Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Nước Lợ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Nước Lợ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa


Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa by ST Báo AB | Ky thuat phong benh cho ca giai doan chuyen mua

Hiện nay, với xu hướng thâm canh hóa trong nghề nuôi thủy sản thì bệnh cá xảy ra trong quá trình nuôi - nhất là vào giai đoạn chuyển mùa – là điều khó tránh khỏi và nó cũng đã gây ra nhiều tổn thất cho người nuôi. Tuy nhiên, nếu người nuôi tuân thủ tốt một số yêu cầu kỹ thuật sau đây sẽ góp phần hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra do các bệnh.
1. Những nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh cá
- Chất lượng nước bị thay đổi: Nhiệt độ nước thay đổi đột ngột vào tháng 12 đến tháng 2 (có thể xuống thấp đến 18 – 22 độ C) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 3 đến tháng 5 (lên đến 30 – 35 độ C) đều làm cho cá bị sốc bỏ ăn, suy yếu, tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh cá phát triển, làm cho cá dễ bệnh. Nước ao kém chất lượng do quản lý không đúng kỹ thuật hoặc nguồn nước cấp bị ô nhiễm hóa chất độc, vi khuẩn, vi rút.

- Chất lượng thức ăn kém: Chất lượng thức ăn kém, không đủ dinh dưỡng cho cá sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển và làm ô nhiễm nước ao.

- Thiếu cẩn thận khi chăm sóc: Các dụng cụ cho ăn không được vệ sinh thường xuyên là nơi ẩn chứa mầm bệnh. Các dụng cụ vận chuyển, bắt cá như lưới vợt, thùng... có thể làm xây xát cá trong quá trình thao tác và vì thế mầm bệnh có điều kiện xâm nhập vào cá nuôi.

- Nguồn giống thả kém chất luợng: Cá có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống thả nuôi chưa được kiểm tra chất luợng, mang sẵn mầm bệnh mà chưa được xử lý diệt trùng, khi cá thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ thuận lợi cho mầm bệnh phát triển.

2. Phòng bệnh cho cá
Trong giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi đột ngột dễ làm cho cá bị sốc, tác nhân gây bệnh có điều kiện phát triển và xâm nhập vào vật nuôi. Nên điều cơ bản để giữ sức khỏe và phòng bệnh cho đàn cá là việc tránh sốc bằng cách duy trì chất lượng môi trường nước tốt qua việc chăm sóc đúng kỹ thuật.
a) Vệ sinh ao đìa sạch sẽ trước mỗi vụ nuôi
Dọn sạch cỏ; vét bùn đáy ao; lắp hết các lỗ mọi hang hóc xung quanh bờ ao; bón vôi để tiêu diệt mầm bệnh, ổn định pH và diệt tạp.

b) Chọn loài cá nuôi phù hợp
- Hiện nay có rất nhiều loài cá nuôi. Để chọn được loài cá nuôi thích hợp với điều kiện từng nông hộ cần phải xem xét 3 vấn đề sau:
+ Thức ăn: Khả năng cung cấp thức ăn là tự có hay mua.
+ Mục đích sử dụng: Nuôi để bán hay nuôi để ăn.
+ Tùy từng vùng sinh thái khác nhau mà chọn loại cá nuôi cho phù hợp. Ví dụ vùng khó thay nước hay mô hình VAC có thể nuôi cá trê, tra...; vùng phèn có thể nuôi cá rô đồng, sặt rằn, trê...

- Từ cơ sở đó mà nông hộ có thể chọn loài cá nuôi phù hợp với điều kiện thực tế của mình để có thể tận dụng hết những tiềm năng sẵn có tại nông hộ.

3.Chất lượng con giống
Chọn giống tốt, không mang mầm bệnh, cá tương đối đều cỡ, màu sắc sáng đẹp, bơi lội nhanh nhẹn, phản ứng nhanh, không bị dị hình, trầy sướt, nên mua giống ở những nơi có uy tín... Trước khi thả giống nên tắm cá giống qua nước muối 2 - 3% trong 5 - 10 phút và phải theo dõi cá trong quá trình tắm.

4. Mật độ thả thích hợp
Nên thả đúng mật độ tùy theo từng loài cá: Nhóm cá không có cơ quan hô hấp phụ (rô phi, mè hoa, trắm cỏ, chép, mè vinh...) thả với mật độ dưới 5 con/m2; nhóm cá có cơ quan hô hấp phụ (tra, trê, tai tượng, rô đồng, sặt rằn...) thả với mật độ 5 - 10 con/m2. Thả cá đúng mật độ để cá lớn nhanh lớn đều, ít bệnh, rút ngắn được thời gian nuôi, đạt cỡ thương phẩm lớn bán được giá cao, không phải tốn tiền nhiều để mua con giống và thức ăn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.

5. Nuôi ghép
- Trong cùng một ao có thể nuôi ghép các loài cá với nhau để tận dụng không gian mặt nước và tất cả các loại thức ăn có trong ao vì mỗi một loài cá sống ở một tầng nước và có loại thức ăn riêng. Khi nuôi ghép cần lưu ý:
+ Số loài cá thả ghép dưới 4 loài.
+ Đối tượng nuôi chính trên 50% tổng các loại cá, còn lại là các đối tượng ghép thêm.
+ Các loại cá thả ghép phải tương đối đều cỡ nhau và thả cùng thời gian.
+ Các loài cá ghép phải không cùng tính ăn và không gian sống.
+ Thời gian nuôi và giá cá thương phẩm các loài cá gần bằng nhau để dễ bán.

- Một số đối tượng thường kết hợp nuôi ghép và tỷ lệ nuôi ghép: Cá tai tương 80% ghép sặt rằn 20%; hoặc cá tra 80% ghép rô phi 20% hoặc cá rô đồng 70% ghép sặt rằn 30%...

6. Chăm sóc đúng kỹ thuật, cho ăn phải đạt 4 yêu cầu
Định lượng, định chất, định vị trí, định thời gian để đảm bảo cho cá khỏe mạnh, ít nhiễm bệnh. Nếu thức ăn là tấm cám nấu thì nên để vô sàng cho cá ăn để dễ quản lý được thức ăn.

7. Quản lý chất lượng nước ao nuôi
Ao phải thông thoáng, độ sâu ao nuôi cá thịt 1,2 - 2m, độ sâu ao ương cá giống: 0,5 – 1,2m, pH ổn định từ 6,5 – 8,5 tức là nước ao nuôi cá có màu xanh vỏ đậu hoặc xanh lá chuối non là tốt, hàm lượng oxy hòa tan 3 - 8mg/l, nhiệt độ nước: 28 – 30 độ C.

8. Đối với ao khó thay nước hoặc không thay nước được
Khi nuôi cá vào các tháng cuối gần thu hoạch, nước ao và nền đáy ao rất dơ do thức ăn dư thừa và phân cá thải ra trong suốt quá trình nuôi nên cá có nguy cơ phát sinh bệnh rất cao, do đó có thể xử lý bằng cách dùng các chế phẩm sinh học.

9. Phòng bệnh cho cá lúc giao mùa
Vào mùa mưa, nhất là giai đoạn chuyển muà nắng sang mưa, ao rất dễ bị xì phèn làm pH nước ao giảm thấp; pH thay đổi đột ngột như vậy làm cá bị sốc sẽ giảm sức đề kháng và mầm bệnh dễ dàng có cơ hội xâm nhập vào cơ thể cá. Nên phòng bằng cách: Định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ bẩn từ trên bờ ao xuống. Đồng thời, ngâm vôi vào nước để nguội, lấy phần nước vôi tạt đều khắp ao lượng 1 - 3 kg/100m3 nước, có tác dụng ổn định pH nước và phòng bệnh cho cá.

10. Một số lưu ý
Trong suốt quá trình nuôi nên phòng bệnh cho cá là tốt nhất, vì khi các bị bệnh việc điều trị rất khó khăn, tốn kém và hiệu quả không cao. Vì vậy định kỳ 2 lần/tuần, trộn Vitamin C vào thức ăn cho cá ăn để tăng sức đề kháng cho cá. Lưu ý: Vitamin C rất dễ tan trong nước nên khi trộn Vitamin C vào thức ăn phải dùng chất kết dính như dầu mực, bột gòn... để tăng hiệu quả sử dụng. Hoặc có thể sử dụng những cây thuốc Nam sẵn có tại chỗ để phòng bệnh cho cá như: Lá giác, lá xoan, cỏ mực…

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Chiên Lồng

Kỹ thuật nuôi cá Chiên Lồng


Kỹ thuật nuôi cá chiên lồng by ST | Ky thuat nuoi ca chien long

Cá Chiên là đối tượng thủy đặc sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao, là một trong số các loài cá được xếp vào dạng “ngũ quý” cùng với cá Lăng chấm, cá Bỗng, cá Anh Vũ và cá Rầm xanh. Cá Chiên thường sống trong các sông suốithuộc các tỉnh phía Bắc và tập trung ở vùng trung, thượng lưu của các sông lớn,nơi có nước chảy xiết.


Hiện nay, sản lượng cá Chiên phần lớn từ khai thác tự nhiên và đang có nguy cơ cạn kiệt. Một số hộ dân ở các xã vùng hồ sông Đà đã thử nghiệm nuôinhốt trong lồng, năng suất chỉ đạt trung bình từ 20 - 25 kg/lồng. Tuy năng suất và sản lượng không cao nhưng bước đầu cho thấy khả năng thích nghi với điềukiện nuôi lồng của cá Chiên. Phần lớn các hộ nuôi cá Chiên lồng chủ yếu là gom nhốt cá, chưa áp dụng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là chế độ cho cá ăn, chăm sóc và phòng bệnh cho cá, vì vậy cá chậm lớn, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với giátrị kinh tế của nó. Với mong muốn giúp bà con nắm được kỹ thuật nuôi cá Chiên để phát triển nghềnuôi thuỷ sản mới, nhằm mục đích từng bước vươn lên xóa đói giảm nghèo và tiến tới làm giàu, chúng tôi giới thiệu đọc giả “Kỹ thuật nuôi cá chiên Lồng”.

