Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá cảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá cảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Rồng

Kỹ thuật nuôi cá Rồng


- Theo văn hóa Trung Quốc, nuôi cá rồng đỏ trong nhà sẽ mang lại sự may mắn và thịnh vượng, chính vì thế mà giá của nó thường rất cao.

- Cá rồng có chiều dài lên đến gần một mét và sống tới 25 năm. Những gia đình giàu có và nổi tiếng ở Trung Quốc thường thích loài cá này.


- Phong tục của Trung Quốc, cho rằng họ chính là con cháu của loài rồng, nhiều người đã trả một khoản tiền lớn để sở hữu một con cá cho riêng họ. Cũng giống như các loại rượu, những con cá có tuổi thọ cao thường đắt hơn.

- Theo phong thủy, cá rồng đỏ mang lại sự may mắn và thịnh vượng cho gia chủ. Các rồng có màu đỏ vàng, tạo nên một biểu tượng của sự giàu có.Hầu hết, các bể cá rồng đều được giữ bí mật trong nhà và tránh xa những con mắt tò mò, chúng như những báu vật mà chỉ chủ nhân mới được tận hưởng sự may mắn đó.


1. Bảo dưỡng
(Arowana) Cá Rồng là loại độc tôn lãnh địa và hiếu thắng, do đó không bao giờ nuôi 2-3 chú chung trong 1 hồ, chỉ có 2 lựa chọn, hoặc nuôi riêng 1 con 1 hồ hoặc 6-10 con 1 hồ thật lớn. Vì khi sống trong môi trường tập thể thì tính hiếu thắng của chúng có vẻ thuần hậu hơn. Cá Rồng nổi tiếng về nhảy tùng phèo rất giỏi, phải có nắp đậy hồ và luôn luôn nhớ đặt 1 vật nặng lên trên để tránh bị hất tung ra, Cá Rồng đã được chứng minh ở vùng hoang đã lớn và dài trên 90 Cm và cân nặng đến 7 Kg. Chúng thích sống trong nước lắng có độ pH 6.5 - 7.5, nước hơi có độ acid, và nhiệt độ từ 28-32 độ C, tùy theo kích thước của hồ, thường thì tốt nhất là thay 25% mực nước 2 lần 1 tuần. Không bao giờ được thay 100% nước vì độ Chlorine từ nước máy thường rất cao và có lẫn nhiều hóa chất nhạy cảm đối với cá. Có thể cho ăn tôm/tép sống hoặc chết nhưng phải tươi. Cá 3 đuôi, dán, nhái con, v.v… 1 hoặc 2 lần 1 ngày. Để thuận tiện, bạn có thể mua ½ Kg tôm ngoài chợ bứt đầu chia làm nhiều gói nhỏ bỏ vào tủ đông lạnh rồi rã đá cho ăn mỗi ngày. Là 1 loài cá thích bơi nổi trên mặt nước, chiều cao của hồ không hẳn là yếu tố bắt buộc so với chiều dài và rộng, thí dụ, cá nhỏ khoảng 15Cm thì 1 hồ dài 120 dài x 45 rộng x 45 cm cao, nếu khoảng 30cm trở lên nên có hồ dài 180 x 60 rộng x 45 cm cao là lý tưởng.

2. Hồ cá
- Kích cỡ của hồ là rất quan trọng khi chính nó sẽ quyết định về sự trưởng thành của cá sau này, nó cho phép cá bơi thẳng thớm với 2 cánh duỗi thoải mái hoặc bơi một cách bệnh hoạn, ngơ ngáo hoặc gù! Hồ càng to càng tốt, quy luật tối thiểu là bề dài hồ phải gấp 3 lần bề dài của cá, bề rộng bằng hoặc lớn hơn 1.2 bề dài của cá.


- Địa điểm đặt hồ phải là nơi vắng vẻ ít người qua lại để tránh stress cho cá, áp lực chung quanh dễ ảnh hưởng đến màu nền của cá, đặc biệt là loại Kim Long Quá Bối, ánh sáng mặt trời cũng là yếu tố đặc biệt quan trọng cho cá lên màu, tốt nhất là đặt hồ cá chỗ nào có tiếp thu ánh sáng mặt trời tự nhiên vào buổi sáng hoặc chiều, nên để ý, nếu quá nhiều ánh nắng sẽ làm cho hồ tạo rong nhanh, và nhiệt độ thay đổi nhanh cho những hồ nhỏ. Vào buổi tối, không nên tắt điện quá nhanh, tốt nhất là bật đèn phòng vài phút trước khi tắt đèn hồ, sau đó hãy tắt đèn phòng sau, nếu sự tối đến nhanh quá sẽ làm cho cá hoảng hốt đôi khi nhảy lung tung và gây thương tích.

3. Nhiệt độ
Nên giữ giữa 28 - 32 độ C, trừ trường hợp chữa bệnh thì tăng lên 34 độ C. Nhiệt độ thấp sẽ tạo điều kiện cho bệnh phát triển và nhiệt độ cao sẽ giúp loại trừ vi khuẩn, tuy nhiên, nhiệt độ cao quá sẽ làm cho những tế bào mềm chung quanh đầu nhăn nhiều hơn, nên giữ cho nhiệt độ thật điều hòa vì sự thay đổi nhiệt độ nhanh giữa ngày và đêm hoặc thay đổi thời tiết sẽ rất có hại cho cá, đồng thời có 1 ưu điểm khác là làm tăng sự biến thái của cơ thể (thúc đói), khiến cho cá thèm ăn nhiều hơn, khi ăn nhiều sẽ nhanh lớn .


4. Độ pH
Nên giữ độ pH giữa 6.5 đến 7.5, Cá Rồng thích nước nhạt và hơi đục, do đó, độ pH phải thấp hơn, nên pha thêm 'nước đen' (một hóa chất bán sẵn tinh chế từ lá peat - lá xồi trong rừng cây của Indo). Mực độ thay đổi đột ngột của pH là điều tối nguy hiểm cho các loài cá. Vì thế khi thay nước nên kiểm tra độ pH cẩn thận, bạn có thể ra tiệm cá cảnh để mua những bộ đo độ pH.

5. Độ Nitrate và Amonia
Đây là những chất thải từ phân và nước tiểu của cá, Nitrate là biến chất của Nitrite sau phản ứng vi khuẩn trong hồ có tên là Nitrobacters. Hóa chất này rất có hại cho cá từ nhiều hướng, thí dụ: nó sẽ tạo ra những căn bệnh như lật mang cá, bỏ ăn, mờ mắt, vi - đuôi lở loét ung thối, do đó, phải kèm những chất này thật thấp. Đề nghị bạn nên sử dụng 1 bộ lọc thât tốt để cân bằng sinh thái bổ xung thêm 'quy trình nitrogen'. Không bao giờ giao phó trọn gói công việc tẩy uế này cho bộ lọc của bạn, để hạn chế chất độc này chính bạn phải nhớ thay nước đều đặn, Máy bơm oxy cũng là khí cụ hữu ích giúp tăng oxygen trong nước và làm sạch vi khuẩn trong ống lọc.

6. Thay nước
- Có thể thay 1 hoặc 2 lần 1 tuần, tùy theo cỡ cá, 30% cho cá nhỏ và 50% cho cá lớn, tùy thuộc cả vào số cá nuôi trong hồ, thể tích của nước và dung lương của hồ, nói chung, theo quy tắc: nhiều cá trong hồ, dung lượng hồ nhỏ, thì phải thay nước đều hơn, Thần Long rất nhạy cảm với các 'hóa chất ngoại lai' như Chlorine, một thói quen tốt là khi thay nước nên pha thêm chất trừ Chlorine và các hóa chất thuộc sắt, nếu nhà bạn rộng rãi thì tốt nhất là nên chứa nước lắng trong vòng 24 giờ trước khi thay. Thường thì độ pH ở nước máy cao hơn 7.0, theo đề nghị khi thay nước mới nên thỉnh thoảng pha thêm 'nước đen' (Black Water Extract) để làm dịu độ pH cũng như tạo môi truờng quen thuộc thiên nhiên của nước tự nhiên như trong rừng Đông Nam Á mà các chú rồng này sinh ra.


- Ngoài ra, các tay 'chuyên gia' cũng chế tạo loại 'nước đen' riêng của mình bằng cách dùng lá Ketapang, loại lá có màu nâu xậm này còn 'xịn' hơn các loại hóa chất 'nước đen' bán ở tiệm. Tuy nhiên lá này chỉ có ở 1 vài nước Châu Á, lá khô cũng có bán ở các tiệm cá cảnh ở Singapore, Malaixia và Indonexia. Sử dụng từ 4-8 lá rửa sạch ngâm trong hồ nhỏ riêng với ít muối hột, xong cho máy oxy chạy, khoảng 2-3 ngày, màu nâu trên lá phai mờ và nước sẽ chuyển thành màu nâu xậm như là phẩm nhuộm, như vậy có thể chiết vào chai và dùng từ từ. Vứt lá Ketapang đi và khi thay nước, bạn có thể châm thẳng nước đen này vào hồ cho đến khi nào thấy hồ có 1 màu nâu nhạt như trà thì dừng lại, phương pháp này được sử dụng rộng rãi tại các trại nuôi cá chuyên nghiệp.

7. Nắp đậy
Nắp hồ là bộ phận không thể thiếu của hồ cá cá Rồng, Nguyên nhân dẫn đến tử vong cao nhất của các cá rồng là do sự khinh xuất của các chủ chơi không dùng hoặc có nhưng lơ là không đậy. Cá Rồng nổi tiếng là tay nhảy cao vô địch, ở vùng hoang dã, cá rồng thường hay săn những loài sâu bọ trên các nhánh cây chìa ra sông hồ, và độ nhắm rất cao và chính xác, nếu có chừa khoảng trống thì phải nhỏ hơn cỡ đầu của cá, đối với các con bự hơn thì nên lấy vật nặng như cục gạch chẳng hạn đè lên nắp để tăng thêm sức nặng của nắp. Rất nhiều chú Rồng lớn đã đột tử vì nhảy ra khỏi hồ mà chủ nhân không hay.

8. Thả cá lúc mới mang về
Nguyên nhân chính là độ thay đổi đột ngột pH, (pH Shock) mặc dù cá rồng rất 'lì lợm', tuy nhiên, cách thả cá lúc mới mang về rất quan trọng, bởi vì nước từng nơi không giống nhau. Trong thời gian di chuyển tùy theo lâu hay mau, độ pH sẽ giảm dần theo nguyên lý sinh học, vì thế sẽ buộc chúng ta phải cẩn trọng trong khi thả cá ra hồ lần đầu, bạn phải từ từ làm cho độ pH của bịch chứa cá có cùng độ pH của hồ.· Lắng nước tối thiểu là 48 giờ trước khi thả cá vào hồ.· Bỏ muối hột 1% so với dung tích nước và tăng máy Oxy chạy tối đa.· Nếu có nước đen thì hòa vào khoảng 20cc.· Chỉ số chất lượng nước trong hồ là: Ammonia = 0, Nitrites > 10 và pH = 6.5-7.5.Nghi lễ nghênh đón 'Thần Long' Khoảng 45 đến 60 phút để làm việc này.· Tắt đèn hồ.· Để cân bằng nhiệt độ, bỏ bịch cá vào hồ (chưa tháo ra) từ 15-20 phút.· Mở bịch, có thể dùng dao để cắt thun buộc.· Lấy 1 ly nước hồ đổ vào bịch, mỗi 5 phút lại đổ 1 lần cho đến khi nào bịch đầy nước.· Đổ nửa phần nước trong bịch ra hồ.· Lặp lại mỗi 5 phút đổ 1 ly nước hồ vào bịch cho đến khi đầy bịch.· 5 phút sau nhúng cả bịch vào hồ và thả thần long ra hồ.· Theo dõi xem chú Thần Long có phản ứng như thế nào trong vòng vài tiếng đồng hồ đầu.· Không cho ăn trong ngày đầu hoặc 24 giờ sau đó.· Nghi lễ nên cử hành trong bóng tối/mờ không được để ra ánh sáng, để thần long trong bóng tối vài tiếng để giảm stress. Không nên bơm oxy vào bịch nếu cá có vẻ khỏe mạnh, vì làm thế sẽ đẩy độ pH lên cao bất ngờ và làm cho cá bị shock.

