cơ đã xuất hiện một vài năm nay, từ năm 2000 tôm càng xanh bột (nguồn gốc từ Trung Quốc) nhập về Thanh Trì, Hà Nội, đã có hiện tượng tôm đục cơ và chết hàng loạt. Đầu năm 2002 đàn tôm bố mẹ (5-6 tạ) của một trại sản xuất tôm giống ở Hải Phòng đã bị bệnh đục cơ. Sau khi cho nở ấu trùng và ương thành tôm bột, tỷ lệ sống rất thấp đạt khoảng 1%. Tháng 5 năm 2002, một số ao nuôi tôm càng xanh ở Thanh Trì, Hà Nội thả giống cỡ 0,2g/con, nuôi sau 15-20 ngày tôm đã xuất hiện bệnh đục cơ và chết rải rác. Tỷ lệ nhiễm bệnh trong đàn tôm nuôi ở Thanh Trì từ 6-90% .

4. Phòng và trị bệnh
- Kiểm tra các ao nuôi tôm càng xanh của anh Khanh, anh Cường và nhiều ao tôm càng xanh ở khu vực xã Phú Thọ, Phú Thành A, Phú Thành B, huyện Tam Nông, Tỉnh Đồng Tháp, ông Super Chai – chuyên gia nuôi tôm người Thái Lan, có nhận định:

- Ở khu vực này, nhiều ao tôm nuôi được 3 đến 4 tháng. Tuy nhiên môi trường nước trong ao nuôi, cũng như ở ngoài kênh và các đoạn sông không được tốt, chất dơ bẩn hữu cơ lơ lửng quá nhiều, gây ra bệnh đen mang, đóng rong, cản trở đường hô hấp của tôm, làm cho tôm phát sinh bệnh và chết nhiều. Nhiều bà con xử lý các loại thuốc diệt khuẩn và trị bệnh, tôm tiếp tục chết nhiều hơn. Tình trạng này nếu xử lý không đúng sẽ dẫn đến tôm chết hàng loạt, người nuôi tôm sẽ thua lỗ trầm trọng. (Thực tế này năm 2008 đã diễn ra tại huyện Tam Nông, Lấp Vò, Tỉnh Đồng Tháp, hyện Thoại Sơn, Tỉnh An Giang. Có người thua lỗ đến 400 đến 500 triệu đồng).

- Để xử lý trường hợp này, ông Super Chai - Thạc sĩ Thuỷ sản Thái Lan - Chuyên gia Bệnh học về con Tôm, khuyến cáo: Chỉ có phương án tốt nhất sử dụng dòng vi sinh, xử lý tốt môi trường theo các sản phẩm của Tập đoàn Kaset Center – Thái Lan, như sau:

+ Đánh SUPER CHARGE xử lý nước theo liều mạnh: 1 kg cho 1.600 m3. Sau đó 1 ngày đánh 3 gói DE-SMECTITE và 1 lon HYBACTZYM cho 2000 m2. Có như vậy môi trường nước và đáy ao mới tốt trở lại, giúp cho tôm có đủ oxy hô hấp và tôm khoẻ.
+ Về cho ăn: Cho ăn Men đường ruột PROBOOST và bổ gan HEXANIC, mỗi loại 10 gram / 1 kg thức ăn. Cho ăn liên tục. Trong quá trình đó bổ sung thêm KASET C hoặc K.C.C vào các cử ăn.

- Xử lý theo cách trên sau 7 ngày xử lý lại một lần nữa, đến khi màu nước ao tốt, tôm khoẻ mạnh mới tiến hành xử lý diệt khuẩn bằng EXTRADINE 6000 hoặc EXTRADINE 9000. Không được xử lý loại hoá chất nào khác.

- Qua thực tế xử lý ao tôm 8 ha của Anh Khanh và một số bà con ở xã Phú Thọ đạt kết quả tốt.