1. Thiết kế lồng nuôi bằng thép
a. Vật liệu
Toàn bộ khung lồng làm bằng sắt dẹt, mỗi cây dài 8m. Thùng phi nhựa, dâythép để liên kết phi sắt với khung lồng. Ngoài ra còn có dây neo cố định khunglồng.

b. Thiết kế khung lồng
Lồng có kích thước 8m x 2,5m x 2m, gồm 1 dãy với 2 ô, mỗi ô kích thước 4m x 2m x 2,5m. Phao làm bằng thùng phi hoặc phi nhựa và được cố định vớikhung lồng.Toàn bộ các thanh sắt dọc và ngang được hàn gắn chặt với nhau tạo thànhcác vách lồng, mỗi vách gồm rất nhiều nan, các nan lồng cách nhau 1,5 cm.Sau đó các vách lồng sẽ được gắn lại với nhau bằng các bu lông tạo thànhlồng. Các phi nhựa (phao) được liên kết với khung lồng bằng dây thép buộc vào cây luồng để đảm bảo cho lồng nổi.


2. Chọn vị trí nuôi
- Địa điểm đặt lồng bè phải có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm bởi nướcthải sinh hoạt, chất thải công nghiệp.

- Môi trường nuôi phải đảm bảo các yếu tố sau: pH 7,0 – 8,0; oxy hoà tan >5 mg/lít; NH3 < 0,01 mg/lít; H2S < 0,01 mg/lít. Chọn nơi thông thoáng, không nên nuôi tại các điểm cuối của eo nghách. Độ sâu điểm đặt lồng trên hồchứa có độ sâu lớn hơn 4m tại thời điểm mực nước hồ xuống thấp nhất. - Mật độ lồng nuôi trên hồ chứa không quá dày. Mỗi cụm lồng không quánhiều lồng tốt nhất mỗi cụm nuôi khoảng 3 - 5lồng. Các cụm lồng cách nhau 10 - 15m. 3. Chọn giống và thả giống
- Cá giống phải khỏe mạnh, không dị hình, xây xát, kích cỡ đồng đều, không bị mất nhớt. Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn.

- Kích cỡ cá giống: Đối với nuôi trong lồng yêu cầu kích thước cá giống 20 - 25 cm. Cá giống này đã được nuôi trong ao cho đến khi đạt kích thước trên mớiđưa ra thả trong lồng.

- Mật độ thả: Nuôi lồng trên hồ chứa thả 7,5 con/m3 lồng.

- Mùa vụ thả giống: Tốt nhất nên thả giống nuôi vào tháng 3 – tháng 10 vànuôi 2 vụ/năm.

- Khi thả cá, cân bằng môi trường bằng cách ngâm bao chứa cá vào lồngnuôi trong thời gian 10 - 15 phút, sau đó cho nước từ từ vào miệng túi và tiến hànhthả cá.

4. Cho ăn
- Thức ăn cho cá Chiên sử dụng trong quá trình nuôi chủ yếu là các loại: thức ăn công nghiệ p, thức ăn tự chếbiến và cá tạp.

- Dùng thức ăn công nghiệ p dạng viên nổi và không tan trong nước sẽ hạn chế sự thất thoát thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm nước nuôi. Cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệ p hoặc thức ăn chếbiến có hàm lượng đạm 18 - 30%.

- Thức ăn chếbiến được làm từ các nguyên liệu sẵn cóởđịa phương để phối chế thành thức ăn cho cá Chiên. Các nguyên liệu cần tính toán hợ p lý để đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng, quan trọng nhất là đạm theo nhu cầu của cá Chiên. Thành phần thức ăn chế biến ta có thể sử dụng 1 trong 3 công thức sau:
+ Công thức 1: Cám gạo 60 % + bột ngô (bắ p) 20% + bột cá20%.
+ Công thức 2: Cám gạo 40% + bột ngô (bắp) 20% + khô dầu lạc 40% hoặc cho ăn cá tạp.
+ Công thức 3: Cho ăn cá tạp 100%.

- Các loại thức ăn tự chế được nấu chín để nguội và nắm thành từng nắm nhỏ để cho cáăn trong sàn ăn. Cho cáăn từtừ, từng ít một cho đến khi hết thức ăn, tránh hiện tượng cá tranh giành thức ăn quá mạnh, làm thức ăn tan vào nước ao gây thất thoát. Không nên cho cá Chiên ăn thức ăn dạng bột vìthức ăn bịtan trong nước vừa lãng phívừa làm ô nhiễm môi trường nuôi.

- Thức ăn được chia đều làm 2 phần, cho cá ăn vào lúc sáng (6 - 7h) và chiều (17 - 18h). Cho cá ăn đúng giờđểtạo phản xạcho cá.

- Trong quá trình nuôi cần theo dõi tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Chu kỳ điều chỉnh thức ăn là 10 ngày/1lần. Cứ 10 ngày kiểm tra tốc độ sinh trưởng cá 1 lần trên cơ sở đó ước lượng được khối lượng cá trong ao. Lượng thức ăn cho ăn trong giai đoạn đầu bằng 5 - 6% khối lượng cá nuôi. Khi cá đạt cỡ100g cho ăn 3 - 4%, khi cá đạt trên 200g cho ăn 2%.

5. Quản lý lồng nuôi
- Hàng ngày quan sát hoạt động của cá trong các lồng nuôi, tình hình sửdụng thức ăn và các hiện tượng bất thường khác xảy ra.

- Mỗi tuần vệ sinh lồng một lần, dùng bàn chải nhựa cọ sạch các cạnh bênlồng lưới. Việc vệ sinh lồng tiến hành trước các bữa ăn của cá.

- Trong quá trình vệ sinh cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp thời các vết rách,rạn nứt để kịp thời khắc phục các vết rách nhằm hạn chế cá đi mất.

- Loại bỏ rác trôi nổi và các vật cứng vào khu bè nuôi.

- Vào mùa mưa lũ phải kiểm tra cá dây neo bè, di chuyển lồng vào vị trí antoàn khi có bão, lũ.

- Khi cá có các dấu hiệu bất thường sau cần phải có biện pháp xử lý ngay:
+ Thay đổi màu sắc bất thường;
+ Cá kém ăn hoặc bỏ ăn;
+ Cá bơi lội bất thường;
+ Cá bị lồi mắt, lở loét, xuất huyết trên thân.

6. Phòng trị bệnh
6.1 Bệnh nhiễm khuẩn
a) Dấu hiệu bệnh:
- Mầm bệnh là các vi khuẩn (Aeromonas spp) thường xuyên có mặt trongnước, các chất thải từ cá và có thể từ nguồn thức ăn (cá tạp ôi...).

- Cơ quan bị nhiễm: Vây, thân, mắt và các nội quan.

- Dấu hiệu bệnh: Các vết loét và xuất huyết trên thân, xơ vây, lồi và loétmắt.

- Cá bị nhiễm khuẩn khi: Nuôi cá với mật độ cao, chất lượng nước và thứcăn kém, cá bị xây sát do đánh bắt hoặc do KST bám.

b. Phòng và trị:
- Cần tính toán mật độ thả cho phù hợp.

- Thường xuyên vệ sinh lồng lưới để đảm bảo cho sự lưu thông nước vàtránh làm tổn thương cá trong quá trình thao tác.

- Quản lý thức ăn và môi trường nước nuôi.

- Loại bỏ những con bị bệnh nặng.

- Tắm cho cá bằng iodine sau khi dùng kháng sinh.

- Trộn kháng sinh vào thức ăn cho cá ăn liền trong 7 ngày.

6.2 Bệnh Nấm
a) Dấu hiệu bệnh:
- Cơ quan bị nhiễm: Cơ và các cơ quan bên trong.

- Hình thái nấm: Đám màu trắng, có thể nhìn thấy sợi.

- Bệnh ít gây chết nhưng làm mất giá trị của cá.

b. Cách phòng trị:
- Tránh gây tổn thương cho cá đặc biệt trong mùa lạnh.

- Loại bỏ cá bị nhiễm nặng.

- Xử lý bệnh bằng nước muối.

6.3 Bệnh Ký sinh trùng
a. Dấu hiệu bệnh:
- Tác nhân gây bệnh: Trùng bánh xe, sán, rận cá, bào tử trùng, đỉa...

- Cơ quan bị ảnh hưởng: Da, mang, vây và thân.

- Dấu hiệu: Cá bơi không định hướng, ngứa ngáy và hay cọ sát vào thànhlồng. Cá chuyển màu sẫm, mang nhợt nhạt, da và mang có thể bị hoại tử, cá chếtnhiều nếu không xử lý kịp và đặc biệt ở cá hương, cá giống.

b. Cách phòng và trị:
Tắm cho cá bằng 1 trong các hoá chất sau: CuSO4 (0,5ppm), nước muối3%. Khi xử lý cần chú ý cung cấp đủ ô xy hoà tan.

7. Thu hoạch
Sau 12 tháng khi cá đạt kích cỡ thương phẩm (1,5 – 2 kg) thì tiến hành thutỉa cá đạt kích cỡ lớn, cá nhỏ hơn tiếp tục nuôi đến cuối vụ để đạt kích cỡ thương phẩm thì thu hoạch toàn bộ.