9. Những bí mật để làm cho cá lên màu đẹp
Thật tuyệt vời và sảng khoái khi chiêm ngưỡng toàn thân 'mỹ nhân ngư' với màu sắc sặc sỡ bơi lội lượn lờ tung tăng trong hồ, Không nghi ngờ chủng loại cá là yếu tố quan trọng nhất, tuy nhiên đó chỉ là nền tảng. Để xây dựng 1 tòa nhà lộng lẫy nguy nga trên nền tảng đó, cá rồng cần 1 chất lượng nước thật tốt, và thức ăn phù hợp để đạt được chất lượng tối ưu, để có được nước với chất lượng cao nên dùng 1 hệ thống lọc thật tốt và thay nước đều. Mỗi ngày nên dùng vợt hốt chất thải (phân cá) ra đều đặn, kiểm tra độ pH và độ kềm, phèn trong nước. Cá Rồng rất cần carotene để phát triển đường nét và màu sắc, do đó cho ăn tôm/tép với nguyên vỏ sẽ giúp cho màu của cá lên tươi hơn, mặt khác cho ăn thêm cá 3 đuôi sẽ giúp tăng cường khoáng chất (minerals), vitamine và chất béo (proteins) cần thiết để cá tăng trưởng.

10. Cách cho ăn
- Cho ăn đúng cách là yếu tố tối quan trọng trong việc nuôi cá rồng cho khỏe mạnh, chúng tôi tin tưởng 80% màu sắc tự nhiên của cá là do gene từ cha mẹ, tuy nhiên nếu cung cấp cho cá đầy đủ thức ăn bổ dưỡng sẽ không hạn chế sự phát triển vẻ đẹp của cá, nhiều loại thức ăn thay đổi như tôm nhỏ ở chợ, tép tươi, dế, gián, trùn sữa, nhái con, cá xiêm, con rít, thức ăn khô là những thức ăn tốt cho cá rồng. Nếu muốn phát triển màu đỏ, nên cho ăn tôm nhỏ hoặc tép nguyên vỏ (vỏ có chứa chất carotenoid kích thích màu) là bữa ăn chính. Riêng tôm chợ nên chia thành gói nhỏ để giữ được sự tươi sống của nó.



- Chỉ nên mua dế và gián do người nuôi để tránh cá bị ngộ độc bởi thuốc diệt côn trùng mình thường hay dùng trong nhà. Những loại cá nhỏ như cá xiêm, 3 đuôi, nhái con phải chắc chắn là đã nuôi riêng khoảng 1 tuần trước khi làm mồi cho cá rồng vì những loại này có chứa những loại giun sán độc sẽ lây nhiễm qua cá dễ dàng. Điều quan trọng là nên cho cá ăn những thức ăn có độ dinh dưỡng cao để đảm bảo cho sự trưởng thành.

- Cá Rồng con lớn mau hơn các chú bác đã trưởng thành, do đó chúng mau đói hơn và ăn nhiều hơn, nếu đáp ứng không đủ chúng sẽ gầy gò, ốm yếu. 70% thực phẩm phải là thực phẩm tươi sống, thì sự phát triển mới đạt được hoàn toàn. Cho cá dưới 25 cm ăn 1 ngày 2-3 lần. Lớn hơn nữa thì 1 lần trong ngày là. Đừng cho ăn no quá, chỉ nên cho ăn khoảng 70% thì cá sẽ không bị ớn đồ ăn. Máy Sưởi, nên để ở 28-32 độ C, độ ấm của nước sẽ kích thích cá ăn ngon miệng hơn, dĩ nhiên là sẽ lớn nhanh hơn. đừng bao giờ để đọng đồ ăn trong hồ lâu vì nó sẽ làm ô nhiễm môi trường nước nhanh chóng. Nên dùng vợt vớt những đồ ăn thừa và phân cá trong hồ ra càng sớm càng tốt ngay sau mỗi bữa cho ăn.


Kỹ thuật nuôi cá rồng by Arowana.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Cách phân biệt cá Rồng

Cách phân biệt cá Rồng
I) Phân loại cá rồng
Có 4 loại cá rồng:
- Cá rồng châu Á (Asian Arowanas).

- Cá rồng châu Úc (Australia Arowanas).

- Cá rồng Nam Mỹ (South American).

- Cá rồng châu Phi (African).

II) Cá rồng châu Á- Cá Rồng Châu Á là loại cá được xếp vào hàng đầu trong thế giới cá cảnh, vì sự ưa chuộng rộng rãi, giá trị cao và vẻ đẹp của nó. Nét độc đáo của hình dạng, miệng rộng và vẩy sáng đã làm cho cá rồng trở nên đặc biệt và đã làm cho bao con tim của những tài tử si mê cá phải rung động. Với nét gần gũi cùng tổ tiên Nhà RỒNG, tất cả các Hoa Kiều trên toàn thế giới đều tin tưởng Cá Rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát tài lộc, và đem lại hạnh phúc do đó cá rồng trở thành con vật được cưng chiều nuôi nấng trong nhà để làm cho Phong Thủy được tốt hơn. Theo tương truyền hồ cá rồng là Phong, Nước hồ là Thủy, Cá Rồng là Tài, ba chữ này hợp lại thành Đại Phúc. Do vậy ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp hiếm thấy của cá rồng mà các chủ nhân thường xem cá rồng như là biểu tượng cho sự phú quý của mình, đó là lý do tại sao cá Rồng được ưa chuông nhiều.

- Cá Rồng châu Á được chia ra làm 4 loại tùy theo màu sắc tự nhiên khác nhau của từng giống:
+ KIM LONG QÚA BỐI từ Malaysia (Cross Back Golden Malaysia).
+ HUYẾT LONG (Super Red) từ tỉnh West Kalimantan, Indonesia.
+ KIM LONG HỒNG VỸ (Red Tail Golden) từ tỉnh Pekanbaru, Indonesia.
+ THANH LONG (Green Arowana) Riêng giống này có thể tìm thấy ở vài nhánh sông khác tại Malaysia Indonisia, Myanmar và Thái Lan. Trong những năm qua, vì sự ưa chuọ?g đại trà và nhu cầu quá cao, cộng với hứa hẹn của siêu lợi nhuận, sự săn bắt tận cùng bừa bải đã đưa số lượng cá rồng gần như tuyệt chủng. Đặc biệt là giống Kim Long Quá Bối và Huyết Long đột nhiên biến mất trong thập niên 80. May mắn thay, cá rồng được bảo vệ bằng cách liệt kê vào hàng động vật có cơ hội tuyệt chủng của CITES (Wild Fauna and Flora) được đăng ký vào hạng mục bảo vệ động vật số 1 (Appendix I CITES). Từ đó những kẻ săn bắt cá rồng mà khô?g có giấy phép sẽ bị truy tố và phạt tiền rất nặng, cho đến hôm nay vẫn còn nhiều quốc gia cấm buôn bán cá rồng như Mỹ và Đài Loan.

1. Kim long quá bối (Cross Back Golden)

- Có nhiều tên cho loại cá này, có người gọi Kim Long Quá Bối, Lưỡi xương rồng Mã Lai (Malayan Bony Tongue), Bukit Merah Xanh (Bukit Merah Blue), Đài Bắc Thanh Hoàng Long (Taipie Blue Golden) và Vàng của Mã (Malaysian? Gold). Tất cả đều cùng loạ: KIM LONG QUÁ BỐI. Cá này khi trưởng thành sẽ có màu suốt qua lưng. Lý do có nhiều tên là vì cá này được tìm thấy tại nhiều nơi trên lãnh thổ Malaysia như Perak, Trengganu, Hồ Bukit Merah và Johor.

- Vì lý do nguồn cung ứng thấp, và nhu cầu thì quá cao, cho nên loại cá này thuộc dạng đắt nhất, và yếu tố làm cho giá tăng cao hơn là vì ngoài sự hiếm hoi có sẵn, kỹ thuật ép đẻ thành công cũng thấp. hiện nay các trại cá ở Sing và Mã Lai đang ép giống cá này.

- Kim Long Quá Bối còn được phân loại xa hơn tuỳ theo màu của vẩy cá, bao gồm: Nền Xanh, Nền Tím, Nền Vàng, Nền Xanh Lục, và nền Bạc. Từ ngữ Nền Xanh và Nền Tím được dùng lẫn lộn tuỳ theo từng trại cá ép vì dải màu xậm trên sống lưng cá khi nhìn ở góc nghiêng thì có màu xanh dương đậm, nhưng khi nhìn ở một góc độ khác thì thành màu tím sậm. NỀN VÀNG là loại có vẩy màu vàng 24K, óng ánh từ viền vảy vào đến tâm vảy. Thay vì tâm vảy màu xanh hoặc màu tím. Cá nền vàng này qúa bối (màu qua lưng) nhanh nhất so với các loại cá khác. Kim Long Quá Bối có một sắc màu toàn vẹn nhất, khi trưởng thành, toàn thân vàng ửng như 1 thỏi vàng 24K bơi lơ lửng trong hồ. Thỉnh thoảng quay vòng nhẹ nhàng và tự tin trong phong thái VUA của các loài Cá Cảnh. Trong khi các loại cá cũng màu vàng khác không có được sắc màu trời cho này. Dĩ nhiên cũng không quên đề cập tới người anh em Nền Xanh Lục và Nền Bạc có tâm vảy màu xanh lục và màu bạc, tuy nhiên ít được ưa chuộng hơn.

- Thật khó khăn khi muốn phân biệt cho thật chính xác vì các trại ép cá thường hay ép giống này lai qua giống khác, không còn thuần chủng như ngày xưa. Tuy nhiên ưu điểm là họ đã sản xuất ra những loại cá mới, lạ và sặc sỡ hơn. Điển hình các loại cá mới như Platium White Golden (Bạch Ngọc/Bạch Kim) và Royal Golden Blue (Hoàng Triều Thanh Long) là giống mới được sản xuất gần đây. Hai loại này hiện đang mang bảng giá cao nhất thế giới, và các Đại Gia Nhật Bản không quản ngại tiền bạc tung ra chỉ để sở hữu 1 chú này (DTV: có 1 chú đã bán ở Nhật với giá 800,000 USD và 1 chú khác giá 280,000 USD ????) và chỉ có ở Malaysia mới sản xuất thành công 2 loại cá trên.