- Để tổng kết và truyền đạt kinh nghiệm xử lý các bệnh khó chữa trên tôm càng xanh hiện nay tại các vùng Tam Nông, Lấp Vò, thuộc Tỉnh Đồng Tháp, ngày 20/7/2009 vừa qua, tại Nhà hàng Sơn Long Quán, Thị trấn Tràm Chim, Công ty TNHHTM-DV Diên Khánh đã tổ chức buổi Hội thảo chuyên đề về chữa bệnh cho Tôm Càng Xanh. Trên 150 khách hàng là bà con nuôi tôm càng xanh khu vực huyện Tam Nông và huyện Lấp Vò cùng với đại biểu Trung tâm Khuyến Ngư Tỉnh Đồng Tháp, Trạm Khuyến Ngư huyện Tam Nông đã đến dự. Về phía Công ty Diên Khánh có ông Nguyễn Thanh Lang – Giám đốc, Ông Super Chai – chuyên gia kỹ thuật của Tập đoàn Kaset – Thái Lan, và nhiều cán bộ, kỹ sư của Công ty Diên Khánh.

- Sau khi nghe bà con nuôi tôm càng xanh phát biểu ý kiến, trăn trở và lo lắng về một số bệnh diễn ra phổ biến trên con tôm càng xanh đang gây thiệt hại lớn cho bà con hiện nay, ông Nguyễn Thanh Lang – Giám đốc Công ty Diên Khánh, chủ trì hội thảo, đúc kết lại như sau:

+ Nguyên nhân chủ yếu gây ra dịch bệnh trên con tôm càng xanh hiện nay là do môi trường ao nuôi ( nước và đáy ao ) và môi trường nước ngoài sông, kênh rạch đã bị ô nhiễm nặng. Người nuôi tôm càng xanh hiện nay phải hết sức chú ý đến vấn đề này. Con tôm càng xanh rất mẫn cảm và nhạy cảm với các loại hóa chất, cho nên việc đưa hóa chất vào xử lý môi trường sẽ có nguy cơ thất bại cao. Phương pháp xử lý chính ở đây là phải dùng vi sinh định kỳ nhằm xử lý, làm sạch môi trường nước và đáy ao nuôi. Qua thực tế kiểm tra và xử lý ao nuôi theo phương pháp của Công ty Diên Khánh trong một tháng qua như đã nêu ở trên đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Đây là bài học kinh nghiệm thực tế rất quan trọng đối với con tôm càng xanh.
+ Mặt khác, chất lượng ở các sông, kênh rạch, và trong các ao nuôi tôm hiện nay luôn ở trong tình trạng thiếu các loại chất khoáng để ổn định môi trường và cung cấp cho quá trình lột vỏ của tôm càng xanh. Do vậy sau khi lột vỏ, tôm rất yếu, chậm cứng vỏ, dễ bị các loại vi khuẩn tấn công, và thường hay xảy ra bệnh mềm vỏ, đục thân, chậm lớn và chết dần, chết ngày càng nhiều. Có ao tôm chết liên tục, không có cách nào chặn đứng được, gây thiệt hại rất nặng đối với bà con nuôi tôm. Đối với trường hợp này, Công ty Diên Khánh có các loại khoáng chất lượng cao đã được áp dụng thành công tại nhiều ao tôm trên địa bàn huyện Tam Nông và huyện Lấp Vò. Đó là khoáng DE-SMECTITE có tác dụng hấp thu khí độc, thuốc trừ sâu, kim loại nặng, phân u-rê…giúp ổn định môi trường. Khoáng CLIMAX và khoáng MIMAC-V8 kích thích tôm lột vỏ, cứng vỏ nhanh và tôm nặng ký. OCEANIC GOLD cũng là loại khoáng chất cho ăn, bao hồm cả các loại a-xít amin giúp cho tôm cứng vỏ, bóng đẹp, sức đề kháng cao và tăng trọng nhanh đã được bà con sử dụng phổ biến trong nhiều năm qua.
+ Về nguyên nhân dẫn đến các dịch bệnh khó chữa trong thời gian qua, ông Nguyễn Thanh Lang cho biết con giống có yếu tố rất quan trọng. Do vậy, bà con cần chọn mua con giống có nguồn gốc, chất lượng cao, có thể chấp nhận giá cả cao hơn một chút, để cho quá trình nuôi được an toàn.