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Kỹ thuật sản xuất giống cá Bóp

Kỹ thuật sản xuất giống cá Bóp


Kỹ thuật sản xuất giống cá bóp by Thủy Sản VN | Ky thuat san xuat giong ca bop

Cá giò (cá bớp biển), là một trong những loài cá biển có giá trị kinh tế cao. Việc sản xuất thành công cá giò giống đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá biển ở một số địa phương có nhiều tiềm năng như Hải Phòng, Quảng Ninh…

1. Nuôi vỗ cá bố mẹ
- Địa điểm: Lồng nuôi vỗ phải được đặt ở nơi ít sóng gió, dòng chảy nhẹ từ 0,2 - 0,5 m/s, độ mặn 25 - 32‰, độ trong > 2m. Kích thước lồng 3mx6mx3m hoặc 10x10x10m, kích cỡ mắt lưới thích hợp là 2a=10cm.

- Tuyển chọn cá bố mẹ: Chọn những con cá bố mẹ khỏe mạnh, trọng lượng từ 8 - 10 kg/con. Xác định cá đực và đánh dấu (bằng chíp điện tử). Nuôi vỗ với mật độ 5 - 6kg cá/1m3 lồng.

- Nuôi vỗ cá bố mẹ: Chia làm 3 thời kỳ:
+ Nuôi duy trì: Thời gian nuôi vỗ từ tháng 6 - 9, thức ăn là cá tạp tươi, khẩu phần cho ăn bằng 3% trọng lượng thân. Đối với cá đã nuôi vỗ từ năm trước nhưng không cho đẻ thì dùng LRHa (liều lượng 10 - 15mg/kg cá mẹ) tiêm để loại bỏ hết sản phẩm sinh dục cũ, thời gian tiêm từ ngày 5 - 15/7. Đối với cá mới tuyển chọn lần đầu không cần tiêm.
+ Nuôi vỗ tích cực: Kéo dài từ tháng 10 - 12, lượng cho ăn bằng 5% trọng lượng thân, thức ăn bổ sung một số loại cá có chất lượng cao như mực, cá nục…
+ Nuôi vỗ thành thục: Từ tháng 1 năm sau cho đến khi cá đẻ. Đây là thời kỳ rất quan trọng, giảm khẩu phần thức ăn xuống từ 2 - 2,5% trọng lượng thân. Tuy nhiên, giai đoạn này cần bổ sung khoáng, các vitamin.

* Chú ý: Bổ sung thêm vào khẩu phần ăn cho cá đực từ 0,5-1mg 17-MT sẽ tăng khả năng thành thục của cá đực.

2. Kỹ thuật sinh sản cá Bóp
- Chuẩn bị bể đẻ: Bể đẻ tốt nhất là hình tròn, thể tích từ 50-150m3, chiều cao 2,5m. Nước được cấp từ dưới đáy bể lên để nước trong bể chảy thành dòng xoáy. Mỗi bể lắp từ 6 - 10 vòi sục khí mạnh. Trước khi đưa cá vào bể đẻ phải cấp nước đầy.

- Chọn cá cho đẻ:
+ Cá cái: Dùng que thăm trứng, trứng dời nhau, hạt trứng căng, tròn đều và có đường kính 0,8 - 0,9mm, màng trứng rõ ràng, nhân hơi lệch về phía cực động vật là trứng tốt.
+ Cá đực: Vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục thấy có sẹ màu trắng đục như sữa chảy ra, tan nhanh trong nước là cá đực tốt, đã sẵn sàng tham gia sinh sản.

- Tiêm kích dục tố (KDT): Cá đực không cần tiêm bất kỳ loại KDT nào. Cá cái tiêm 1 trong 3 loại KDT sau:
+ Tiêm kích dục tố LHR-a với liều lượng 10µg/kg.
+ Hoặc tiêm HCG với liều lượng 500IU/kg.
+ Hoặc tiêm kích dục tố LHRH-e với liều lượng 20µg/kg (Hoormone này có hiệu quả nhất vì cho tỷ lệ thụ tinh cao hơn).

3. Thu trứng, tách và ấp trứng
- Thu trứng: Trứng vớt được phải chuyển ngay vào bể hoặc thùng đựng trứng đặt trong bóng tối và có sục khí.

- Tách trứng: Đưa trứng cá vào nước có độ mặn 35 - 36‰, những trứng tốt sẽ trương nước, có kích thước giọt dầu lớn và nổi lên mặt nước. Những trứng chìm và ở sâu trong tầng nước là trứng xấu, phải loại bỏ. Tách trứng từ 3 - 4 lần, mỗi lần cách nhau 3 giờ để loại bỏ hết trứng xấu và cho vào ấp.

- Ấp trứng: Môi trường nước ấp trứng cần đảm bảo các điều kiện như độ pH từ 8 - 8,5; độ mặn 35 - 36‰; nhiệt độ nước 24 – 28 độ C. Mật độ ấp từ 400 - 500 trứng/l, bể ấp được sục khí nhẹ và liên tục trong suốt quá trình ấp. Cấp nước có độ mặn 30 - 32‰ liên tục vào bể, khi trứng nở độ mặn sẽ hạ xuống còn 31 - 32‰ (bằng với độ mặn bể ương và có thể chuyển ấu trùng mới nở sang bể ương đã chuẩn bị sẵn).

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Bống Kèo thương phẩm

Kỹ thuật nuôi cá Bống Kèo thương phẩm



1. Chuẩn bị ao nuôi
Ao nuôi cá bống kèo là những ao đất thông thường. Ở vùng ven biển có thể sử dụng ao nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh hoặc ao nuôiquảng canh để nuôi luân canh cá bốngkèo. Vùng làm muối có thể luân canhnuôi cá ống kèo trong ruộng muối vào mùa mưa khi nước bị giảm độ mặn không sản xuất được muối. Từ những kinh nghiệm thực tế nuôi cá bống kèoở các địa phương cho thấy, ao nuôi có diện tích thích hợp nhất từ 1.000 – 2.000 m2.

- Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ như cá chẽm, cá nâu, cá rô phi và tất cả các loài cá, các loài địch hại khác. Nên dùng rễ dây thuốc cá (Derris elliptica Benth) để diệt tạp, với liều lượng 1kg rễ tươi cho 100m3 nước ao. Cách làm như sau: Để nước trong ao còn độ sâu 8 – 10cm và tính toán thể tích nước có trong ao, rễ dây thuốc cá đập dập, ngâm trong nước 5 – 6 giờ rồi vắt lấy nước, hòa loãng, sau đó té đều khắp mặt ao. Tất cả cá sẽ chết hết và vớt đi rồi tháo hết nước hoặc bơm cạn ao để phơi đáy.

- Cày hoặc xới đáy ao 1 lớp đất mỏng (5 – 7 cm) để đáy ao thoáng khí, tạo điều kiện cho sinh vật đáy phát triển làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá.

- Bón lót cho ao bằng phân hữu cơ, liều lượng 20 – 30 kg/100m2 ao.

- Rải vôi bột xuống đáy ao để hạ phèn, diệt tạp, diệt các mầm bệnh, lượng dùng 8 – 12kg/100m2, sau đó có thể xới đảo bùn đáy để hoà trộn vôi và phân hữu cơ.

- Ao cần phơi đáy 2 – 3 ngày. Những ao ở vùng bị nhiễm phèn thì không phơi đáy
Những ao đã nuôi tôm sú trước đó thì không cần bón lót phân hữu cơ, chỉ nên diệt tạp vàcá dữ bằng rễ dây thuốc cá, rải vôi, hạ phèn và diệt mầm bệnh trong đáy ao.

- Lấy nước vào ao qua lưới chắn lọc để tránh địch hại và cá dữ, cá tạp lọt vào ao ăn hại cá và tranh giành thức ăn với cá nuôi. Khi mức nước đạt 0,3 – 0,4m thì có thể thả cá giống. Những ngày sau đó tăng dần mức nước ao cho đến khi đạt theo yêu cầu (0,8 – 1m).

2. Mùa vụ nuôi
Mùa vụ nuôi bống kèo từ tháng 4 - 5 khi bắt đầu có con giống tự nhiên, ngoài ra người nuôicòn sử dụng ao nuôi tôm để nuôi bống kèo sau khi nuôi tôm vụ 1 (vào tháng 7 - 8).

3. Kích cỡ và mật độ thả giống cá nuôi
- Kích cỡ cá giống: Nên chọn cá giống khoảng 3 – 5cm hoặc 4 – 6cm, cá giống ương nuôi trong ao là tốt nhất vì sẽ có kích cỡ đồng đều hơn, khoẻ hơn vì đã thích nghi với điều kiện trong ao. Chọn cákhoẻ mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không bị nhiễm bệnh, màu sắc tươi sáng, có nhiều nhớt.

- Mật độ thả nuôi: Tuỳ theo điều kiện ao, khả năng quản lý chăm sóc và cỡ cá, có thể thả nuôi với mật độ 30 – 60 con/m2, trung bình 50 con/m2. Nếu cỡ cá nhỏ (3cm) nên thả mật độ cao hơn so với cỡ cá lớn (5 – 6cm) để trừ hao hụt trong khi nuôi. Nếu điều kiện quản lý và kiểm soát chất lượng nước chủ động, có thể tăng mật độ nuôi lên cao hơn 60 con/m2.

4. Kỹ thuật nuôi
a. Thức ăn
- Cá bống kèo có tính ăn tạp, ngoài thức ăn tự nhiên có trong ao như phù du động thực vật, sinh vật đáy, rong tảo sống bám, mùn bã hữu cơ… cá còn ăn được các thức ăn do con người cung cấp như ăn thức ăn chế biến và thức ăn viên công nghiệp.