2. Huyết long (Super Red)


Đây là loại Rồng Châu Á có màu đỏ. Cá Rồng Đỏ phát hiện tại nhiều vùng thuộc địa phận Tây Kalimantan ở Indonesia, địa danh nổi nhất là Sông Kapuas và Hồ Sentarum, tại đây, loại Rồng Đỏ (Đỏ Ớt và Đỏ Máu ? Chilli and Blood Red) được phát hiện đầu tiên. Đây là loại cá phổ biến nhất trong các loại cá rồng, nguyên nhân là vì màu sắc sặc sỡ đồng thời giá cả mềm hơn loại Kim Long Quá Bối, điểm nổi bật là vi, đuôi, miệng, râu đã trổ màu đỏ từ khi còn bé, các tay chơi cá thật khó cưỡng nổi ham muốn và rất thích làm chủ 1 chú cá này. Khi lớn lên màu đỏ bắt đầu xuất hiện ở những phần thân thể khác như nắp mang cá, viền của vẩy, làm cho toàn thân cá ửng đỏ lên. Sự phổ biến và ưa chuộng Rồng Đỏ đã thúc đẩy các trại cá bắt đầu ép cá Rồng đỏ vì siêu lợi nhuận và hiện nay Rồng Đỏ lại đắt hơn Kim Long Quá Bối, tuy nhiên sau 1 thời gian ồ ạt sản xuất, Rồng Đỏ đã hạ gía thành, tuy nhiên vẫn đắt hơn Kim Long Quá Bối.

- Rồng Đỏ được chia ra làm 4 loại khác nhau: Đỏ Ớt (Chilli Red) Đỏ Huyết (Blood Red), Đỏ Cam (Orange Red) và Đỏ Vàng (24K) (Golden Red). Thời gian gần đây những rồng đỏ này được góp lại và gọi chung cùng tên là Huyết Long (Super Red) hoặc Rồng Đỏ cấp 1 (1st Grade Red). Điều này tạo ra tranh cãi, vì cách áp dụng tên Huyết Long khi loại Đỏ Cam và Đỏ Vàng không đạt được đúng nghĩa của chữ ĐỎ khi so sánh với 2 loại trên, vì chúng chỉ xuất hiện màu vàng da cam hoặc vàng 24K. Dù vậy các trại cá vẫn lạm dụng từ Huyết long để đặt tên chung cho cá ép của trại mình.

- Cả 2 loại Đỏ Ớt và Đỏ Máu đều xuất xứ từ nguồn nước nổi tiếng ở miền Tây Kalimantan, Indonesia có tên gọi là Sông Kapuas và Hồ Sentarum. Hồ Sentarum bao gồm nhiều hồ nhỏ nối liền với nhau và tập hợp lại tại đầu cuối của Sông Kapuas. Trong nước này chứa nhiều cây gẫy lâu năm chìm trong lòng sông hồ tạo thành môi trường tốt cho cá rồng sinh sống , nhưng với sự ô nhiễm, chất thải, bùn bẩn, nước tù đã ảnh hưởng không ít đến màu sắc nguyên thủy của cá rồng tại đây. Một nguyên nhân khác ảnh hưởng đến màu sắc nguyên thủy của cá Rồng Đỏ là sự ép giống lộn xộn đã sản sinh ra nhiều màu khác nhau. Có những giống có mình dày hơn, miệng cong và sâu hơn, có giống màu đỏ tươi hơn, màu nền xậm hơn. Vì sự khác biệt này, những người lái cá đầu tiên ở Indonesia chế ra 2 tên gọi chung cho 2 nhóm rồng hoá đỏ chính được tìm thấy trong vùng: Đỏ Ớt (Chilli Red) và Đỏ Máu (Blood Red). Những tên này được gán cho cá là vì độ Đỏ giữa 2 loài cá này. Đỏ ớt có màu đỏ tươi và Đỏ Máu có màu đỏ đậm hơn giống như máu bầm. Bên cạnh màu sắc, 2 loại cá này cũng có hình dạng khác nhau. Đỏ Ớt có thân mình rộng và dày hơn, trong khi Đỏ Máu thì dài và dẹp hơn, Sự khác biệt này có thể dễ dàng nhận ra khi nhìn chú Đỏ Ơt thì độ dày ngang từ sống lưng qua bụng đến đuôi đều dày và rộng trong khi Đỏ Máu từ thuôn hơn khi nhìn từ gáy đến phần đuôi. Sự khác biệt về hình dáng và có độ vảy dày hơn, đầu hình cái muỗng, màu đỏ tươi, đã làm cho Đỏ Ớt trở thành như lực sĩ thể hình, Xung, Cân đối và dễ nhìn.

- Điểm khác biệt khác dễ nhận dạng là Đỏ Ớt có cặp mắt thật to, màu đỏ và đuôi hình Kim Cương (Diamond - shaped tail) - (DTV: Ở VN thì gọi là hình trái đào). Trong khi Đỏ Máu thì có cặp mắt trắng và nhỏ, đuôi thì mở rộng hình cánh quạt (Fan-Shaped Tail). Cặp mắt của Đỏ Ớt rất to và rộ?g, đôi khi to đến độ phần trên gần như đụng đầu và phần dưới gần chạm vào miệng. Phần đuôi của Đỏ Ớt giống như hình viên Kim Cương và mọc dài ra phía sau khi trưởng thành. Mặt khác, Đỏ Máu thì có cặp mắt nhỏ hơn nhiều nhìn vào thấy ?bình thường? hơn và tròn trịa hơn. riêng phần đuôi thì xoè ra như cánh quạt thật đẹp. Những khác biệt này thật rõ ràng kể cả khi cá còn rất bé cũng có thể nhận ra.

- Đỏ CAM (Orange Red) Đây là loại cá rất phổ biến trong giới ép cá đẻ vì dễ thành công hơn, loại không phải là loại "Hoá đỏ" (Red-turning type). Khi trưởng thành chú cá này ?trình diễn? vây màu Vàng Cam phủ đầy mình rất rõ khi so sánh với Đỏ Ớt và Đỏ Máu. Sự khác biệt thể hiện rõ hơn khi phần Vi trên + dưới và đuôi cũng không được màu đỏ như 2 loại đàn anh trên.

- Đỏ VÀNG (Golden Red) là loại cá rồng cũng thường gặp bên cạnh người anh em Đỏ Cam. Loại này có giá trị thấp nhất trong các loại Rồng Đỏ vì khi trưởng thành, nó chỉ có màu vàng nhạt quanh thân thể, môi và râu cũng không có màu đỏ mà chỉ hơi vàng 1 tí thôi, thật ra có nhiều con thuộc loại này cũng không có màu ở vi và đuôi nữa. Đây là hậu quả của sự ép đẻ khác giống đã cho ra 1 thế hệ có chất lượng nửa vời, chỉ vì sự ép đẻ rất thành công dễ dàng cho những trại cá chủ trương bán rẻ nhưng bán nhiều (số lượng hơn chất lượng !!!!)

- Đỏ Xanh Lục (Banjar Red) hoặc còn gọi "Công dân loại 2" (2nd Grade Red) chưa bao giờ chính thức từ giống Huyết Long. Đây cũng lại là một chế tác của các ông lái cá tài tử ép đẻ giữa cá mái Đỏ Xanh Lục, Hồng Vỹ hoặc Thanh Long với Huyết Long đực chính hiệu để tăng năng xuất về cá con. Đôi khi các tay buôn này còn dùng hormones hoặc thuốc kích thích để làm cho các chú cá này nhìn rất là "Đỏ". Vì vậy khi mua Rồng Đỏ TUYỆT ĐỐI không nên mua loại cá được giới thiệu "Rồng Đỏ tự nhiên" (Wild caught Red Arowana) và khi hỏi có khai sinh thì lại trưng ra KS của CITES (DTV: Tất cả cá rồng không phân biệt loại nào, dù rẻ hay đắt, bán ở tiệm tại các nước Mã, Thái, Indo, Sing đều phải có khai sinh, vì nếu không khi bị bắt sẽ bị phạt rất nặng (động vật quý hiếm có cơ diệt chủng). Cách cuối cùng cho chúng ta nhận biết là nhìn đầu cá thì tròn hơn, miệng không được nhọn, vẩy không sáng, có màu xanh/vàng trên vẩy là đúng loại Banjar Red.

3. Kim long hồng vỹ (Red Tail Golden)


Được biết đến với tên Kim Long Hồng Vỹ (KLHV) hoặc Kim Long Indo, loại này được xếp hạng chung trong gia đình Kim Long với Kim Long Quá Bối (KLQB), Kim Long Malaysia, giá thành của Kim Long Hồng Vỹ rất ?mềm? so với Kim Long Quá Bối. Lý do là vì KLHV sẽ không bao giờ đạt được màu vàng 24K như KLQB, và màu vàng của KLHV sẽ không bao giờ vượt qua khỏi lưng mà khi trưởng thành luôn luôn có 1 vệt đen lớn kéo dài từ đầu đến đuôi cá. Mặc dù giá trị không cao khi so sánh với ?Cục Vàng Biết Bơi? (KLQB), nhưng đa phần các chú KLHV này sẽ có màu vàng lên đến lớp vảy thứ 4 và có vài chú, choé hơn thì màu vàng lên đến hàng vảy thứ 5. Cũng giống như đồng chí KLQB, KLHV cũng khác loại tuỳ theo màu sắc từng con, như nền xanh, xanh lục và nền vàng. Khi còn bé KLHV không có màu sắc gì hết trong khi KLQB đã thể hiện màu mè rõ ràng, sáng lóng lánh, và màu cũng đã xâm nhập lên hàng vảy thứ 5 rồi.
Nói chung KLHV "lì lợm" hơn so với KLQB, nhanh lớn hơn, và cỡ bự hơn, tuy nhiên Hồng Vỹ thì XUNG hơn KLQB. Thật khó khi nuôi chung trong 1 hồ lớn, thường thì 8-9 con cá nhỏ, trong khi KL Malaysia thì không sao cả, loại này cũng được bảo vệ của CITES, tuy nhiên vẫn bị săn lùng ở nơi thiên nhiên, ngoài ra, các bạn bạn rất giống nhau từ đuôi, Vi, và màu trên miệng của 2 loai KLHV này.

4. Thanh Long (Green Arowana)
- Đây cũng là 1 loại trong giòng họ cá rồng, thường tìm thấy ở Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Indonesia và Campuchia. Vì loại này sống ở nhiều phong thổ khác nhau và rộng rãi như vậy nên hình dạng và màu sắc cũng có thể khác nhau. Hầu hết những loại Thanh Long tìm thấy ở những nơi này có màu xám xanh ở thân mình và đuôi có sọc xanh xám đậm. Hình dáng Thanh long cũng đặc trưng khác thường hơn so với các loại cá rồng khác, đầu và miệng thì tròn và to hơn. Đây là loại cá rẻ tiền nhất trong các loại rồng cùng với loại Đuôi Vàng (Yellow Tail). Tuy nhiên có 1 loại Thanh Long Xanh (có xen lẫn màu tím trên tâmvảy) thì lại được đứng chung hàng với các đàn anh cao quý khác. Thanh Long cùng với Huyết Long hhạng 2 (2nd Grade Red) được ưa chuộng nhiều nhất ở Thái Lan và Philippines vì giá mềm của nó. Bên cạnh đó, loại này cũng được các chú học trò nhỏ bên Nhật khoái vì vừa túi tiền, có khả năng tậu được, để vừa chiêm ngưỡng vừa tập ép đẻ.