- Trong dịp này, Ông Nguyễn Thanh Lang – Giám đốc Công ty Diên Khánh cũng đã giới thiệu một số sản phẩm mới Thương hiệu V8 của Mỹ được Công ty phân phối độc quyền tại Việt Nam, áp dụng cho tôm càng xanh từ ấu trùng đến tôm thịt. Đó là : BENTHOS-V8 - tạo trứng nước, thức ăn tự nhiên cho tôm từ khi mới thả, giúp tôm tăng tỉ lệ sống, đạt đầu con cao, khoáng tăng trưởng BETTER-V8, sản phẩm kích thích tôm bắt mồi mạnh và lớn nhanh có tên gọi Siêu Dinh dưỡng dạng kem CREAM-V8,sản phẩm xử lý nước, lắng tụ chất lơ lửng, tạo màu nước đẹp SUPER-V8, sản phẩm bổ gan HELP G-V8,v.v…

- Phát biểu tại buổi hội thảo, đông đảo bà con nuôi tôm càng xanh tại 2 huyện Tam Nông và Lấp Vò đều cho rằng bệnh trắng thân, đục thân trên tôm càng xanh là căn bệnh nan giải trong hiện nay, đã gây thiệt hại rất lớn đối với bà con. Hy vọng, với bài học kinh nghiệm áp dụng các sản phẩm của Công ty Diên Khánh theo hướng sử dụng vi sinh, sẽ giúp bà con áp dụng thành công, đem lại vụ mùa thành công trong năm 2009 này và mở rộng áp dụng cho những năm tiếp theo.

Bệnh đục cơ trên tôm càng xanh, Nguồn: Công ty Duyên Khánh.

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

Một số bệnh trên Tôm càng xanh

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN TÔM CÀNG XANH

Chất lượng nước xấu là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tôm chậm lớn, phát sinh bệnh và hao hụt nhiều, do đó trong quá trình nuôi cần lưu ý đến quản lý cho ăn và thay nước là hai nhân tố quyết định đến thành công trong nuôi tôm.
1. Bệnh đen mang

- Nguyên nhân: do nền đáy bị bẩn, nước có nhiều chất hữu cơ, pH thấp.
- Dấu hiệu: thấy xuất hiện nhiều chấm đen trên các tấm mang, bệnh nặng tôm chết nhiều, cần phát hiện sớm, để kịp thời khắc phục.
- Khắc phục: Bằng cách thay nước mới, bón vôi CaCO3 liều lượng 1 - 2 kg/100m3.
2. Bệnh đốm nâu
- Sau khi nuôi 2 - 3 tháng trở đi trên cơ thể xuất hiện các đốm màu nâu và từ từ chuyển sang màu đen, khi xuất hiện bệnh tôm sẽ bị ăn mòn các phần phụ như: đuôi, chân bụng, râu, trên thân tôm. Tôm bị bệnh yếu, hoạt động chậm chạp, con bị nặng sẽ chết.
- Thời gian xuất hiện: Bệnh có thể xuất hiện quanh năm nhưng thường tập trung vào mùa xuân và mùa thu.
- Biện pháp khắc phục: Tăng cường dinh dưỡng, xử lý môi trường nước, bổ sung thêm Vitamin C. Không cho ăn những loại thức ăn ôi thiu hoặc đã bị nấm mốc.
3. Bệnh đục cơ

- Dấu hiệu: Tôm kém ăn, hoạt động chậm chạp. Cơ thể chuyển dần sang màu trắng đục (từ đuôi tôm lên). Vỏ tôm mềm.
- Bệnh này thường xảy ra trong giai đoạn tôm giống (PL), quan sát thấy xuất hiện một số con có màu trắng đục trên thân, điểm trắng đục xuất phát từ đuôi và lan dần ra, tôm bị bệnh bơi lội khó khăn, những con bị nặng sẽ chết. Bệnh xảy ra do các hiện tượng sốc của môi trừơng, như sự dao động của nhiệt độ, độ mặn, hay nuôi với mật độ cao cũng như các thao tác trong khi nuôi không phù hợp.
- Tỷ lệ mắc bệnh thường từ 10 – 30%, không sử dụng thuốc kháng sinh, chủ yếu là phòng ngừa bằng cách giảm tối đa các hiện tượng gây sốc. Dùng vôi CaCO3 liều lượng 1 - 2 kg/100m3. Bổ sung thêm vitamin C liều lượng 2 - 3g/1kg thức ăn.
4. Bệnh đóng rong

Tôm đóng rong, tôm đực có đôi càng phát triển rất lớn (tôm càng xào): Nguyên nhân do chất lượng nước không tốt và dinh dưỡng kém. Khắc phục bằng cách thay nước mới, tăng cường thức ăn giàu dinh dưỡng.