- Để duy trì thức ăn tự nhiên, phải định kỳ bón thêm phân hữu cơ đã ủ hoại 10 – 15 kg/100m2/tuần hoặc 100 – 150g phân vô cơ (DAP, NPK)/tuần. Thức ăn chế biến gồm cám gạo (60 – 70%) và bột cá (30 – 40%) được trộn đều và nấu chín, trộn thêm premix khoáng và vitamin A, D, E, C (tổng cộng 0,2 – 0,3% tổng trọng lượng thức ăn). Hàm lượng đạm trong thức ăn dao động từ 25% ở 2 tháng đầu, sau đó giảm dần xuống 22% rồi 20% ở tháng thứ 3,4 và 18% cho hai tháng nuôi cuối. Khẩu phần ăn 4 – 6% trọng lượng thân/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều mát.

- Cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp cần phải chọn loại kích cỡ thức ăn phù hợp với độ lớn và kích thước miệng để cá có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả nhất. Hàm lượng đạm trong thức ăn cũng dao động từ 25 – 28%, giảm dần theo tuổi của cá. Khẩu phần ăn thức ăn viên công nghiệp từ 1 – 1,5% trọng lượng thân/ngày và cho cá ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Ngoài ra, trong thời gian nuôi, thức ăn nên có bổ sung thêm một số loại men tiêu hoá nhằm kích thích cho cá ăn ngon và tiêu hoá thức ăn tốt hơn tránh hiện tượng cá bị chướng bụng, đầy hơi.

b. Quản lý ao nuôi
- Quản lý môi trường nước: Nước ao cần được chủ động điều chỉnh tăng cao hoặc giảm thấp phù hợp với các giai đoạn phát triển của cá nuôi. Giai đoạn hai tuần đầu mới thả cá giống, mực nước ao cần đạt 0,4 – 0,5m, sau đó tiếp tục dâng từ từ, mỗi tuần cao hơn 0,2m cho đến khi mức nước đạt tốt đa. Theo dõi mực nước hàng ngày, kiểm tra các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá của nước ao như nhiệt độ nước, pH, độ trong, độ mặn. Kiểm tra bờ và cống ao đề phòng bờ bị rò rỉ do cua còng đào hang, lưới chắn bị thủng (do bị mục hoặc cua còng kẹp làm rách lưới). Vào mùa mưa, độ mặn nguồn nước cấp và nước trong ao có xu hướng giảm dần, chú ý độ mặn của nước cấp cho ao phải tương đương hoặc không quá chênh lệch với độ mặn nước ao để tránh cá bị sốc. Độ mặn của nước ao nuôi cá bống Kèo, dù vào mùa mưa cũng không nên để quá thấp dưới 30%0. Định kỳ mỗi tuần thay nước 1 lần, mỗi lần khoảng 30% lượng nước ao. Nếu nước ao bị nhiễm bẩn, màu nước xanh quá đậm hoặc chuyển màu nâu, có mùi hôi thì cần phải thay ngay nước mới trong sạch.

- Phòng trừ địch hại: Có nhiều loài địch hại săn bắt và ăn thịt cá bống kèo như chim cồng cộc, rắn nước biển (con đẻn), cá nâu, cá rô phi, cá bống mọi, bống cát…Để phòng trừ địch hại, khâu quan trọng khi cải tạo ao là phải tìm diệt hết mọi cá tạp, cá dữ, khi lấy nước vào ao lúc cấp nước lần đầu hoặc các lần thay nước định kỳ, phải chắn lọc kỹ, không để cá nâu và rô phi, bóng mọi, bóng cát nhỏ lọt vào ao qua đường cấp nước. Đối với chim cồng cộc, nên đặt các bù nhìn trên bờ ao hoặc treo dây ngang dọc trên mặt ao có gắn các ống bơ (lon) sữa bò nhằm tạo ra tiếng kêu để xua đuổi chim. Có thể dùng ná (giàng thun) để bắn chim và đuổi chim cũng có hiệu quả. Ngoài ra, để bắt các loài cá bống cát, bống mọi, có thể điều tiết mực nước trong ao (dâng cao sau đó hạ thấp 5 – 10cm) khi đó các loại cá bống mọi, bống cát có thể nằm lại ở phần mái bờ mà nước đã rút và ta dùng vợt thu gom chúng lại.

5. Thu hoạch
- Sau 5 - 6 tháng nuôi, cá bống kèo có thể đạt trọng lượng trung bình là 20 - 30 g/con (30 - 50 con/kg), tuỳ theo giá cả thị trường, người nuôi chọn thời điểm để thu hoạch. Theo kinh nghiệm của nhiều ngư dân, việc thu hoạch cá bống kèo có nhiều cách, có thể dùng lưới kéo, nhưng cách này không thể thu hoạch hết cá trong ao. Ngư dân lợi dụng đặc tính thích bơi ngược nước của cá bống kèo dùng một loại dụng cụ là “xà lú” để bắt cá chạy ngược nước thì có hiệu quả hơn thu triệt để hơn. Trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày, cần giữ cho môi trường ao nuôi thật ổn định. Trước khi thuỷ triều cường thì tháo hoặc tát bớt nước ao, khi bắt đầu thuỷ triều cường thì đưa nước vào ao. Sự chênh lệch mực nước sẽ kích thích cá bống kèo bơi ngược dòng nước chui vào trong xà lú. Sau mỗi đợt thu hoạch lại tát cạn ao hơn và tiếp tục cho nước thuỷ triều vào ao để bắt cá cho đến khi ao cạn hoàn toàn và thu hết cá.

- Ngoài ra để thu hoạch những cá còn “ngoan cố” không chịu ngược nước, ngư dân dùng dây thuốc cá với liều lượng thấp rải xuống ao nhằm làm cho cá phải ngoi lên mặt nước và dùng lưới để kéo, nhưng cách bắt này làm cho cá dễ chết, bán không được giá, thường để phơi làm khô cá bống kèo.

- Tỷ lệ sống của cá thương phẩm nuôi bằng con giống tự nhiên hiện nay còn chưa ổn định. Theo kết quả khảo sát từ những hộ nuôi cá bống kèo tại vùng Vĩnh Châu - Bạc Liêu, Long Phú (Sóc Trăng) và Bến Tre, cho thấy tỷ lệ sống cá nuôi dao động trung bình từ 15-50 %. Một thực tế là con giống thu từ tự nhiên thường có tỷ lệ lẫn giống các loài cá khác, có khi lẫn giống tới 30%.
Năng suất nuôi trung bình ở các địa phương hiện nay đạt trong khoảng 1.000 – 2.000kg/ha. lợi nhuận mang lại do nuôi cá bống kèo từ vài triệu đồng đến hàng chục triệu đồng/ha.

Kỹ thuật nuôi cá bống kèo thương phẩm, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Tổng quan về đặc điểm sinh học Cá Đối

Tổng quan về đặc điềm sinh học cá Đối


1. Tổng quan


Cá đối là loài rộng muối và phân bố rộng rãi ở các thuỷ vực nước ven biển vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới, nó được biết đến như là một loài cá đại chúng bởi vì chất lượng thịt và giá cả phải chăng so với các loài cá đắt tiền khác như cá mú, cá chẽm. Cá đối còn được coi là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế ở các nước thuộc vùng Địa trung hải, Isael, Tuynisia, HongKong, Đài loan…do lớn nhanh và dễ nuôi ghép với các loài khác. Ngoài ra trứng cá đối còn là một món ăn quý được ưa thích của người Trung quốc, v ì vậy chúng đã được xem như đối tượng nghiên cứu trên nhiều lãnh vực từ thập niên 60 trở lại đây. Tuy nhiên ở Việt nam đối tượng này rất it được chú ý đến như là một đối tượng nuôi, chúng chủ yếu được khai thác tự nhiên ở các vùng biển và nước lợ do đó có rất it nghiên cứu về đối tượng này.

2. Sơ lược về đặc điểm sinh học của cá đối
- Họ cá đối là một họ rất lớn trong đó có khoảng 13 loài được coi là đối tượng trong nuôi trồng thuỷ sản, tuy nhiên được chú ý nhất là loài Mugil cephalus bởi vì chúng có phân bố rất rộng, lớn nhanh và kích thước lớn khi đạt đến trưởng thành (Pillay, 1990).

- Theo Nguyễn Khắc Hường (1993), nước ta có 13 loài cá đối, trong đó ở Nam bộ có ít nhất 5 loài: M. cephalus, M dussumieri (tên mới Liza subviridsis), Liza macrolepis, Liza vaigiensisvà Valamugil cunnesius. Theo báo cáo của Bộ Thuỷ sản (1996) ở vùng cửa sông nước ta thường gặp từ 5-7 loài có giá trị.

- Cá đối là loài rộng muối chúng có thể sống và sinh trưởng tốt trong môi trường nước lợ, lợ mặn và nước mặn. Ở các vùng cận nhiệt đới, trong một nghiên cứu (Cardona, 2000) cho thấy cá giống nhỏ (<200mm) và cá giống (201-300mm chiều dài) thường tập trung quanh năm trong môi trường nước ngọt hoặc lợ nhạt. Đối với cá trưởng thành, môi trường sống của chúng thay đổi tuỳ theo mùa và nó liên quan tới quá trình di cư sinh sản, khi chúng bắt đầu sinh sản thì thường có khuynh hướng tránh các dòng nước ngọt. Tuy nhiên nghiên cứu này cũng cho thấy có sự khác biệt đối với các quần thể cá đối ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Ấn độ - Thái bình dương.

- Cá sinh trưởng kém ở vùng nước ngọt và độ mặn thấp trong khi sinh trưởng tốt ở các vùng nước lợ, lợ mặn và nước mặn (có thể lên tới trên 70ppt) và chúng chịu sốc độ mặn kém nhất là trong điều kiện nhiệt độ thấp. Hotos và ctv (1998) trong một thí nghiệm gây sốc độ mặn đối với cá giống (2,6cm chiều dài thân) từ nồng độ muối ban đầu 20ppt lên các độ mặn 35 - 80ppt (5ppt cho mỗi khoảng cách) cho thấy cá bắt đầu bị chết ở nồng độ muối trên 45ppt và chết 100% ở 70ppt. Cá đối có thể chịu đựng được nhiệt độ dưới 10 độ C, có rất ít tài liệu đề cập đến ảnh hưởng của nhiệt độ lên sinh trưởng và sinh sản của cá đối. Đa số các nghiên cứu trên cá đối được bố trí ở nhiệt độ 20 - 30 độ C.