- Rất bình thường các chú cá này được hầu hết các tay mới tập chơi cá dùng làm bước khởi đầu cho sự nghiệp chơi cá cảnh sau này vì, vừa rẻ vừa dễ kiếm. Sau đó đã ký cóp 1 ít kinh nghiệm rồi mới bắt đầu chuyển qua KLHV, KLQB hoặc Huyết Long.

III) Cá rồng châu Úc


- Tên Khoa Học : Scleropages Jardini, Scleropages Leichardti.

- Có 3 loại Rồng Úc: Rồng Châu, Rồng Đốm, và Rồng Đỏ.

- Rồng Châu là loài cá tuyệt đẹp, trông giống rồng châu Á. Ngoại trừ Rồng Châu Úc có nhiều vảy và vảy thì nhỏ hơn và có châu màu đỏ. Rồng Á Châu thường thì có 5 hàng vảy, rồng Úc thì có đến 7 hàng vảy, Về màu thì có màu đồng đến màu vàng 24K, rồng châu úc có vảy có những châu nhỏ hình trăng lưỡi liềm, đuôi màu đen có chấm vàng, 1 điều bình thường của loại cá này là nó hay hớp hơi trên mặt nước, Rồng Úc là loại cá XUNG nhất trong các loại rồng, và không có trong danh mục bảo vệ động vật quý hiếm.

- Rồng Đốm cũng giống như rồng Châu, ngoại trừ Vi và đuôi đậm màu hơn, còn vảy thì có những đốm tròn nhỏ chứ không có hình lưỡi liềm như loại châu, thỉnh thoảng có những đốm nhỏ màu đỏ trên vảy, loại này cũng không được bảo vệ.

- Rồng Đỏ rất hiếm, và là loại cá đẹp nhất của Rồng Úc. Vảy và Vi có màu đỏ nâu đậm với các chấm vàng, còn 1 loại hiếm thấy khác là Châu Vàng có màu vàng sáng (24K gold) hơn những loại rồng Úc khác.

IV) Cá rồng Nam Mỹ
1. Bạch Long


- Tên khoa học: Osteoglossum Bicirrhosum (BDV: Hình như VN gọi là Ngân Long).

- Bạch Long được tìm thấy ở Sông Amazon miền Nam Mỹ. Hình dạng cũng giống Hắc Long ở chỗ đuôi hình nón, vảy và vi có màu bạc, loại này không được bảo vệ. Cùng họ hàng với Bạch Long có 2 loại rất hiếm là Bạch Long Hồng Vỹ (Red-Tail Silver) và Bạch Tuyết Long (Snow Silver).

- Bạch Long là loại cá rồng phổ thông mà bạn có thể tìm thấy ở bất cứ tiệm cá cảnh nào tại bất cứ địa phương nào trên trái đất, loại này đứng hàng số 1 trong các loại rồng thuộc giống Osteoglossidae. Giống như Hắc Long, cả 2 đều xuất xứ từ Nam Mỹ, đều có đuôi hình nón, nhưng chỉ khác là màu bạc trắng toàn thân. Bạch Long khi trưởng thành có thể dài đến 90Cm, và là dài nhất trong tất cả các loại cá rồng. Bạch Long nổi tiếng ?nhậu nhẹt vô tư? ăn khỏe và dịu dàng nhất trong các loại cá rồng.
2. Hắc Long


Tên khoa học: Osteoglossum Ferrerai
Hắc Long cũng xuất xứ từ Nam Mỹ và hình dạng cũng giống Bạch Long ở chỗ đuôi hình nón. Khi còn bé, Hắc Long có Vi và vảy màu đen, với những dọc trắng hoặc vàng trên vi, Nhưng đến khi trưởng thành, Hắc Long sẽ từ từ mất dần màu sắc và trở thành màu xám. Hắc Long có thể dài đến 80 Cm và không có trong danh bạ bảo vệ. Hắc Long khó nuôi hơn Bạch Long. Loại này hơi khó kiếm vì chỉ đẻ theo mùa, trong khi các loại khác thì có thể đẻ quanh năm.
V) Cá rồng Châu Phi


Tên khoa học: Heterotis Niloticus.
Còn có tên Africa Nile Arowana hoặc phổ biến hơn là Rồng Đen Châu Phi (Africa Black Arowana). Loại rồng châu phi này hiếm nhưng không đắt, vì ít có người hoặc chuyên gia cá cảnh thích nuôi vì sự xấu xí của nó so với các loại cá rồng khác.
Rồng châu phi xuất xứ từ Phi Châu, và thường thấy ở các tiệm cá, Nó có đầu tròn, láng lẩy, và cằm cũng tròn, vẩy và đuôi nhỏ, khi trưởng thành trông giống cá tra hơn là cá rồng./.

Ca rong, cach phan biet by CLB Nha Nong hoi nhap

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Hưóng dẫn kỹ thuật nuôi cá dĩa - Phần 2

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá đĩa - Phần 2

Hưóng dẫn nuôi cá đĩa by NGNN | Huong dan ky thuat nuoi ca dia (phan 2)
1.1. Xuất xứ và đặc điểm sinh thái
- Cá Đĩa được phát hịện vào năm 1840 bởi một nhà ngư loại học người Áo – Tiến sĩ Johann Jacob Heckel.

- Quê hương của cá Đĩa là các vùng nước trũng, tù đọng trên các nhánh sông Amazon chảy qua các nước Nam Mỹ như Brazil, Peru, Venezuela và Columbia. Các vùng nước tìm thấy cá Đĩa có đặc điểm sinh thái bao gồm: nước rất trong, độ nhìn thấy có thể lên đến 1.6 - 4.5m; nước có tính axit nhẹ, độ pH = 4 – 7 (phần lớn pH = 4 – 6); độ cứng tổng cộng cũng rất thấp (nước rất mềm): 1odH (17 – 18 mg/l CaCO3), nhiệt độ nước khá ấm (26 độ C); hàm lượng muối hòa tan rất thấp: 10 – 60 (microseimens).



- Bộ cá Vược: Perciformes
- Họ cá Rô phi: Cichlidae
- Các loài:
+ Symphysodon discus Heckel (cá Đĩa xanh, đỏ có 9 sọc đứng)
+ Symphysodon aequifasciatus, có 3 loài phụ
+ S. aequifasciatus aequifasciatus (cá Đĩa xanh – green discus)
+ S. aequifasciatus axelrodi (cá Đĩa nâu – brown discus)
+ S. aequifasciatus haraldi (cá Đĩa lam – blue discus)

1.2. Một số đặc điểm sinh học
- Sinh trưởng: nuôi trong bể kiếng, cá tăng trưởng chậm : sau 6 - 8 tháng nuôi cá có thể đạt : 6 – 10 cm (kích cở thương phẩm)

- Sinh sản: cá thành thục sau: 12 – 20 tháng tuổi. Cá đẻ trứng dính bám vào giá thể. Trứng nở sau 50 – 60 giờ (tùy nhiệt độ). Trứng dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2 – 3 ngày đầu, sau đó bám vào mình cá cha mẹ và dinh dưỡng bằng chất tiết trên mình cá cha mẹ. Từ ngày thứ 12 sau khi nở cá có thể ăn bobo, artemia. Sau 3 - 4 tuần cá có thể ăn trùn chỉ.

2. Nuôi cá Đĩa không dễ
“Cá Đĩa là loại cá cảnh khó nuôi nhất trong các loại cá cảnh nước ngọt nhiệt đới” bởi vì cá Đĩa có rất nhiều điểm khác biệt về nhu cầu sinh thái, đặc điểm sinh học so với họ hàng cá Rô phi của chúng nói riêng và các loài cá cảnh nước ngọt nhiệt đới nói chung. Do đó trong điều kiện nuôi, cần chú ý 2 đặc điểm sau:
- Thứ nhất: cá Đĩa là loài cá nhạy cảm nhất, đặc biệt nhạy cảm với
+ Tiếng ồn, chấn động nhẹ, ánh sáng mạnh
+ Các thay đổi của môi trường: nhiệt độ, độ pH, độ cứng của nước. Biên độ thích nghi với các yếu tố này của cá Đĩa rất thấp.
+ Các tác nhân làm phiền khác, cá Đĩa dể bị stress khi bị quấy rối bởi các loài cá năng động sống chung.
+ Các tác nhân gây bệnh (nấm, ký sinh trùng, vi khuẩn, virut)

- Thứ hai: cá Đĩa đòi hỏi rất cao về chất lượng nước
Chính vì thế và cũng theo kinh nghiệm từ các nghệ nhân nuôi cá Đĩa: “cá Đĩa chỉ khó nuôi hơn các loại cá cảnh khác khi chúng ta không cung cấp cho chúng môi trường sống phù hợp”

3. Nhu cầu chất lượng nước trong nuôi cá Đĩa
3.1. Nhiệt độ
3.1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với sức khỏe cá
- Nhiệt độ cơ thể cá thay đổi theo nhiệt độ môi trường (đây là đặc điểm khác với các động vật máu nóng trên cạn).

- Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình sinh hóa trong cơ thể cá. Sự thay đổi nhiệt độ quá lớn và đột ngột sẽ làm rối loạn các quá trình sinh hoá trong cơ thể và ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cá.

3.1.2. Nhiệt độ thích hợp cho
- Cá trưởng thành, cá sinh sản: 26 – 28 độ C

- Cá con (mới nở đến 5 – 6 cm): 28 – 30 dộ C

3.1.3. Quản lý nhiệt độ
+ Bể nuôi đặt trong phòng có nhiệt độ tương đối ổn định (tránh gió lùa, lợp tole hấp thu nhiệt).
+Dùng sưởi để kiểm soát nhiệt độ trong hồ (đối với cá con hay vào mùa lạnh)
3.2. Độ pH
3.2.1. Ảnh hưởng của độ pH
 - Độ pH ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cá khi có sự thay đổi đột ngột, cá có thể bị stress hay bị chết.

- Tuy nhiên ảnh hưởng quan trọng hơn là ảnh hưởng gián tiếp của pH thông qua môi trường nước. Độ pH ảnh hưởng đến nồng độ hoà tan các muối dinh dưỡng, đến độ cứng của nước, thành phần các độc tố. Cụ thể như khi độ pH càng cao, hàm lượng ammonia dạng không phân ly (NH3) càng nhiều và rất có hại cho cá, ngược lại khi pH càng giảm thì độc tính của khí sulfurhydro (H2S) càng tăng.

3.2.2. Khoảng pH thích hợp cho cá Đĩa
- Cá sinh sản: 6 – 6.2

- Cá con: 6.5 – 6.8

- Cá trưởng thành: 6 – 6.8

3.2.3. Quản lý độ pH
- Tăng độ pH.

- Tăng cường sục khí trong hồ hay bể chứa nước có ánh sáng, tăng cường quang hợp, giảm nồng độ CO2, tăng độ pH.

- Dùng nước vôi trong đã pha sẳn để trung hòa

- Giảm độ pH

- Dùng axit phosphoric (H3PO4) hay axit citric (giấm).

- Lọc sinh học cũng giúp giảm độ pH nước.