Một số bệnh thường gặp trên tôm càng xanh, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Kỹ thuật nuôi Tôm càng xanh thâm canh

KỸ THUẬT NUÔI TÔM CÀNG XANH THÂM CANH


1. Thiết kế ao nuôi

- Hình dạng và kích cở ao nuôi: Ao thường có hình chữ nhật, kích thước thích hợp và phổ biến là 0,2 – 0,6 ha. Mức nước thích hợp từ 0,7 – 0,9m. Bờ ao phải chắc chắn, không rò rỉ, không hang hốc làm nơi trú ẩn cho các sinh vật hại tôm. Mặt bờ rộng ít nhất là 2m nhằm giúp cho việc đi lại chăm sóc tôm thuận lợi, bờ phải cao, không rò rỉ, xung quanh bờ có lưới chắn để hạn chế địch hại từ bên ngoài vào ao nuôi. Độ nghiêng đáy ao từ 3 - 5%.
- Ao phải giữ được nước trong suốt thời gian nuôi. Mức nước trong ao từ 1,2 - 1,5m.
- Cống: Mỗi ao nuôi cần ít nhất là một cống (cống gỗ hay cống xi măng dạng lỗ hay dạng ván phay). Nếu hai cống thì đặt mộýt cống cấp, một cống tiêu về 2 phía của ao nuôi. Kích thước cống tùy thuộc vào kích thước ao nuôi cũng như kh năng trao đổi nước cho ao vào mỗi cao nước cường (cống phải trao đổi từ 20 - 30% lượng nước ao nuôi vào mỗi lần nước cường). Những ao diện tích nhỏ hơn 500 m2 có thể đặt 1 - 3 cống lổ xi măng hay cống bọng dừa với đường kính 20 - 30 cm.
- Bơm: máy nhỏ di động cũng rất cần thiết cho ao nuôi tôm, máy bơm giúp trao đổi nước ao theo định kỳ hay vào những lúc nước ao bị dơ bẩn.
2. Chuẩn bị ao nuôi
Trong nuôi tôm, công việc chuẩn bị ao nuôi đóng vai trò rất quan trọng, để có một ao nuôi tôm chuẩn bị tốt nên thực hiện các bước sau:
- Vệ sinh ao: sau mỗi vụ nuôi, ao nhất thiết phải sên vét lớp bùn đáy nếu có thể nên loại bỏ hết lớp bùn lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc.
- Phơi đáy ao: ao cần phơi khô đáy 3 - 5 ngày, công việc này giúp oxy hóa các vật chất hữu cơ còn lại ở đáy đồng thời giải phóng các khí độc như H2S, NH3, CH4... trong đất đáy ao. Tuy nhiên các ao đáy bị phèn không được phơi đáy ao quá khô và cày bừa thì sẽ là tầng sinh phèn (pyrite) bị oxy hóa và gây nước ao bị phèn. Lớp đất bị phèn nên loại bỏ khỏi bờ ao hay có kế hoạch xử lý nếu không chúng cũng bị oxy hóa và tạo phèn chy xuống ao khi trời mưa.
- Kiểm tra pH đất đáy ao: việc này giúp xác định đúng lượng vôi sử dụng nhằm nâng pH nước lên cao nếu cần. Phương pháp đo pH đất đáy ao đơn giản là lấy một ít đất đáy ao đem pha trộn với nước ở tỷ lệ 1:1 rồi dùng máy đo trực tiếp hay dùng giấy quì tím (khi dùng giấy quì thì nhỏ cẩn thận 1 - 2 giọt vào một mặt giấy và xem mặt kia). Cách tính toán lượng vôi theo bảng sau:

- Gây nuôi thức ăn tự nhiên: sử dụng bột đậu nành hay bột cá để bón với liều lượng từ 2 - 3 kg/100 m2. Sau khi bón bột đậu nành hay bột cá 1 - 2 ngày thì tiến hành lấy nước vào ao ở mức 30 - 40cm và giữ 1 - 2 ngày để tảo phát triển, trước khi tăng mức nước lên 60cm.
- Trong trường hợp có cá tạp xuất hiện trong ao thì phải diệt trước khi đưa đủ nước để thả giống. Bột trà (chứa saponine 10 - 13%) dùng 20 mg/l, hay dây thuốc cá (chứa retenone) dùng 4g/ m3. Tuy nhiên, tính độc của saponine và retenone xảy ra mạnh ở nhiệt độ cao vì vậy nên chọn thời điểm phù hợp để diệt. Một ngày sau khi sử dụng hóa chất thì tiếp tục lấy nước vào (qua lưới mịn) đến khi mức nước đạt 0,7 - 0,9m thì kiểm tra màu nước, nếu màu nước đạt 30 - 40cm thì có thể tiến hành thả tôm nuôi.
Ao nuôi tôm được tiến hành chuẩn bị cải tạo theo yêu cầu kỹ thuật như sau:
- Dọn sạch các loại cây cỏ xung quanh ao.
- Tiến hành tát cạn nước sên vét lớp bùn đáy ao, lắp hang cua, lổ mọi.
- Diệt tạp bằng cách bón vôi bột ở xung quanh bờ và đáy ao với liều lượng 10 - 15 kg/100 m2. Đối với ao mới đào phải rửa phèn nhiều lần trước khi bón vôi.
- Phơi khô đáy ao từ 3 - 5 ngày.
- Tiến hành lấy nước vào hệ thống nuôi thông qua lưới lọc nhằm hạn chế địch hại và trứng các loài cá tạp vào ao nuôi, khi mức nước trong ao đạt 1,2m, 2 - 3 ngày sau tiến hành thả giống.
3. Thả giống
- Tùy theo kích cỡ giống và cách thức nuôi (nuôi đơn hay nuôi kết hợp) và mức độ thâm canh mà mật độ thả có khác nhau.
- Trong nuôi đơn: tôm càng xanh giống tự nhiên có thể thả ở mật độ 4 - 6 con/ m2, còn với tôm giống nhân tạo thả 20 con/ m2.
- Hiện nay, trong nuôi tôm càng xanh việc thả giống đơn tính (toàn đực) cũng đang được chú ý bởi lẽ tôm đực lớn nhanh và cho sản lượng cao. Tuy nhiên, việc tách đàn tôm đực và cái đối với tôm kích cỡ nhỏ thường không dễ dàng thực hiện. Có các cách thường áp dụng như sau:
+ Tôm giống cỡ 2g có thể dựa vào lỗ sinh dục ở gốc chân ngực năm để phân biệt.
+ Tôm giống từ 1g trở lên có thể dựa vào nhánh phụ sinh dục ở chân bụng thứ nhất.
+ Tôm giống từ 2g trở lên có thể dựa vào gờ cao ở đốt bụng thứ nhất.
- Các cách nêu trên thường có nhược điểm là khó thực hiện với một số lượng tôm lớn, dễ làm tôm giống bị xây xát gây hao hụt nhiều. Ngoài ra, có thể thả nuôi chung đực và cái và sau sau 3 - 4 tháng nuôi tôm cái sẽ mang trứng, trong trường hợp naữy thu tôm cái bán và giữ lại tôm đực nuôi tiếp.
- Thả giống: thả giống tốt nhất vào sáng sớm, trước khi thả ngâm bao 15 - 30 phút, sau đó mở miệng bao cho nước vào trong bao và từ từ hạ miệng bao xuống để tôm bơi ra ngoài ao.
4. Thức ăn
a. Thức ăn cho tôm giai đoạn còn nhỏ (1 tháng đầu)
- Dùng thức ăn viên có hàm lượng đạm 35%. Thức ăn được rãi đều khắp ao. Lượng cho ăn lúc mới thả giống chiếm 30% trọng lượng thân. Cho ăn 4 lần/ngày.
- Tôm ăn thức ăn là do mùi (cơ quan xúc giác râu a1 và a2) chứ không phải thấy. ở giai đoạn nhỏ (1 tháng đầu sau khi thả) tôm bắt được thức ăn qua bơi lội và hầu hết là thức ăn tư nhiên (động vật phiêu sinh). Giai đoạn này cơ quan xúc giác phát triển chưa đầy đủ nên chúng chưa thể tìm mồi tốt, thức ăn cần rãi khắp ao, cũng có thể trộn thức ăn chế biến và tươi sống để gây mùi. Các giai đoạn tiếp theo cơ quan thính giác của tôm phát triển hòan chỉnh và tự đi tìm thức ăn được nên có thể cho tôm ăn ở những điểm nhất định trong ao.
b. Thức ăn cho tôm giai đoạn lớn (tháng thứ 2 đến thu hoạch)
- Sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm là 30% khi tôm 2 - 3 tháng tuổi, 25% khi tôm 4 - 6 tháng tuổi.
- Theo dõi tăng trưởng và tình trạng sức khoẻ tôm: do đặc tính của tôm lớn lên là là nhờ lột xác và chu kỳ lột xác tuỳ thuộc vào kích cỡ và điều kiện môi trường sống. Kể từ 1,5 tháng tuổi trở đi, hàng tuần phải theo dõi sư sinh trưởng (tính đồng đều) của tôm bằng sàng ăn, chài và kết hợp với chu kỳ lột xác để có thể kích thích tôm lột xác đồng loạt và thay đổi thức ăn và khẩu phần ăn phù hợp.