- Cá đối ở giai đoạn ấu trùng tới cá giống là loài ăn động vật phù du, khi trưởng thành chúng chuyển phổ thức ăn sang thực vật phiêu sinh, mùn bã hữa cơ lơ lửng và các thảm thực vật đáy (lab-lab: cộng sinh giữa tảo đáy và vi sinh vật). Trong điều kiện nuôi ngoài việc bón phân kích thích sự phát triển của tảo làm thức ăn tự nhiên cho cá đối, chúng còn có thể được cho ăn bổ sung với cám gạo, bánh dầu đậu phộng, đậu nành hoặc bột đậu phộng (Pillay, 1990).

- Cá đối đất M dussumieri khai thác ở vùng đầm nước lợ thuộc hệ thống sông Hồng đạt kích thước từ 135 - 195 cm (tương ứng 113 - 167g), Cá đối nhồng Liza soiny đạt 280 - 370cm, đối mục đạt 295 - 360 cm (Vũ Trung Tạng, 1994). Khu vực đầm phá Tam giang (Huế) cá đối mục có kích thước đạt 501 cm (1.120 g). Cá đối đất thành thục khi đạt 2 năm tuổi, ở đầm nước lợ gặp cá có tuyến sinh dục đến giai đoạn IV, cá đối đẻ ngay trong đầm. Sức sinh sản tuyệt đối đạt 7.500 - 27.000 trứng.

- Riêng cá đối mục chỉ gặp cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn thấp (dưới giai đoạn III) (Võ Văn Phú, 1995). Cá đối, Mugil cephalus lớn nhanh so với các loài cá đối khác trong họ cá đối. Cá cái thường lớn nhanh hơn cá đực và cũng đạt được kích thước lớn hơn. Trong điều kiện nuôi, sau một năm chúng có thể đạt kích thước 300g, 1.2kg sau hai năm và trên 2kg nếu nuôi sau 3 năm (Pillay, 1990). Cá đối có tập tính sống quần đàn, và tập tính này thể hiện mạnh nhất vào mùa sinh sản, cá thường tập trung thành từng bầy lớn di cư ra các vùng nước sâu ngoài biển để sinh sản.

- Cá đối là loài sinh sản theo mùa và mùa sinh sản của cá kéo dài từ tháng 10 tới tháng 4 năm sau, tuy nhiên ở các thủy vực nước vùng cận nhiệt đới mùa sinh sản có thể ngắn hơn (tới tháng 1-tháng 2 năm sau). Cá đối đạt tới thành thục sinh sản vào 3 năm tuổi với chiều dài thân trung bình khoảng 33 cm ở cá đực và 35 cm ở cá cái. Sức sinh sản của cá thông thường tỷ lệ thuận với trọng lượng và chiều dài thân cá, cá càng lớn sức sinh sản càng cao. Con cái có trọng lượng khoảng 1,5kg có sức sinh sản từ 1 – 1,5 triệu trứng (Pillay, 1990).

- Trứng cá đối có kích thước đường kính từ 0,9 - 1mm. Trứng đã thụ tinh nở ra ấu trùng trong khoảng 16 - 30h ở nhiệt độ 20 – 24 độ C. Ấu trùng cá đối rất nhỏ (2,5 – 3,5mm) và thường có khuynh hướng tránh ánh sáng mạnh. Trứng cá và ấu trùng mới nở thường trôi dạt ngoài khơi vào một thời gian nào đó trong năm (các tháng thuộc mùa sinh sản) và cá bột xuất hiện theo mùa ở vùng cửa sông nơi được coi như các bãi ương cho cá giống.

3. Nuôi cá đối
- Thông thường trong thực tiễn người ta không nuôi đơn cá đối mà chúng được nuôi ghép với các đối tượng khác như cá măng, cá chẻm và năng suất có thể đạt bình quân 400 kg/ha ở Ấn độ. Ở Hong kong, Đài loan và Isael, cá đối được nuôi ghép với cá chép Trung quốc và cá đối là đối tượng chính. Mật độ thả nuôi lên tới 10.000 - 15.000/ha (cá có kích thước 7,5cm) với 1.000 – 2.000 cá chép Trung quốc.

- Khi đã lớn hơn (12cm) cá đối được thu tỉa còn lại khoảng 3.500con/ha. Thức ăn dược cung cấp gồm: cám gạo (2 tháng đầu) và sau đó là bánh dầu đậu phộng, cám gạo. Ngoài ra ao cũng được bón phân hữu cơ để tăng cường nguồn thức ăn tự nhiên. Năng suất thu được từ 2.500 – 3.500kg/ha.

- Ở Đài Loan cá đối được nuôi ghép với cá măng (2.000con/ha), cá chép trung quốc (3250 con/ha) và cá chép (500 con/ha) ở mật độ 3.000con/ha. Cá đạt 300g sau 1 năm và 1.2 sau 2 năm. Ngoài ra cá đối còn được nuôi ghép với cá rô phi, cá chép và cá mè với mật độ tổng cộng khoảng 12.300 con/ha. Sau 4 tháng nuôi cá đối đạt 100g.

- Trong nuôi thịt cá cái cá đối thường lớn nhanh hơn cá đực và trứng của chúng được dùng trong chế biến thức ăn đặc sản nên steroid (17α-Methyltestosterone và Ethynyloestradiol) cũng đã được sử dụng thông qua đường thức ăn để kiểm soát sự biệt hoá giới tính của cá đối (Chang và ctv, 1999).

Tổng quan về đặc điềm sinh học cá Đối, Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Thị Thanh Hiền - Bộ môn Sinh học Nghề cá - Khoa Thuỷ sản ĐH Cần Thơ.

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Măng

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Măng




- Kỹ sư Đặng Tố Vân Cầm và các cộng tác viên thuộc Trung tâm Quốc gia Giống hải sản Nam Bộ (Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 2 - Bộ Nông nghiệp và PTNT) vừa nghiên cứu và cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá măng biển (chanos chanos forskal). Cá măng rất dễ nuôi, đầu tư thấp, không đòi hỏi kỹ thuật cao như nhiều loại cá biển khác.


- Bình Định là một trong những “mỏ” cá măng của cả nước, nhất là khu vực đầm Đề Gi. Cá măng thích hợp với nhiều môi trường khác nhau, cá trưởng thành sống ngoài khơi, ấu trùng sau khi nở di chuyển vào bờ, lớn lên ở đầm, cửa sông nước lợ hay vào sâu trong hồ nước ngọt. Chính nhờ đặc điểm này nên cá măng rất dễ nuôi ở nhiều môi trường khác nhau, tuy nhiên, thích hợp nhất là độ mặn 27 – 28%o. Cá măng ăn tạp, ăn sinh vật nhỏ, mùn bã hữu cơ, tảo, rong câu... Cá măng lớn nhanh (sau 8 tháng – 1 năm nuôi đạt trọng lượng 800g – 1kg/con), ít dịch bệnh, có thể nuôi ghép.

- KS. Vân Cầm cho biết, cá măng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết ô nhiễm môi trường nước ở vùng nuôi tôm sú tập trung. Đến nay, đàn bố mẹ tại Trung tâm có tỷ lệ thành thục trên 65%, cá thành thục tham gia sinh sản đều mỗi tháng (mùa sinh sản bắt đầu từ tháng 4 - 5). Ông Nguyễn Văn Hảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 cho biết, Viện đang có kế hoạch phát tán cá măng giống đến các vùng nuôi trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh ĐBSCL, số lượng cá phát tán từ nay đến cuối năm 2007 khoảng 500.000 con. Hiện Trung tâm Quốc gia Giống hải sản Nam Bộ có đàn cá măng hậu bị 100 con (trọng lượng 0,5 - 3kg, độ tuổi 1 - 4 năm), là thế hệ chuẩn bị cho việc sinh sản nhân tạo giống cá măng, giải quyết tình trạng phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên.

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo giống cá măng, Nguồn: Kinh tế nông thôn.

Kỹ thuật nuôi cá Măng - Kỹ thuật Ương

Kỹ thuật nuôi cá Măng – Kỹ thuật Ương




Cá măng có thân dài và dẹp bên, đầu to, vừa, mõm tù và tròn, màng mỡ mắt dày, che kính mắt. Lỗ mũi cách xa nhau, miệng nhỏ ở phía trước, không có răng, không có râu. Hàm trên hơi thô. Khe mang rộng vừa phải. Màng nấp mang rời nhau và tách rời ức, lược mang nhiều, nhỏ.