3.3. Độ cứng
3.3.1. Ảnh hưởng của độ cứng của nước
- Độ cứng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu của cá. Mỗi loài cá thích nghi với độ cứng khác nhau và khả năng thích ứng với sự biến đổi độ cứng cũng khác nhau.

- Độ cứng của nước cũng ảnh hưởng đến hàm lượng Canxi (Ca) trong máu cá.

- Ngoài ra, độ cứng còn ảnh hưởng đến quá trình nở của trứng.

3.3.2. Độ cứng của nước phù hợp cho cá Đĩa
- Cá sinh sản : 3 – 10 odH, tốt nhất : 5 – 6 odH (1odH = 17,9 mg CaCO3/L)

- Cá con (< 4 tuần tuổi) : 8 – 10 odH

- Cá > 4 tuần tuổi : 8 – 15 odH

3.3.3. Kiểm soát độ cứng của nước
- Nhu cầu về độ cứng của nước đối với cá Đĩa rất thấp, vì thế trong kỹ thuật nuôi, thường phải điều chỉnh theo khuynh hướng giảm độ cứng.

- Các phương pháp giảm độ cứng của nước (chủ yếu dựa trên nguyên tắc trao đổi ion Ca 2+)

- Trao đổi ion bằng hạt nhựa,

- Lọc sinh học,

- Có thể dùng chất chiết xuất từ than bùn (than bùn có khả năng hấp thụ Ca 2+ và giải phóng nguyên tử H+).

3.4. Một số độc tố cần lưu ý
- Chlorine hay chloramine

- Đây là một loại hoá chất dùng khử trùng nước, thường có trong nguồn nước thủy cục (nước do nhà máy nước cung cấp),

- Rất độc đối với cá (tác động trực tiếp đến quá trình trao đổi ion trong điều hòa áp suất thẩm thấu của cá).

- Để loại bỏ tác hại do chlorine trong nước chỉ cần sục khí liên tục ít nhất 48 giờ

- Để kiểm tra nước còn chlorine không, dùng Orthotolidin 1% : nhỏ 1 – 2 giọt orthotolidin vào 10 – 20 lít nước, nếu nước có màu vàng là còn chlorine và ngược lại.

- Amonia (N-NH3), nitrite (NO2), nitrate (NO3- ) và sulfurhydro (H2S)

- Các chất trên đều là các chất độc hại đối với cá, là sản phẩm phân hủy các chất hữu cơ có trong nước (từ thức ăn dư thừa, sản phẩm bài tiết của cá). Để đề phòng sự hình thành các chất độc hại này, cần tăng cường hàm lượng oxy hoà tan trong nước để thúc đẩy quá trình phân hủy hiếu khí của các vi sinh vật chuyển hoá các chất độc hại thành các chất vô hại hay ít có hại hơn. Ngoài ra quá trình sục khí cũng tăng cường giải phóng các khí độc ra khỏi môi trường nước.

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá đĩa - phần 1

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá đĩa - phần 1



Hình 1: Cá đĩa ưa chuộng hiện nay

Là những loài cá có bề ngoài khác biệt thuộc chi Symphysodon, họ Cichlidae, cá dĩa được nhiều người nuôi cá xem như là loài cá nước ngọt tuyệt vời nhất. Vốn được ca tụng là “Vua của hồ cá”, có một bí ẩn bao trùm lên vẻ bề ngoài xinh đẹp và hành vi thú vị của chúng. Nhiều người nuôi cá kinh nghiệm khi đề cập về cá dĩa thường hay than phiền rằng chúng rất khó nuôi, thậm chí sinh sản còn khó hơn, chúng đòi hỏi những điều kiện nuôi dưỡng đặc biệt và hoàn toàn không đáng để cố gắng. Thay vì tìm hiểu kỹ hơn, họ phê phán cá dĩa thậm chí ở điểm rằng chúng là cichlid. Bởi vì những phê bình kiểu này, người chuẩn bị nuôi cá dĩa phải hết sức “rắn mặt” và giỏi đối đáp.

Khi bạn quyết định nuôi cá dĩa, nhiều người sẽ chọc ghẹo… và nghi ngờ sự sáng suốt của bạn. Họ sẽ cho là bạn ngốc nghếch và có xu hướng tự hành xác. Họ cũng tự cho mình quyền đặt những câu hỏi tọc mạch về chi phí nuôi cá của bạn, đồn đoán rằng bạn phải cầm cố tài sản hay cho con cái đi ở đợ để có tiền chơi cá. Khi tất cả những điều đó không có tác dụng, bạn vẫn cứ nuôi cá dĩa và nuôi một cách thành công, họ sẽ nói đùa rằng bạn có những con cá thịt tuyệt vời vì kích thước của một con cá dĩa trưởng thành vừa khít với kích thước và hình dạng của cái chảo.


Thật không may là có những hình ảnh… hình ảnh mang tính lịch sử… về những phụ nữ Amazon ngực trần với khuôn mặt được sơn phết đang nhai cá dĩa xanh một cách rất thỏa mãn. Màu sắc của chúng quá đẹp để đem ra ăn thịt vì thế tôi cho rằng những hình ảnh này được trưng bày chỉ vì nhiếp ảnh gia muốn gây sốc mà thôi. Dĩ nhiên, tôi chỉ đoán vậy và việc này cũng có thể xảy ra thật… nhiếp ảnh gia có lẽ đã chụp ảnh những phụ nữ Amazon ngực trần khi họ đang đưa con cá dĩa xanh lên miệng. Nhưng để tâm hồn bạn được thanh thản, xin đừng bàn sâu về vấn đề này làm gì.

Đừng để ý đến những người rắc rối đó làm gì. Bạn có thể làm được. Bạn có thể nuôi cá dĩa và lai tạo chúng mà không tốn quá nhiều chi phí. Bạn chỉ cần trang bị một số kiến thức và lưu ý đến những nhu cầu cơ bản của cá là sẽ ổn.Tôi sẽ không làm bạn chán về những chi tiết liên quan đến kinh nghiệm nuôi cá dĩa trước đây của mình. Tôi rất bướng bỉnh và không chịu đọc các hướng dẫn, tôi nghĩ rằng mình đã biết hết và mọi thứ sẽ ổn thôi. Nhưng khi đã lớn tuổi và thậm chí đọc chữ cỡ nhỏ rất khó khăn, tôi phát hiện ra rằng cần phải đọc càng nhiều càng tốt trước khi bắt tay làm điều gì đó ngay cả khi bạn nghĩ rằng bạn đã biết hết mọi thứ. Đó là một nghịch lý.

Bỏ công đọc về vấn đề mình đang quan tâm là điều cho thấy rằng bạn không phải là người mới chơi cá, và có nhiều khả năng cho thấy bạn sẽ thành công bằng kiến thức thay vì phó thác cho sự may rủi. Chỉ có một chút khác biệt giữa nuôi cá dĩa với những loài cá Nam Mỹ khác. Nếu bạn đã từng nuôi cá tai tượng Phi, cá ông tiên hay cá nheo và áp dụng những nguyên lý cơ bản, bạn sẽ không gặp nhiều rắc rối khi nuôi cá dĩa.Nói ngoài lề như vậy là quá đủ, bây giờ chúng ta đi vào vấn đề chính.Cá dĩa thực sự là cá nhiệt đới, chúng cư ngụ trong những dòng nước ấm áp ở vùng xích đạo Nam Mỹ.


Điều này có nghĩa là chúng ưu nước ấm. Một số người cố nuôi cá dĩa ở nhiệt độ khoảng 26°C, có lẽ để dung hòa với cây thủy sinh hay những loài cá khác trong hồ và có thể đạt kết quả tốt trong một thời gian ngắn. Nhưng nhiệt độ thấp sớm muộn sẽ làm cá dĩa bị căng thẳng và đổ bệnh, đặc biệt là bệnh nhiễm khuẩn đường ruột hay Hexamita. Tầm nhiệt độ thích hợp nhất cho cá dĩa là 28°-30° C, nhiệt độ khoảng 32° C rất thích hợp khi thả cá vào hồ mới. Nhiệt độ cao hơn nữa sẽ có hại cho cá và nên duy trì nhiệt độ 31-32° C cho đến khi nào cá hoàn toàn quen với hồ.

Nhiệt độ như vậy cũng thích hợp khi điều trị cá trong một số trường hợp, chẳng hạn khi cá bị nhiễm khuẩn Hexamita, để làm tăng thể trạng cá và công dụng của thuốc. Tôi sử dụng đầu nhiệt 150W cho hồ 110 lít. Với hồ nhỏ hơn, 75 lít, tôi sử dụng đầu nhiệt 100W.Trước khi đem cá về nhà, bạn phải chuẩn bị hồ và khởi động xong hệ thống lọc. Đừng dại dột khi nghĩ rằng nên mua cá trước rồi chuẩn bị hồ sau cũng được. Làm như vậy thường thu được kết quả xấu hơn là thành công. Sử dụng loại máy lọc nào không quan trọng nếu nó không tạo ra dòng chảy quá mạnh. Hầu hết người nuôi cá dĩa đều hài lòng với một bộ lọc khí lớn trong hồ có kích thước cỡ 110 lít với mật độ nuôi nhỏ.

Với hồ lớn và mật độ nuôi cao, có thể cân nhắc sử dụng bộ lọc mạnh hơn. Nếu bạn bắt đầu nuôi cá con thì chỉ cần sử dụng một bộ lọc khí cũ là đủ. Nếu bạn không thể chờ để khởi động bộ lọc khí một cách tự nhiên, hãy sử dụng loại dung dịch có chứa vi khuẩn. Chúng hoạt động rất tốt và loại trừ khả năng lây bệnh so với việc sử dụng bộ lọc khí cũ. Tỷ lệ nuôi 6 con cá dĩa nhỏ (5-7.5 cm) trong một hồ 75 hay 110 lít là lý tưởng, hồ sau thích hợp hơn trong trường hợp nuôi cá lâu dài. Trong khi chúng ta thường được khuyên nên bắt đầu với 6 con cá dĩa, tôi cho rằng nên nuôi tối thiểu 3 con. Nuôi hai con thường xảy ra cắn lộn và sự hiện diện của con thứ 3 làm sẽ làm cá bớt hung dữ. Xung đột ở cá con thường hiếm khi nghiêm trọng.



Cách tốt nhất là bắt đầu bằng 6 con rồi tách dần những con yếu hơn ra nuôi riêng. Cách này dẫn đến kết quả là chỉ còn hai con, và thường là một cặp cá rất đẹp mà chúng sẽ bắt đầu sinh sản rất sớm. Chúng ta thường được khuyên rằng để hồ trống là cách nuôi cá dĩa tốt nhất. Tôi từng nuôi cá dĩa trong nhiều loại hồ khác nhau, từ hồ thủy sinh với những loài cá tương thích cho đến hồ “trống” như lời khuyên của những nhà lai tạo khác. Hồ cá dĩa của tôi, dù nuôi cá giống hay cá con, luôn được bố trí một lớp sỏi rất mỏng ở dưới đáy. Lớp sỏi mỏng giúp lắng đọng chất cặn bã mà làm vệ sinh cũng rất dễ. Cá cũng thích nền sỏi vì chúng thường sục vào đó để tìm kiếm thức ăn. Mặc dù cá dĩa nuôi trong hồ trống cũng tốt nhưng tôi lại thích bố trí nền sỏi. Nếu bạn chọn nền trống, hãy sơn hay dán kín mặt đáy vì cá sẽ cảm thấy lo lắng khi chúng nhìn xuyên qua mặt đáy, và như vậy chúng sẽ luôn nhút nhát.