5. Quản lý chăm sóc
- Hàm lượng oxy hòa tan
+ Trong ao nuôi tôm hay trong ao nuôi thủy sản nói chung thì lượng oxy hòa tan trong nước có được do quá trình quang hợp của tảo, xâm nhập từ không khí vào và trao đổi nước ao. Tuy nhiên, lượng oxy trong ao thường không ổn và dao động lớn giữa ngày và đêm. Trong ao oxy mất đi là do sự hô hấp của tôm cá, to vào ban đêm và quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ. Oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 3,5mg/l.
+ Duy trì tốt lượng oxy trong ao có thể là nhờ vào quá trình trao đổi nước thường xuyên, mặt ao thoáng giúp cho quá trình khuếch tán oxy từ môi trường không khí vào dễ dàng nhờ sóng gió và cần lưu ý điều chỉnh lượng phiêu sinh vật trong ao để tránh không cân bằng oxy giữa ngày và đêm (theo màu nước).
- pH nước ao: trong ao nuôi pH luôn luôn có sự biến động theo sự nở hoa của to (pH tăng cao khi to quang hợp mạnh) và sự phân hủy các hợp chất hữu cơ ở đáy ao (pH thấp tầng đáy), do mưa rửa phèn từ bờ ao xuống hay nguồn nước bị nhiễm phèn (pH thấp). Tất c sự biến động tăng gim pH của nước ao nuôi (> 9 hay < 7) luôn có sự nh hưởng đến đời sống của tôm. Phương án xử lý là thay nước hay sử dụng vôi điều chỉnh sự thay đổi pH nước trong ao. Dùng vôi với lượng 8-10kg/10m2, xử lý phần xung quanh ao trước những cơn mưa lớn nhằm tránh sự rửa trôi phèn từ bờ vào ao. Đo pH nước sau khi mưa. Nếu pH nước xuống nhỏ hơn 7 thì dùng vôi với lượng 1 - 1,5kg/100 m2 pha với nước tạt khắp ao để nâng pH nước.
- Độ đục và độ trong
+ Sau những cơn mưa; nguồn nước lấy vào ao chứa nhiều hạt phù sa làm nước vẫn đục hay sự phát triển quá mức của tảo có thể gây trở ngại đối với tôm nuôi. Có thể làm cho nước trong ao trở nên trong lại bằng cách dùng vôi pha nước và tạt khắp ao để lắng tụ các hạt mùn bã (1kg/100 m2).
+ Độ trong của ao thấp thì cần phải thay nước và giữ trong phạm vi 25 - 40 cm, nếu độ trong thấp, màu nước vẫn đục thì thay 20 - 30% và điều chỉnh lại lượng thức ăn sử dụỹng. Ao có màu nước sẫm và trong thì phải thay nhiều nước, và phải bón vôi 5 - 10 kg/ 1.000 m3, trường hợp độ trong vượt quá 40 cm thì phải bón thêm phân hữu cơ, hoặc vô cơ để tăng màu nước (10 - 15 kg/ 100 m2 phân heo, gà).
- Khí độc
+ Quá trình phân hủy các chất thải của tôm, thức ăn thừa, chất hữu cơ từ ngoài vào, tảo chết...sẽ tạo nhiều chất dinh dưỡng cho ao và cũng tạo nhiều khí độc khác có tác hại đối với tôm mà chủ yếu là khí ở tầng đáy như H2S, NH3, NO2-.