1. Ương cá giống trong ao đất
Tùy điều kiện ương nuôi mà qui mô ao ương nuôi có thể thay đổi. Tuy nhiên, hệ thống ương nuôi thường có ao ương chiếm 4 - 10%, ao chuyển 6%, còn lại là ao thịt. Đề có nơi cho cá trú ẩn và thuận tiện cho thu hoạch, ao đầm nuôi cần thiết kế kinh mương bao rộng 2 - 5m, sâu 0,75m. Trước khi ương nuôi, chuẩn bị ao thật kỹ là khâu rất quan trọng quyết định đến tỷ lệ sống và năng suất. Trong việc chuẩn bị ao, vấn đề quan trọng là phi tạo được lớp lab-lab, lumut và phiêu sinh vật cho cá. Các bước như sau:
a) Tạo lab-lab
Rải phân chuồng khắp đáy ao, đầm với liều lượng 500 - 2.000kg/ha tùy ao đầm cũ hay mới. Cho nước vào 5cm, sau đó phơi khô. Cho nước vào tiếp 7,5 - 10 cm. Bón phân 16 – 20 - 0 với lượng 100kg/ha hay 18 – 46 - 0 với lượng 50kg/ha. Mỗi ngày thêm 5cm nước, sau đó làm đầy đến mức mong muốn như 20 - 30cm đối với ao ương, 30 - 40cm đối với ao chuyển, 40 - 50 cm đối với ao thịt. Để duy trì sự phát triển liên tục của lab-lab trong ao đầm, sau mỗi 7 - 10 ngày, bón 15kg phân (16 – 20 - 0)/ha. Trước khi thu hoạch 20 ngày nên ngừng bón phân. Đáy ao cứng và nước mặn 25 - 32‰ là điều kiện tốt để tạo lab-lab.

b)Tạo phiêu sinh vật
Phương pháp gây màu nước tạo phiêu sinh vật không giống như phương pháp tạo lab-lab do yêu cầu mức nước sâu hơn và thường vào mùa mưa trong khi tạo lab-lab vào mùa nắng. Các bước như (i) tháo cạn nước, sau đó thêm đầy trong vòng 24 giờ; (ii) thêm nước đến độ sâu 60cm; (iii) bón phân vô cơ với lượng 22kg(18 – 46 - 0)/ha; 50kg (16 – 20 - 0)/ha; hay 25kg (16 – 20 - 0) cùng với 25kg (0 – 20 - 0)/ha; (iv) sau khi bón phân 1 tuần thì th giống; và (v) mỗi tuần bón với liều lượng trên để duy trì độ trong 20 - 30cm. Ngừng bón phân 2 tuần trước khi thu hoạch. Sau khi chuẩn bị ao, bắt đầu thả giống. Mật độ thích hợp cho nuôi thịt là 1.000 - 3.000 con/ha. Đối với ao ương, mật độ th là 30 - 50 con/m2. Các th cũng tương tự như các loài tôm cá khác. Ngoài ra, cũng có thể th ghép cá măng với tôm trong đầm nuôi tôm với mật độ 5.000 - 1.000 tôm/ha và 1.000 - 3.000 cá măng/ha hay 1000 con cua biển và 2.000 cá măng/ha.

c. Chăm sóc và quản lý
- Quản lý chất lượng nước trong điều kiện thích hợp là yếu tố quyết định đến sự thành công của việc nuôi. Nồng độ muối có thể tăng cao do mức nước thấp và khi độ mặn trên 60‰ sẽ gây sốc cho cá. Do đó, cần chủ động cấp nước kịp thời.

- Trong những ngày mưa hay trời mát kéo dài, lab-lab có thể bị chết và dẫn đến thiếu oxy, do đó cần có biện pháp xử lý khi cần thiết như thay nước, sục khí…

- Ngoài thức ăn chủ yếu là lab-lab, trong quá trình ương nuôi cũng cấn có bổ sung thêm cám gạo, bột mì, với tỉ lệ 4 - 10% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn 2 lần trong ngày sáng và chiều. Thường cho ăn bổ sung là để vỗ béo cá trước khi thu hoạch. Khi nuôi hỗn hợp với cua cần rào chắn cẩn thận để tránh thất thoát.

2. Nuôi cá trong lồng
- Nghề nuôi cá Măng trong lồng đã đạt thành công từ nhiều thế kỷ nay trên nhiều nơi và đã và đang hứa hẹn nhiều triển vọng. Cũng như các hình thức nuôi lồng khác, chọn vị trí thích hợp là bước khởi sự quan trong và cần đảm bảo ít sóng gió, có dòng nước chảy vừa phải, tráng nơi rác bèo trôi dạt, đáy đấy sét pha thịt và sâu ít nhất 1,5m. Khu nuôi được rào bằng khung, cọc tre và nhiều lớp lưới với cỡ mắt thích hợp. Diện tích ương khoảng 10% tổng diện tích ương nuôi.

- Mật độ cá giống thả khoảng 20.000 - 30.000 con/ha với kích cỡ cá thích hợp là 6 - 7 cm. Sau khi ương khoảng 2 tháng, cá đạt 12,5 cm thì chuyển đến khu nuôi thịt. Trong giai đoạn ương, bổ sung cám gạo 2 lần mỗi ngày với tỉ lệ 5% trong lượng thân cá. Trong thời gian nuôi thịt, không cần thiết cho cá ăn trừ khi vào những tháng trời lạnh hay hai tuần trước khi thu hoạch để vỗ béo cá. Sau tám tháng đến một năm, cá đạt 500 - 800g thì có thể thu hoạch.

- Phương pháp thu hoạch có thể là lưới vây hay lưới rê.

Kỹ thuật nuôi cá măng, Nguồn: Khuyến Nông Việt Nam.

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

Một số bệnh trên cá Kèo

Một Số Bệnh Trên Cá Kèo


1. Bệnh tuột nhớt


- Nguyên nhân: Do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra. Bệnh phát sinh do cá bị sây sát trong đánh bắt, vận chuyển hoặc do môi trường nước thay đổi đột ngột. Bệnh có khả năng lây lan rất nhanh giữa các cá thể trong cùng 1 ao và giữa các ao.
- Triệu chứng: toàn thân bao phủ một lớp nhớt màu trắng đục. Cá tách đàn, bơi lờ đờ, bỏ ăn. Khi bệnh nặng, mình cá lở loét, vây rách nát, sau đó cá chết rất nhanh.
- Phòng bệnh
+ Luôn giữ môi trường nước trong ao sạch, không bị ô nhiễm. Chọn giống khỏe, vận chuyển đúng quy trình để cá khỏe, không bị sây sát.
+ Nếu nuôi thâm canh, định kỳ 10 -15 ngày xử lý nước và đáy ao bằng các chế phẩm vi sinh.
+ Đảm bảo đầy đủ thức ăn cho cá phát triển khỏe mạnh, định kỳ bổ sung vitamin và khoáng chất vào thức ăn giúp cá tăng cường sức đề kháng.
- Trị bệnh
+ Biện pháp xử lý đầu tiên khi cá nhiễm bệnh là thay 20-30% nước trong ao bằng nguồn nước sạch, vệ sinh xung quanh ao. Dùng thuốc diệt khuẩn xử lý nước trong ao. Dùng thuốc điều trị trộn vào thức ăn theo đúng liều lượng.
+ Rải vôi sát khuẩn bờ ao, tránh lây lan rộng. Không dùng chung dụng cụ chăm sóc của ao bị nhiễm bệnh với ao chưa bị nhiễm bệnh.
- Chú ý: Không dùng kháng sinh để phòng bệnh. Nếu phải điều trị bệnh bằng kháng sinh thì ngưng sử dụng thuốc 4 tuần trước khi thu hoạch.

2. Bệnh trắng đuôi

- Nguyên nhân: Do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra.
- Triệu chứng: trên đuôi có các đốm trắng, sau đó lây lan đến vây lưng, vây hậu môn. Dần dần đuôi và vây bị xuất huyết, rách nát. Khi bệnh nặng, cá bỏ ăn, bơi lờ đờ, đầu chúi xuống hoặc treo lơ lửng trên mặt nước.

3. Bệnh nhiễm khuẩn huyết Aeromonas
- Nguyên nhân: Do các vi khuẩn Aeromonas (A.hydrophil, A. caviae, A. sobria) gây ra. Bệnh phát sinh khi môi trường ô nhiễm, oxy hòa tan thấp, nuôi mật độ dày. Bệnh có thể xuất hiện quanh năm.
- Triệu chứng: Mình cá có những mảng đỏ với nhiều khối u, bụng có từng vùng sẫm màu, lưng có nhiều vết thương, đuôi và vây bị hoại tử, mắt đục, lồi, sưng phù, hậu môn sưng to. Cá bỏ ăn, nổi nghiêng hoặc nổi đứng lờ đờ trên mặt nước.

Một số bệnh thường gặp trên cá kèo, Nguồn: Khuyến Nông Việt Nam.

Tìm hiểu về nuôi cá nuôi Kèo

Tìm hiểu về nuôi cá Kèo


- Cá kèo tuy không phải là đối tượng dễ nuôi, ít bệnh, nhưng đã có nhiều hộ nuôi rất thành công, cho lợi nhuận khá. Tuy nhiên, hiểu biết của đa số bà con về cá kèo vẫn còn quá ít.
- Sau đây là những kỹ thuật cơ bản mà người nuôi cần nắm để vận dụng vào điều kiện thực tế.

1. Về mùa vụ nuôi
Do phụ thuộc vào nguồn giống nên mùa vụ nuôi cá kèo thường tiến hành từ tháng 4 - 5 dl, khi bắt đầu có con giống tự nhiên. Đây cũng là mùa thuận, do các tháng đầu mùa mưa có nhiệt độ cao, mưa chưa nhiều nên độ mặn và các yếu tố thủy lý hóa ít biến động, điều kiện môi trường thuận lợi cho cá kèo.
Hoặc có thể sử dụng ao nuôi tôm sau khi thu hoạch để thả nuôi cá kèo vào các tháng mùa mưa, nước ngọt khoảng từ tháng 5 - 8 dương lịch. Điều quan trọng là cần chú ý bố trí mùa vụ nuôi sao cho tránh thu hoạch tập trung để không rớt giá và nếu nuôi công nghiệp nên có cán bộ kỹ thuật bám sát tư vấn kịp thời.