Bên cạnh việc bố trí nền sỏi, tôi thích thả thêm gỗ lũa (trang điểm thêm một ít Java fern), thực vật nổi như water sprite và water wisteria (cả hai rất thích hợp đối với nước nuôi cá dĩa) và chậu trồng cây đổ đầy sỏi để trồng những cây thủy sinh khác. Một bộ đèn huỳnh quang với một bóng ánh sáng nóng và một bóng ánh sáng lạnh sẽ cung cấp đầy đủ ánh sáng cho cây. Cá dĩa hay giật mình khi đang tối mà đèn bật sáng bất thình lình; bằng không, chúng không hề dị ứng với ánh sáng. Liên quan đến điều này, thực vật nổi sẽ làm tán xạ ánh sáng một cách tương đối trước khi chiếu đến cá dĩa.


Hình 2: Cá đĩa hoang dã Symphysodon discus xuất xứ từ Brazil này được gọi là “cá dĩa nâu Heckel”.
Với hồ cách ly hay điều trị, tôi không trải sỏi hay bỏ bất cứ vật dụng nào cả. Nếu đây là lần đầu tiên bạn nuôi cá dĩa, hồ nuôi nên bố trí theo kiểu hồ cách ly. Trường hợp này, hồ nuôi nên để trống ngoại trừ máy lọc, đầu nhiệt và đèn. Lý do của việc sắp xếp gọn nhẹ như thế này bởi vì bạn cần phải quan sát cá dĩa thật kỹ ngay cả khi chúng tìm cách lẩn tránh, tốt nhất là bạn luôn có thể quan sát chúng một cách thật rõ ràng. Nếu bạn phải điều trị cho cá thì cây thủy sinh, nền sỏi và những đồ trang trí khác sẽ không thích hợp. Bạn cũng cần để cá thích nghi với môi trường sau khi đảm rằng chúng hoàn toàn mạnh khỏe. Quá trình cách ly nên kéo dài không dưới 30 ngày. Nếu bạn thả cá dĩa vào một hồ có sẵn, hãy cách ly cá mới – trong hồ cách ly có kích thước khoảng 38 lít – cho đến khi chắc chắn rằng chúng hoàn toàn khỏe mạnh.

Bạn biết gì về nước máy? Tôi thấy rằng nước máy ở hầu hết mọi nơi đều an toàn đối với cá dĩa mà không cần phải điều chỉnh gì nhiều. Nước máy có thể uống nên nó không thể giết chết cá dĩa được (tôi biết điều này hơi gượng ép bởi vì ở một số nơi trên thế giới, tốt nhất bạn không nên uống nước máy!). Bạn phải khử clor và chloramine (NH2Cl), và có lẽ phải điều chỉnh độ pH một chút, nhưng chừng nào mà bạn chưa nuôi cá đẻ, độ cứng cũng không quan trọng lắm. Cá dĩa thích hợp nhất với nước mềm, hơi có tính acid nhưng rất nhiều nhà lai tạo nuôi cá dĩa bột của họ từ nguồn nước máy địa phương mà chỉ cần khử clor và hạ pH một chút. Điều quan trọng nhất khi thiết lập một hồ cá, đó là bạn phải tìm hiểu điều kiện nước mà cá bạn từng sống. Hãy hỏi.

Cá bạn mua có thể đã quen sống ở nước có độ pH trung hòa. Trong trường hợp này, bạn nên giữ nguyên độ pH như vậy thay vì giảm xuống còn 6.0 – 6.5, ít ra cũng trong giai đoạn mới bắt cá về. Luôn thay đổi thành phần hóa học nước từ từ. Tôi nuôi nhiều cá đĩa ở độ pH rất thấp, đôi khi xuống đến 4.5, nhưng chỉ áp dụng cho cá giống và cá hoang dã hơn là cá con. Cá con luôn được nuôi ở độ pH 6.5 để làm giảm khả năng cá phải làm quen với môi trường quá khác biệt khi bán cho người khác. Có rất nhiều sản phẩm làm giảm độ pH rất tốt từ dung dịch có sẵn trong chai đến chất liệu lọc bằng than bùn, vì thế tùy bạn lựa chon đâu là cách tốt nhất đối với mình. Một loại thiết bị mà theo tôi là rất cần thiết đó là máy đo độ pH. Theo dõi độ pH là điều rất quan trọng nhưng hầu hết các bộ thử đều không có thang đo đủ thấp cho người nuôi cá dĩa. Độ pH thấp thường có xu hướng tự tăng cao trong một số trường hợp (do thiếu bộ đệm), bởi vậy chúng ta nên thường xuyên theo dõi độ pH để điều chỉnh kịp thời.

Về thức ăn, một lần nữa, bạn nên hỏi xem cá dĩa từng được nuôi bằng loại thức ăn gì. Nếu đó là loại thức ăn đặc biệt mà cá của bạn đã quen ăn, hãy đảm bảo rằng bạn có thể kiếm ra loại thức ăn đó. Tất cả cá dĩa của tôi được cho ăn thức ăn tổng hợp dạng tấm ít nhất một lần mỗi ngày. Chúng cũng được cho ăn tim bò chế biến tại gia. Có một nghiên cứu gần đây tại Đại học Singapore (được tài trợ bởi trang trại Gan Discus) cho thấy cá dĩa tăng trưởng tốt nhất trong điều kiện nước thật sạch và cho ăn tim bò xay nhuyễn mà không trộn thêm bất kỳ chất phụ gia nào. Với tôi, vậy là đủ.

Một số người sử dụng những loại thức ăn khác (như tôm, gan, đậu…) nhưng tôi không thấy chúng có ưu điểm đáng kể nào. Một thành phần tạo ra sự khác biệt đáng kể ở cá dĩa đó là xanathan, chất tạo màu tự nhiên mạnh hơn nhiều lần so với bột ớt. Xanathan bao gồm bột bông cúc vàng và những chất màu thực phẩm phổ biến khác, chẳng hạn như O.S.I. Vivid Color Flakes. Cho cá ăn tim bò mau dơ nước nhưng cá có bản dày. Nếu bạn cho cá ăn tim bò ngay trước khi thay nước thì bạn có thể duy trì việc cho cá ăn loại thức ăn này mà nước vẫn sạch. Bên cạnh tim bò và thức ăn tấm tổng hợp, cá dĩa mạnh khỏe còn có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau.

Tuy nhiên, không nên cho cá ăn các loại trùn chỉ. Trùn chỉ, trùn đen và những loại thức ăn tươi có nguồn gốc từ nước ngọt rất hợp khẩu vị đối với bất kỳ loài cá nào nhưng chắc chắn cá sẽ có nguy cơ lây nhiễm một số bệnh đường ruột. Trùng đỏ đông lạnh là loại thức ăn được nhiều nhà lai tạo ưa chuộng và cá dĩa rất thích nhưng nguy cơ lây nhiễm bệnh ký sinh khiến tôi phải cân nhắc trước khi cho chúng ăn. Tôi không cho cá ăn thức ăn tươi hay đông lạnh có nguồn gốc nước ngọt trừ phi cá quá yếu và tôi chỉ cho chúng ăn thuốc bổ thôi. Có một ngoại lệ - artemia tươi hay đông lạnh rất an toàn và kích thích khẩu vị cá dĩa.


Cá dĩa thường không kén ăn trừ khi chúng bị căng thẳng. Đừng cho cá ăn quá nhiều, dĩ nhiên, nhưng cũng đừng để cá quá đói. Tốt nhất là nên hút hết thức ăn thừa sau khi cho cá ăn khoảng một hai tiếng. Tôi thường làm như vậy. Cá non nên được cho ăn từ 2 đến 3 lần mỗi ngày. Hãy quan sát chúng. Đừng cho chúng ăn nhiều hơn mức chúng có thể ăn trong một giờ. Cá dĩa rất háu ăn trong vài phút đầu nhưng sau đó lại ăn rỉ rả vì vậy đừng vội hút “thức ăn thừa” ra quá nhanh.
Việc lựa chọn cá dĩa rất khó khăn. Thông thường, sức khỏe luôn quan trọng hơn loại cá hay màu sắc. Hãy để ý cá có dạng tròn, đều, không bị khuyết tật hay vết thương nào, vây đủ và đều, và mắt phải tỷ lệ với thân hình. Cá dĩa non có mắt quá to luôn là dấu hiệu cá bị còi và không thể lớn đến đến kích thước tối đa.

Chọn những con có mắt màu đỏ, màu cam hay bất cứ màu sáng nào, hay kể cả màu nâu ở một số loại cá. Mắt đen hay sẫm màu là dấu hiệu cá bị bệnh. Chuyển động phập phùng của mang cũng rất quan trọng. Nếu cá thở nặng nhọc ở một bên mang còn mang bên kia bất động thì đó có thể là dấu hiệu cá bị nhiễm bệnh ký sinh ở mang. Trong khi bệnh ký sinh ở mang và những loại bệnh khác khá dễ chữa trị đối với người nuôi cá nhiều kinh nghiệm nhưng nếu bạn mới bắt đầu nuôi cá dĩa thì tôi khuyên bạn nên tránh ngay từ đầu. Hãy kiểm tra phân cá. Nếu phân cá có màu đen nằm ở dưới đáy hồ thì đó là dấu hiệu cá không bị nhiễm khuẩn đường ruột.

Nếu phân màu trắng dính ở hậu môn của cá hay dưới đáy hồ thì cá đang bị bệnh đường ruột, nhiễm khuẩn Capillaria, Hexamita… Xin nhắc lại, bệnh nhiễm khuẩn có thể chữa được nhưng hơi khó khăn đối với người mới bắt đầu nuôi cá. Nếu bạn mua cá từ tiệm bán cá, tốt nhất nên hỏi người bán xem cá có ăn uống bình thường hay không. Nếu chúng hơi phàm ăn, bạn có thể chắc chắn rằng chúng đang ở trong tình trạng sức khỏe tốt và sẽ sống sót trong hồ cá của bạn.


Khi bạn mang cá về nhà, hãy áp dụng phương pháp tập cho cá quen với nước hồ. Châm nước hồ từ từ vào chậu có sẵn cá và nước từ túi đựng cá. Một khi lượng nước tăng lên gấp đôi, bạn có thể bắt cá bằng tay hay vợt để thả vào hồ. Đừng đổ nước từ túi đụng cá vào hồ. Chỉnh độ chiếu sáng thấp ngày đầu tiên hay cho đến khi cá bơi lội bình thường. Cá dĩa nằm bẹt một bên thân dưới đáy trong vài giờ khi được thả vào hồ mới là điều rất bình thường. Cũng bình thường khi chúng bắt đầu bơi lội và đòi ăn sau đó khoảng chục phút. Việc di chuyển ít nhiều làm cá bị sốc, dù sao đi nữa, cá dĩa bắt đầu ăn sau đó khoảng một ngày.