+ H2S trong nước tồn tại dưới dạng H2S, HS- và S2-, trong nhóm này H2S là khí độc nhất và hàm lượng sẽ nhiều khi pH, Oxy hòa tan thấp, nhiệt độ cao.
+ NH3 (ammonia) tồn tại trong nước ao dưới dạng ion (NH3) và dạng kết hợp N H3, N H3 độc đối với tôm nuôi và nhất là trong điều kiện pH cao.
+ CO2 là khí độc đối với tôm nuôi khi hàm lượng cao, nhất là vào ban đêm, khi quá trình hô hấp xảy ra.
+ Qua trao đổi nước tích cực sẽ giúp loại bỏ các chất khí độc này ra khỏi ao nhất là tầng nước dưới đáy ao. Ngoài ra, tảo chết cũng sinh ra một lượng khí độc đáng kể. Công việc điều chỉnh mật độ tảo (qua màu nước) không chỉ giúp hấp thu các khí độc mà còn hạn chế phát sinh khí độc.
- Sục khí trong ao thâm canh từ 3-5h sáng để tránh tình trạng thiếu oxy vào ban đêm, ngoài ra sục khí 30-60 phút trước khi cho tôm ăn nhằm tăng cường lượng oxy trong ao, kích thích tôm bắt mồi mạnh hơn. Thời gian bắt đầu vận hành máy sục khí từ tháng thứ 3 đến khi thu hoạch.
- Chế độ thay nước: tháng đầu tiên không thay nước hoặc chỉ cấp thêm
khi nước hao hụt, tháng thứ 2-3 định kỳ hàng tuần cấp thêm nước hoặc thay nước 20-30%. Tăng cường thay nước từ tháng thứ 4 đến khi thu hoạch nhằm duy trì chất lượng nước tốt trong ao nuôi.
- Trong thời gian nuôi, lượng thức ăn được điều chỉnh sao cho phù hợp với từng ngày nuôi cụ thể dựa vào các điều kiện sau:
+ Trong điều kiện môi trường nước nuôi không tốt do mưa kéo dài hay trong khoảng thời gian tôm lột xác, lượng thức ăn cho tôm nuôi giảm.
+ Khẩu phần ăn được thực hiện trên cơ sở kết hợp với khả năng sử dụng thức ăn trong ngày của tôm thông qua sàn ăn để điều chỉnh lượng thức ăn sao cho phù hợp.
- Thường xuyên kiểm tra tình trạng sức khỏe tôm nuôi trong hệ thống nuôi thâm canh.
- Định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường để kịp thời xử lý. Định kỳ bón vôi CaCO3, dolomite hay zeolite 1 - 2 kg/100m3 để ổn định pH trong ao nuôi.
- Kiểm tra tăng trưởng tôm nuôi bằng cách chài ngẫu nhiên 4 - 5 điểm trong ao, từ đó tính trọng lượng bình quân và ước lượng tỷ lệ sống để điều chỉnh lượng thức ăn hằng ngày.
6. Thu hoạch
Khi tôm nuôi được 3 - 4 tháng, tiến hành thu tỉa thu tôm mang trứng, tôm chậm phát triển, tôm càng xào. Sau 6 - 7 tháng nuôi tiến hành thu hoạch toàn bộ bằng cách hạ mức nước ao còn 0,5 m, kéo lưới để giảm mật độ nuôi trong ao, sau đó tát cạn bắt toàn bộ tôm trong ao.


Kỹ thuật nuôi Tôm càng xanh, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