Sau khi thả cá vào hồ, bạn tránh làm phiền đến chúng trừ phi thật cần thiết. Từ từ rồi chúng sẽ quen với sự hiện diện của bạn nhưng lúc đầu đừng ngạc nhiên nếu chúng tìm cách bỏ trốn khi bạn đến gần. Hãy đừng cử động. Bản tính tò mò tự nhiên của chúng sẽ trỗi dậy và nhanh chóng phản ứng với những gì xảy ra ở phí trước hồ. Chúc bạn may mắn và sở hữu những con cá dĩa tốt nhất. Hy vọng bạn có nhiều niềm vui!

Kiến thức cơ bản về nuôi dưỡng cá dĩa by Cichlidae

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Dĩa

Kỹ thuật nuôi cá Dĩa

I. Đặc điểm sinh học
1.1 Phân bố, sinh thái

- Sông Amazon (Nam Mỹ) là nơi sản sinh nhiều loài cá đẹp nhiều cá quý, cá đẹp và cá lạ: Cá đuối gai độc, cá Rồng, cá Hải Tượng, … và cả cá Đĩa.

- Cá sống mạnh khỏe ở một môi trường nước thật sạch, độ pH từ 5,5 - 6,5 và ở điều kiện nhiệt độ từ 28 - 32 độ C

1.2 Hình thái



- Cá đĩa có thân hình trơn láng. Cá đĩa được chia ra 2 chủng loại chính đó là cá đĩa Hoang và cá đĩa thuần chủng.

- Cá trưởng thành có kích thước từ 15cm đến 20cm, thân hình có dạng tròn như chiếc đĩa, rất dẹp, miệng nhỏ, mang nhỏ và sống hiền hòa theo bầy đàn trong tự nhiên.

1.3 Phân loại
- Cá đĩa hoang thì có 4 dòng chính
+ Đĩa Heckle.


+ Đĩa nâu (brown discus).


+ Đĩa xanh Dương (blue discus).


+ Đĩa xanh lá (green discus).


- Các loài cá đĩa còn lại điều do những nghệ nhân chơi cá Lai tạo thành. Giống thông thường của dòng cá lai tại dược gọi là cá đĩa bông xanh (turquoise). Hiện nay giống mới nhất là cá bạch tạng (snow white hoặc albino white).


1.4 Dinh dưỡng
Cá đĩa không kén ăn. Thức ăn của cá đĩa trong môi trường nuôi nhân tạo thường là trùn đỏ, trùn chỉ, bo bo, lăng quăng hay tim gan bò băm nhuyễn. Tuy nhiên cá đĩa là tương đối khó nuôi vì cá chỉ sống tốt khi môi trường nước nuôi gần giống môi trường nước cá sông ngoài tự nhiên. Người ta dựa vào những tiêu chuẩn này để làm bể nuôi cá đĩa cho thật phù hợp để cá sống mạnh khỏe.

II. Sinh sản
Có sự khác biệt giữa nuôi cá để ngắm chơi và nuôi sinh sản (ss) về kích thước hồ, nơi đặt hồ, độ PH, ...

2.1 Hồ sinh sản
- Kích thước hồ: từ 30 - 40 x 50 x 60cm (cao, rộng, dài).

- Mực nước trong hồ: Tuỳ theo kích thước cá nhưng thường thì khoảng 30cm.- Ánh sáng: Sáng mờ mờ (khi cá đã đẻ thuần thục, ĐK này không còn cần thiết).

- Âm thanh: Tránh gây tiếng động trong suốt quá trình cá đẻ đến khi tách bầy.

- Nhiệt độ: Nắng gió phương nam không quan tâm đến yếu tố này (khoảng 28 – 30 độ C là cá đẻ tốt).
- pH từ 6,0 đến 6,4 (nếu cá đẻ lần đầu hoặc không chịu đẻ thì tiến hành nâng pH lên 6,6 - 7 và tăng ánh sáng để cá sung lại).

- Không sử dụng máy lọc.

- Thổi khí nhẹ đến vừa phải (nếu sử dụng lọc sinh học sẽ tốt hơn).

- Đặt giá thể làm nơi khi cá để.

2.2 Cá sinh sản


- Phải là cặp cá tròn, đẹp, dáng chuẩn được nuôi trên 10 tháng. Việc xác định trống mái với các bạn mới chơi là một vấn đề nan giải, không thể diễn đạt trọn vẹn. Sau một thời gian, khi cá bắt đầu bắt cặp (bắt đầu sinh sản_sinh sản lần đầu) thì việc xác định cá trống mái với độ chính xác từ 85% đến 90%. Tạm thời bây giờ hãy chấp nhận cách cổ điển như sau:
+ Cho 7 - 8 cá có ở độ tuổi 9-12 tháng tuổi vào hồ nuôi chung.
+ Cho một giá thể (Máng đẻ) vào hồ.
+ Quan sát thấy cặp cá nào quấn lấy giá thể, đánh đuổi những cá khác, làm vệ sinh giá thể, thậm chí đẻ luôn trên giá thể thì bắt cặp đó cho vào hồ ss đã chuẩn bị trước phần trên.
+ Bổ sung cá khác vào nếu còn.

- Thông thường cá dĩa có thể đẻ sau 10 tháng tuổi nhưng thành thục phải từ tháng thứ 9 trở đi. Vì vậy trong thời gian này bạn có nôn nóng cũng không làm được gì.

- Khi cá trống đang dọn ổ đẻ trong điều kiện môi trường nêu trên, có thể 3 giờ sau sẽ đẻ.

2.3. Chăm sóc cá sinh sản
Trong giai đoạn này ta không can thiệp được bất cứ việc gì ngoài việc chờ và chăm sóc như sau:
- Thay nước: 1-2 ngày lần với lượng nước thay ra 10% đến 20% lần. Cá thường đẻ vào khoảng 16 giờ đến 22 giờ . Tránh thay nước vào khoảng thời gian này- PH ổn định từ 6
- 6,5 Tùy cá tơ hay già.

- Cho ăn: ngày 1-2 lần (sáng, chiều) với lượng thức ăn rất ít chủ yếu là chất lượng, (Tim bò + Vitamin + Tảo + chất kết dính).

- Với PH dưới 6,5 cá ăn rất ít, thậm chí không ăn tránh cho ăn thừa làm hư nước, thối trứng. Nếu thuận lợi 1 đến 2 ngày cặp cá sẽ đẻ.
2.4 Chăm sóc và bảo quản trứng

- Cá đẻ sau 1 giờ dùng Blu methylen phun lên trứng để ngừa mốc, thối hoặc mình dùng formol nồng độ 35% với lượng 2cc/100 lít nước vừa ngừa mốc thối cho trứng vừa ngừa nấm cho cá bố mẹ. (Nếu giữ được nước sạch thì không cần dùng hóa chất để bảo quản trứng).

- Sau 36 giờ từ khi đẻ, trứng cá sẽ đổi màu:
+ Từ màu trắng trong sang màu trắng đục: Xong !!! Trứng hư, thối, do nhiều nguyên nhân:Trứng không thụ tinh do cá còn quá non, do nước dơ làm thối trứng,....
+ Từ màu trắng trong sang màu đen: cho thấy bước đầu đã thành công, trứng đã thụ tinh đang dần thành con. Tiếp tục sau 75 giờ hoặc hơn nữa tùy vào thời tiết nóng lạnh sẽ thấy cá con que quẩy trên giá thể.

- Đối với các cặp cá ăn trứng cần dùng lưới bao tổ trứng lại. Cần theo dõi quan sát khi thấy trứng đã nở hết nhẹ nhàng tháo lưới bao ra.



- Mốt số điều cần lưu ý: mọi thao tác trong khu vực ss đều thật nhẹ nhàng từ thay nước, cho ăn, bao trứng, tháo bao trứng,.... nếu không cái giá trả thật đắt là cá giật mình có thể quay lại ăn hết con.

- Sau khi tháo bao trứng những khả năng xảy ra:
+ Một hoặc cả 2 con bố mẹ ăn hết con: Xong, kết thúc chờ đẻ đợt khác. Nếu trong các lần đẻ sau cá vẫn ăn hết trúng zậy LÀ XONG, CHẤM HẾT, KẾT THÚC MỌI VIỆC. + Sau vài giờ hoặc hơn cá bố mẹ vẫn quanh quẩn bên giá thể mà không làm gì. Có hy vọng nhưng không cao số lượng cá con trở thành cá bột không quá 60%. Hy vọng những lần đẻ sau sẽ cải thiện được.
+ Sau vài giờ hoặc hơn cá bố mẹ dọn sạch những trứng hư di chuyển cá con đi chổ khác và gom lại: Thành công tốt đẹp. Chuẩn bị tinh thần nuôi bột.
+ Sau vài giờ hoặc hơn cá bố mẹ dọn sạch những trứng hư di chuyển cá con đi chổ khác và gom lại thật nhỏ như hạt đậu: Thành công mỹ mãn_trên cả tuyệt vời “Hàng hiếm mà ai cũng muốn có khi nuôi cá sinh sản”. Chuẩn bị tinh thần nuôi cá bột với số lượng trên 90%.


- Đối vói các cặp cá vẫn không giữ trứng khi tháo bao lưới nên tách cặp cá ra ghép với cá khác sẽ tốt hơn. Nếu cặp cá không giữ trứng là cặp cá ma ta “ƯNG Ý” nhất không muốn tách cặp vẫn còn biện pháp cuối: “NUÔI VÚ”.

III. Cá bột


Là giai đoạn cá con bắt đầu bám cá bố mẹ đến khi tách bầy khoảng 12 - 15 ngày tuổi, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn tùy theo thể trạng cá bố mẹ.

3.1 Chăm sóc
Chăm sóc gián tiếp thông qua cá bố mẹ, cá bố mẹ chăm đàn con, chúng ta chăm lại nó. Đây là giai đoạn khó khăn nhất nhưng chúng ta không can thiệp được gì, đôi lúc nhìn đàn con chết hàng loạt mà thấy nao lòng. Nguyên nhân cá bột chết thường không xác định được bởi chúng quá nhỏ không khám nghiệm được, chỉ phỏng đoán: do cá bố mẹ không tiết sửa, cá con chết vì đói hoặc do hồ nước có vấn đề,…
Tuy vậy, mình cũng phải "góp sức" với cá bố mẹ bằng những bước sau:

- Xem lại thổi khí trong hồ, cần thiết thì tăng lên chút ít.

- 1 đến 2 ngày đầu khi cá bột rời giá thể: không nên thay nước hồ cá, cho cá bố mẹ ăn rất ít hoặc không cho ăn để tránh hư nước. Nếu đàn con không bám cá bố mẹ, hạ mức nước trong hồ xuống còn cách vây trên của cá khoảng 10cm. Tránh mọi dòm ngó, xăm xoi, xem chừng, …vì đây là những việc làm vô ích, đôi khi sẽ có tác hại.

- Ngày thử 3 đến ngày thứ 5 nếu đàn con đã bám theo cá bố mẹ: Thay nước 10% mỗi ngày.
+ Mọi thao tác trong khu vực cá đẻ đều phải nhẹ nhàng, từ tốn.
+ Tăng cường lượng thức ăn cho cá bố mẹ ở mức độ vừa phải (hai lần trong ngày, khoảng đầu ngón tay cho mỗi lần/mỗi con). Cho atermia mới nở cho cá con ăn, đừng nhiều quá hư nước, chết cá.

- Từ ngày thứ 6 trở đi tiếp tục cho cá bột ăn atermia vài lần trong ngày, nếu bầy con chịu ăn atremia sau 2 ngày, chúng ta có thể tách bầy khi cần thiết. Nhưng tốt nhất vẫn sau 10 ngày tuổi.

- Cũng có cách khác là trong thời gian tử ngày thứ 6 trở đi cho cá bố mẹ ăn trùng chỉ để cá bột "ăn ké" sau 10 ngày ta tách bầy.

- Lưu ý:
+ Không thay hoặc thay nước rất ít trong ngày thứ 1 đến ngày thứ 3.
+ Ngày thứ 3 hoặc hơn nữa mới thay nước với lượng nước 5% -10% cho lần thay đầu rồi tăng dần ở những lần sau nhưng không vượt quá 20%.
+ Chất lượng nước thay vào hồ phải tương đồng về PH, nhiệt độ.

3.2 Tách bầy cá bột


- Thời gian tách cá bột nuôi riêng phụ thuộc vào tay nghề của người chăm sóc cá. Nếu tay nghề “CỨNG” có thể tách cá nuôi riêng sau 7 – 10 ngày tuổi (tách càng sớm cá bố mẹ sẽ sớm đẻ). Nếu mới cho đẻ 1 -2 lần nên để cá 2 tuần hãy tách bầy (đợi khi đã có nhiều kinh nghiệm nuôi dưỡng cá con, cá bố mẹ).

- Có thể dùng vợt lưới để vớt cá bột ra nhưng với cách này cá dễ bị xây xát cả cá bố mẹ lẫn cá bột.

- Dùng ống nhựa trong mềm đường kính khoảng 14-16 mm gắn thêm ở đầu ống nhựa cứng khoảng 20 mm, tổng độ dài dụng cụ tự chế này khoảng 2m - 3m. Cách này tránh được xây xát. Cho đầu có gắn ống nhựa cứng vào hồ hút cá bột ra xô, chậu. Dùng đầu có gắn ống nhựa cứng rà theo mình cá bố mẹ, chúng sẽ phản ứng quyết liệt. bạn cứ tiếp tục cho đến khi hết cá bột trong hồ mới thôi. Vì nếu gián đoạn trong thời gian tử 15 phút trở lên có thể cá bố mẹ "giận” quay sang ăn hết đàn con còn lại.

- Đem xô chậu có chứa cá bột đến hồ nuôi, không đổ trực tiếp mà vẫn cách cũ hút từ xô chậu vào hồ nuôi. Từ lúc này hoặc vài ngày nữa chúng sẽ thành cá hương. ta sẽ bàn về cá hương sau, bây giờ quay lại chăm sóc cá bố mẹ.

3.3. Chăm sóc cá bố mẹ sau khi tách bầy
Đây là việc làm cần thiết: với cá là để tái sản xuất.
- Nếu cá đã nuôi con 2 lần liên tục ta nên cho cá vào hồ tập thể nghỉ ngơi (hồ lớn chứa từ 10 đến 15 con) tăng pH lên trong khoảng từ 6,5 - 7,0, thay nước ngày 1 lần với lượng nước thay ra từ 60% -80%. Sử dụng lọc, thổi khí hơi mạnh, thức ăn cho cá là tim bò đã chế biến, thịt bò xắt hạt lựu, lăng quăng, ròng ròng,... ngày 2 đến 3 lần; khoảng 20 - 25 ngày cá sẽ có dấu hiệu muốn sinh sản.

- Nếu cá mới nuôi con 1 lần ta vệ sinh hồ sạch sẽ với lượng nước thay ra khoảng 60% -80% sau khi tách bầy. Thực hiện lại phần "chăm sóc cá sinh sản" nêu trên khoảng từ 5 -10 ngày cá sẽ đẻ lại.

VI. Chăm sóc cá hương
Cá hương, cá bột là danh từ để chỉ độ tuổi của cá: cá bột với độ tuổi từ 3 - 15 ngày tuổi, chưa hoàn toàn sống độc lập được; cá hương là cá sau khoảng thời trên, hoàn toàn có thể tự sống được mà không cần đến bố mẹ. Việc chăm sóc được thực hiện như sau:
- Không cho ăn, không thay nước trong ngày đầu tiên cho ra hồ. (Có thể cho ăn sau 2-3 giờ tách bầy nhưng phải thay nước).

- Nếu cho ra cá bột trước 10 ngày tuổi tiếp tục cho ăn atermia, vài ngày sau đó mới cho ăn trùng chỉ, nếu cho ra cá bột sau 10 cho ăn trực tiếp trùng chỉ.

- Thay nước 2 lần trong ngày; từ 20% lần đầu tăng dần lên cũng không quá 40%(thay nước khi thấy dơ trong 10 ngày đầu tiên tách bầy, nước vào nhỏ giọt 5 - 10 lít/ giờ)

- pH nước 6,8 - 7,5;

- Thức ăn trùng chỉ 3 - 8 lần trong ngày.

- Mực nước trong hồ từ 8 - 15cm;

- Thổi khí nhẹ, không sử dụng lọc;
Giai đoạn này lo lắng cho đàn con tuy giảm nhưng nguy cơ vẫn còn: do shock nước, do nước dơ, do thời tiết thay đổi, …làm cá vẫn có thể chết.

- Lưu ý:
+ Trong suốt quá trình nuôi ở bất cứ giai đoạn nào cũng ngừng cho ăn trước và sau thay nước 1 giờ. Phòng bệnh hơn trị bệnh
+ Nếu mọi chuyện êm xuôi, ta kết thúc giai đoạn cá hương chuyển sang cá bé

V. Chăm sóc cá bé

- Mật độ 100-150 con / hồ 30 x 50 x 120.
- Thay nước 1 lần trong ngày từ 60 - 80%

- PH 6,8 - 7,5;

- Thức ăn trùng chỉ + Tim bò, ngày 4 - 6 lần.

- Mực nước trong hồ từ 20 - 25cm.

- Thổi khí vừa phải.

- Sử dụng lọc lọai 8 - 12Wat, 8 - 10/24; (Tắt lọc khi chúng ta ngủ và khi cho ăn 20 phút).

- Giai đoạn này cá hầu như không bị bệnh ngoài những yếu tố chủ quan do ta gây ra như để nước dơ cá bị nấm, cho ăn nhiều sinh sình bụng, nhiễm trùng đường ruột.

- Thuốc trị cơ bản:
+ Nấm: có bán tại các tiệm cá cảnh; cephalêxin, Tetra vàng của nhật.
+ Sình bụng: ngưng cho ăn tăng nhiệt lên 30 – 32 độ C (2 - 3 ngày);
+ Nhiễm trùng đường ruột: Metronidazon 500 có bán tại các tiệm thuốc tây (4-6viên/100lít nước).

- Lưu ý:
+ Giảm hoặc ngưng cho ăn trong những ngày thời tiết thay đổi mưa bão, lạnh.
+ Loại bỏ những con khuyết tật như thiếu vây, hở mang ...
+ Sau 30 - 45 ngày phân lọai hoặc vớt bớt số lượng cá trong hồ ra vì chúng đã lớn mật độ như vậy không còn đảm bảo điều kiện sống tối thiểu.

VI. Chăm sócC cá lớn
Giai đoạn này chăm sóc và phòng trị bệnh vẫn như giai đọan cá bé, ngoài một ít thay đổi như sau:
- Mật độ 50-70 con / hồ 40 x 50 x 120.

- Thay nước 1 lần trong ngày; từ 80% - 100%.

- PH 6,8 - 7,2;

- Thức ăn: trùng chỉ + Tim bò, ngày 3 lần.

- Mực nước trong hồ 35cm;

- Thổi khí vừa, có thể mạnh;

- Sử dụng lọc lọai 8 - 12Wat, 8 -10/24; (Tắt lọc khi chúng ta ngủ và khi cho ăn 20 phút).

- Từ giai đọan này trở đi ta đã có những cá thể hoàn chỉnh, đẹp. Việc chăm sóc ngày càng đơn giản hơn: giảm dần mật độ cá trong hồ, giảm lượng thức ăn và số lần cho ăn trong ngày. Vẫn duy trì việc thay 100% nước mỗi ngày.

Kỹ thuật nuôi cá dĩa, Cá cảnh Việt Nam.

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Những loài Cá Cảnh đẹp nhất

Những loài Cá Cảnh đẹp nhất


Những loài cá cảnh đẹp nhất by TSTB | Nhung loai ca canh dep nhat

Là kỹ sư tin học, song Jamie Frater, người New Zealand được xem là chuyên gia hàng đầu thế giới về cá cảnh. Danh sách 10 loài cá cảnh đẹp nhất thế giới của ông dựa trên trên các tiêu chí về đa dạng màu sắc, hình dáng và giá cả... phải chăng.

1. Mandarinfish (cá trạng nguyên)
Cá này chỉ ăn những vi sinh vật sống trong đá ở các rặng san hô, vì vậy người nuôi phải cho đá vào bể ít nhất một tháng trước khi thả cá vào. Một con thuộc loài này có giá khoảng 3 triệu đồng.


2. Discus (cá đĩa)
Discus có lẽ là loài đẹp nhất trong tất cả các loài cá nước ngọt, đồng thời cũng là một trong các loài cá nước ngọt đắt nhất, chỉ đứng sau Koi.



3. Lionfish (cá sư tử)
Lionfish, hay còn gọi là Zebrafish (cá ngựa vằn) khiến người ta cảm thấy như bị thôi miên mỗi khi ngắm. Những cái gai trên lưng loài cá này rất độc, người chơi cá này vẫn nên rất cẩn thận mỗi khi vệ sinh bể.


4. Moorish Idol
Đây là một trong những loài cá đắt và khó nuôi trong bể nhất


5. Cá Koi (Cá chép Nhật)
Hầu hết các loài cá chép Koi đều chỉ có màu cam hoặc trắng. Những con có kiểu hoa văn đặc biệt được các nhà sưu tập săn lùng và trả giá hàng nghìn USD.


6. Flame Angel (thiên thần lửa)
Giống như Coral Beauty, loài cá này phổ biến và có giá cả phải chăng.


7. Coral Beauty (người đẹp san hô)
Phải nhìn tận mắt mới có thể thấy hết vẻ đẹp rực rỡ của loài cá này. Coral Beautycó sức chịu đựng cao và dễ dàng nuôi trong bể.


8. Regal Tang (cá đuôi gai)
Sau khi bộ phim hoạt hình "Finding Nemo" công chiếu, loài cá này thường được các em bé gọi là "cá Dory".


9. Parrotfish (cá vẹt)
- Tên như vậy vì loài cá này có miệng giống mỏ chim. Parrotfish dùng mỏ để nghiền nát san hô và ăn những động vật không xương sống nhỏ.


- Cá Cichlids khi lớn lên thường có chiều dài thân từ 15 đến 18cm, sống trong nước ngọt và dễ dàng nuôi trong bể cá cảnh. Cần lưu ý là nước cho loài cá này cần có độ pH cao hơn thông thường. Ở lưu vực sông Amazon cũng có một số loài cá Cichlids, tuy nhiên chúng thường có kích cỡ lớn hơn và hung dữ hơn nhiều so với những người anh em châu Phi.

10. Cichlids châu Phi
Loài cá được tìm thấy ở ba hồ lớn của Châu Phi: Malawi, Tanganyika và Victoria. Ở hồ Victoria loài cá này có số lượng ít hơn và màu sắc cũng thường kém sặc sỡ hơn các hồ kia.