2. Ao nuôi và diện tích ao
- Cá kèo có thể nuôi trong nhiều loại ao đất thông thường miễn là có vách bờ cao ráo, vững chắc không bị thấm mội để cá không thể vượt đi. Có thể nuôi luân canh cá kèo trong ao nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh hoặc ao nuôi quảng canh để cắt nguồn bệnh cho tôm nuôi vụ sau, hay nuôi trong ruộng muối vào mùa mưa khi nước bị giảm độ mặn không sản xuất được muối.
- Hoặc cũng có thể thả nuôi sinh thái mật độ thấp trong ao vườn, vuông rừng, trong ruộng tôm vào mùa cấy lúa… Chỉ nuôi công nghiệp ở vùng có nguồn nước tốt, diện tích thích hợp nhất từ 1.000 - 2.000 m2.
- Phải chuẩn bị cải tạo ao, ruộng nuôi thật kỹ trước khi tiến hành thả cá giống, cụ thể cần tiến hành các khâu sau:
+ Diệt tạp: Nguyên tắc nghiêm ngặt nhất phải thực hiện trong nuôi cá kèo là phải diệt hết cá tạp, cá dữ và các loài địch hại khác. Nhưng không dùng hóa chất mà dùng rễ dây thuốc cá, với liều lượng 1kg rễ tươi cho 100 m3 nước ao.
+ Cải tạo ao: Tát khô nước ao đầm, phơi đáy 2 - 3 ngày, rải vôi bột xuống đáy ao để hạ phèn, diệt tạp, diệt các mầm bệnh, với lượng dùng 8 - 12 kg/100 m2. Bón lót cho ao bằng phân hữu cơ, liều lượng 20 - 30 kg/100 m2 ao, sau đó có thể xới đảo bùn đáy để hoà trộn vôi và phân hữu cơ tạo điều kiện cho vi sinh vật đáy phát triển làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Những ao ở vùng bị nhiễm phèn thì không phơi đáy. Chú ý tạo vi sinh cho ao nuôi.
+ Khi lấy nước vào ao cần chắn qua lưới lọc để tránh các loại địch hại, cá dữ, cá tạp lọt vào ao sẽ hại cá giống và tranh giành thức ăn.

3. Kích cỡ và mật độ thả cá giống
- Yêu cầu cá giống phải khoẻ mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không bị nhiễm bệnh, màu sắc tươi sáng, có nhiều nhớt. Có kích cỡ 3 - 5 cm hoặc 4 - 6 cm và được ương nuôi trong ao là tốt nhất, vì đã thích nghi với điều kiện trong ao và thường có kích cỡ đồng đều, khỏe hơn.
- Tùy điều kiện ao nuôi, khả năng quản lý, chăm sóc và cỡ cá giống, có thể thả nuôi với mật độ 30 - 60 con/m2. Nếu cỡ cá giống nhỏ nên thả mật độ cao hơn so với cỡ cá lớn để trừ hao hụt trong khi nuôi.

4. Chăm sóc và quản lý ao nuôi
a. Thức ăn
- Cá kèo là loài ăn tạp, không chỉ ăn phù du động thực vật, sinh vật đáy, rong tảo, mùn bã hữu cơ có tự nhiên trong ao, mà nó còn ăn được các thức ăn do người chế biến và thức ăn viên công nghiệp.
- Để gây tạo và duy trì thức ăn tự nhiên, phải định kỳ bón thêm phân hữu cơ đã ủ hoai từ 10 - 15 kg/100 m2/tuần hoặc 100 - 150g phân vô cơ (DAP, NPK)/tuần. Tự tạo thức ăn chế biến gồm cám gạo (60 - 70%) và bột cá (30 - 40%) trộn đều và nấu chín, trộn thêm premix khoáng và các vitamin A, D, E, C (tổng cộng 0,2 - 0,3% tổng trọng lượng thức ăn). Hàm lượng đạm trong thức ăn dao động từ 25% ở 2 tháng đầu, sau đó giảm dần xuống 22% rồi 20% ở tháng thứ 3,4 và 18% cho hai tháng nuôi cuối. Khẩu phần ăn chỉ nên cho khoảng 5% tổng trọng lượng đàn cá/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều mát.
- Nếu cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp, cần phải chọn loại kích cỡ thức ăn phù hợp với độ lớn và kích thước miệng để cá có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả nhất. Khẩu phần thức ăn viên công nghiệp cần cung cấp từ 1 - 1,5% tổng trọng lượng đàn cá/ngày và cũng cho ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Ngoài ra, nên bổ sung thêm một số loại men tiêu hoá vào thức ăn nhằm kích thích cá tiêu hoá tốt hơn.
b. Quản lý ao nuôi
- Quản lý chất lượng nước: Cần chủ động điều chỉnh mực nước ao tăng, giảm phù hợp với các giai đoạn phát triển của cá nuôi.
- Phòng trị bệnh cho cá nuôi:
Cá kèo thường gặp một số bệnh như trướng bụng do ăn không tiêu, bệnh lở loét trên thân do ký sinh trùng, đốm trắng trên thân và đầu kèm theo xuất huyết các góc vây do nhiễm vi khuẩn huyết.
- Để phòng bệnh cho cá, trước hết phải tuân thủ các khâu kỹ thuật, chọn cá giống khoẻ mạnh, không thả nuôi mật độ quá dày, không để nước ao bị ô nhiễm, duy trì độ mặn thích hợp. Thức ăn cần phải đủ khẩu phần, đủ hàm lượng chất dinh dưỡng và nên bổ sung thêm các Vitamin, quan trọng nhất là Vitamin C (50 - 60mg/kg thức ăn).
Khi phát hiện cá bị bệnh, phải nhờ cán bộ chuyên môn xác định đúng loài ký sinh hay vi khuẩn gây bệnh để dùng đúng loại thuốc chữa trị và tuyệt đối không sử dụng các loại hóa chất và thuốc kháng sinh đã bị cấm.

5. Thu hoạch cá nuôi
Sau 5 - 6 tháng nuôi, cá kèo có thể đạt trọng lượng trung bình là 20 - 30 g/con (30 - 50 con/kg). Tùy theo giá cả thị trường, người nuôi sẽ chọn thời điểm để thu hoạch. Hiện nay do có nhu cầu và giá bán thường xuyên ở mức cao, mà suất đầu tư thấp nên cá kèo đang rất hấp dẫn nông dân. Nhưng bà con cũng nên thận trọng, không nuôi đại trà và tránh thu hoạch tập trung để khỏi bị lỗ do rớt giá.

Lưu ý khi nuôi cá Kèo, Nguồn: Khuyến Nông Việt Nam.

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Kèo trong ao tôm Sú

Kỹ Thuật Nuôi Cá Kèo Trong Ao Tôm Sú







Do đặc điểm cá kèo sống thích nghi với mọi nguồn nước, độ mặn từ 0-40‰, thích hợp nhất là 10 - 25‰, nên nuôi xen canh sau khi thu hoạch tôm sú (hoặc muối) cho hiệu quả kinh tế cao nhất, chủ yếu là khai thác tối đa tiềm năng đất đai sẵn có.

1. Cải tạo đất
Là quy trình rất quan trọng do ao bằng phẳng. Ruộng muối phải xử lý nước ra vào nhiều lần để hạ độ mặn. Trước khi thả giống, xiết cạn đáy ao nuôi 5 - 7 ngày, bón vôi CaCO3 100 - 150 kg/ha và diệt cá tạp bằng cây thuốc cá hoặc Saponin, lấy nước vào thông qua lưới cước đạt độ sâu từ 25 - 30cm là được. Sau 7 - 10 ngày gây tảo bằng cách hoà tan 20 - 25kg phân gà/ha, nếu không có phân gà thì sử dụng cám gạo với bột đậu nành (theo tỷ lệ 50 : 50), cùng với một lít phân bón lá Biotit tạt đều khắp ao nuôi, độ pH phù hợp 7,5 - 8,5, độ trong từ 30 - 35cm.

2. Chọn giống
Nguồn giống chủ yếu là mua của các ngư dân vớt hoặc kéo lưới cước ở các bãi bồi ven biển, trong rừng ngập mặn, nên kích cỡ không đều nhau. Mật độ thả giống 10 - 15 con/m2, thả vào lúc chiều mát hoặc sáng sớm để tránh sốc cá.

3. Thức ăn và chăm sóc
Cá kèo chủ yếu ăn rong tảo, phù du trong nước, đất có nhiều bùn, hai tháng đầu không cho ăn. Từ tháng thứ 2 trở đi cho ăn dặm thêm bằng cách cho nước ra vào thường xuyên và xử lý bón phân bón lá Biotit và tăng cường thêm cám gạo và bột đậu nành. Nếu mật độ 50 - 60m2 phải bổ sung thức ăn công nghiệp dạng viên. Cá kèo nuôi trên các mô hình chưa thấy xuất hiện bệnh, lại mau lớn, sau từ 4,5 - 6 tháng nuôi (tuỳ loại giống) có thể thu hoạch được từ 45 - 65 con/kg bằng cách xiết cạn nước rồi bắt, đem chứa trong ao nhỏ.

Kỹ thuật nuôi cá kèo ao tôm sú, Nguồn: Khuyến Nông Việt Nam.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Kèo

Kỹ Thuật Nuôi Cá Kèo Thương Phẩm


1. Chuẩn bị ao nuôi

- Ao nuôi cá bống kèo (cá kèo) là những ao đất thông thường. Ở vùng ven biển có thể sử dụng ao nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh hoặc ao nuôi quảng canh để nuôi luân canh cá bống kèo. Vùng làm muối có thể luân canh nuôi cá ống kèo trong ruộng muối vào mùa mưa khi nước bị giảm độ mặn không sản xuất được muối. Từ những kinh nghiệm thực tế nuôi cá bống kèo ở các địa phương cho thấy, ao nuôi có diện tích thích hợp nhất từ 1.000 – 2.000 m2.

- Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ như cá chẽm, cá nâu, cá rô phi và tất cả các loài cá, các loài địch hại khác. Nên dùng rễ dây thuốc cá (Derris elliptica Benth) để diệt tạp, với liều lượng 1kg rễ tươi cho 100m3 nước ao. Cách làm như sau: Để nước trong ao còn độ sâu 8 – 10cm và tính toán thể tích nước có trong ao, rễ dây thuốc cá đập dập, ngâm trong nước 5 – 6 giờ rồi vắt lấy nước, hòa loãng, sau đó té đều khắp mặt ao. Tất cả cá sẽ chết hết và vớt đi rồi tháo hết nước hoặc bơm cạn ao để phơi đáy.

- Cày hoặc xới đáy ao 1 lớp đất mỏng (5 – 7 cm) để đáy ao thoáng khí, tạo điều kiện cho sinh vật đáy phát triển làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá.

- Bón lót cho ao bằng phân hữu cơ, liều lượng 20 – 30 kg/100m2 ao.
- Rải vôi bột xuống đáy ao để hạ phèn, diệt tạp, diệt các mầm bệnh, lượng dùng 8 – 10kg/100m2, sau đó có thể xới đảo bùn đáy để hoà trộn vôi và phân hữu cơ.
- Ao cần phơi đáy 2 – 3 ngày. Những ao ở vùng bị nhiễm phèn thì không phơi đáy
Những ao đã nuôi tôm sú trước đó thì không cần bón lót phân hữu cơ, chỉ nên diệt tạp và cá dữ bằng rễ dây thuốc cá, rải vôi, hạ phèn và diệt mầm bệnh trong đáy ao.

- Lấy nước vào ao qua lưới chắn lọc để tránh địch hại và cá dữ, cá tạp lọt vào ao ăn hại cá và tranh giành thức ăn với cá nuôi. Khi mức nước đạt 0,3 – 0,4m thì có thể thả cá giống. Những ngày sau đó tăng dần mức nước ao cho đến khi đạt theo yêu cầu (0,8 – 1m).

2. Mùa vụ nuôi
Mùa vụ nuôi bống kèo từ tháng 4 - 5 khi bắt đầu có con giống tự nhiên, ngoài ra người nuôi còn sử dụng ao nuôi tôm để nuôi bống kèo sau khi nuôi tôm vụ 1 (vào tháng 7 -8).

3. Kích cỡ và mật độ thả giống cá nuôi
- Kích cỡ cá giống:
Nên chọn cá giống khoảng 3 – 5cm hoặc 4 – 6cm, cá giống ương nuôi trong ao là tốt nhất vì sẽ có kích cỡ đồng đều hơn, khoẻ hơn vì đã thích nghi với điều kiện trong ao. Chọn cá khoẻ mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không bị nhiễm bệnh, màu sắc tươi sáng, có nhiều nhớt.

- Mật độ thả nuôi:
Tuỳ theo điều kiện ao, khả năng quản lý chăm sóc và cỡ cá, có thể thả nuôi với mật độ 30 – 60 con/m2, trung bình 50 con/m2. Nếu cỡ cá nhỏ (3cm) nên thả mật độ cao hơn so với cỡ cá lớn (5 – 6cm) để trừ hao hụt trong khi nuôi. Nếu điều kiện quản lý và kiểm soát chất lượng nước chủ động, có thể tăng mật độ nuôi lên cao hơn 60 con/m2.

4. Chăm sóc và quản lý ao nuôi
a. Thức ăn
- Cá bống kèo có tính ăn tạp, ngoài thức ăn tự nhiên có trong ao như phù du động thực vật, sinh vật đáy, rong tảo sống bám, mùn bã hữu cơ… cá còn ăn được các thức ăn do con người cung cấp như ăn thức ăn chế biến và thức ăn viên công nghiệp.

- Để duy trì thức ăn tự nhiên, phải định kỳ bón thêm phân hữu cơ đã ủ hoại 10 – 15 kg/100m2/tuần hoặc 100 – 150g phân vô cơ (DAP, NPK)/tuần. Thức ăn chế biến gồm cám gạo (60 – 70%) và bột cá (30 – 40%) được trộn đều và nấu chín, trộn thêm premix khoáng và vitamin A, D, E, C (tổng cộng 0,2 – 0,3% tổng trọng lượng thức ăn). Hàm lượng đạm trong thức ăn dao động từ 25% ở 2 tháng đầu, sau đó giảm dần xuống 22% rồi 20% ở tháng thứ 3,4 và 18% cho hai tháng nuôi cuối. Khẩu phần ăn 4 – 6% trọng lượng thân/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều mát.

- Cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp cần phải chọn loại kích cỡ thức ăn phù hợp với độ lớn và kích thước miệng để cá có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả nhất. Hàm lượng đạm trong thức ăn cũng dao động từ 25 – 28%, giảm dần theo tuổi của cá. Khẩu phần ăn thức ăn viên công nghiệp từ 1 – 1,5% trọng lượng thân/ngày và cho cá ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát.
- Ngoài ra, trong thời gian nuôi, thức ăn nên có bổ sung thêm một số loại men tiêu hoá nhằm kích thích cho cá ăn ngon và tiêu hoá thức ăn tốt hơn tránh hiện tượng cá bị chướng bụng, đầy hơi.

b. Quản lý ao nuôi
- Quản lý chất lượng nước:
+ Nước ao cần được chủ động điều chỉnh tăng cao hoặc giảm thấp phù hợp với các giai đoạn phát triển của cá nuôi. Giai đoạn hai tuần đầu mới thả cá giống, mực nước ao cần đạt 0,4 – 0,5m, sau đó tiếp tục dâng từ từ, mỗi tuần cao hơn 0,2m cho đến khi mức nước đạt tốt đa.
+ Theo dõi mực nước hàng ngày, kiểm tra các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá của nước ao như nhiệt độ nước, pH, độ trong, độ mặn. Kiểm tra bờ và cống ao đề phòng bờ bị rò rỉ do cua còng đào hang, lưới chắn bị thủng (do bị mục hoặc cua còng kẹp làm rách lưới). Vào mùa mưa, độ mặn nguồn nước cấp và nước trong ao có xu hướng giảm dần, chú ý độ mặn của nước cấp cho ao phải tương đương hoặc không quá chênh lệch với độ mặn nước ao để tránh cá bị sốc. Độ mặn của nước ao nuôi cá bống Kèo, dù vào mùa mưa cũng không nên để quá thấp dưới 30%0. Định kỳ mỗi tuần thay nước 1 lần, mỗi lần khoảng 30% lượng nước ao. Nếu nước ao bị nhiễm bẩn, màu nước xanh quá đậm hoặc chuyển màu nâu, có mùi hôi thì cần phải thay ngay nước mới trong sạch.

- Phòng trừ địch hại:
Có nhiều loài địch hại săn bắt và ăn thịt cá bống kèo như chim cồng cộc, rắn nước biển (con đẻn), cá nâu, cá rô phi, cá bống mọi, bống cát…Để phòng trừ địch hại, khâu quan trọng khi cải tạo ao là phải tìm diệt hết mọi cá tạp, cá dữ, khi lấy nước vào ao lúc cấp nước lần đầu hoặc các lần thay nước định kỳ, phải chắn lọc kỹ, không để cá nâu và rô phi, bóng mọi, bóng cát nhỏ lọt vào ao qua đường cấp nước. Đối với chim cồng cộc, nên đặt các bù nhìn trên bờ ao hoặc treo dây ngang dọc trên mặt ao có gắn các ống bơ (lon) sữa bò nhằm tạo ra tiếng kêu để xua đuổi chim. Có thể dùng ná (giàng thun) để bắn chim và đuổi chim cũng có hiệu quả.
- Ngoài ra, để bắt các loài cá bống cát, bống mọi, có thể điều tiết mực nước trong ao (dâng cao sau đó hạ thấp 5 – 10cm) khi đó các loại cá bống mọi, bống cát có thể nằm lại ở phần mái bờ mà nước đã rút và ta dùng vợt thu gom chúng lại.

5.Thu hoạch cá nuôi

- Sau 5-6 tháng nuôi, cá bống kèo có thể đạt trọng lượng trung bình là 20-30 g/con (30-50 con/kg), tuỳ theo giá cả thị trường, người nuôi chọn thời điểm để thu hoạch. Theo kinh nghiệm của nhiều ngư dân, việc thu hoạch cá bống kèo có nhiều cách, có thể dùng lưới kéo, nhưng cách này không thể thu hoạch hết cá trong ao. Ngư dân lợi dụng đặc tính thích bơi ngược nước của cá bống kèo dùng một loại dụng cụ là “xà lú” để bắt cá chạy ngược nước thì có hiệu quả hơn thu triệt để hơn. Trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày, cần giữ cho môi trường ao nuôi thật ổn định. Trước khi thuỷ triều cường thì tháo hoặc tát bớt nước ao, khi bắt đầu thuỷ triều cường thì đưa nước vào ao. Sự chênh lệch mực nước sẽ kích thích cá bống kèo bơi ngược dòng nước chui vào trong xà lú. Sau mỗi đợt thu hoạch lại tát cạn ao hơn và tiếp tục cho nước thuỷ triều vào ao để bắt cá cho đến khi ao cạn hoàn toàn và thu hết cá.

- Ngoài ra để thu hoạch những cá còn “ngoan cố” không chịu ngược nước, ngư dân dùng dây thuốc cá với liều lượng thấp rải xuống ao nhằm làm cho cá phải ngoi lên mặt nước và dùng lưới để kéo, nhưng cách bắt này làm cho cá dễ chết, bán không được giá, thường để phơi làm khô cá bống kèo.

- Tỷ lệ sống của cá thương phẩm nuôi bằng con giống tự nhiên hiện nay còn chưa ổn định. Theo kết quả khảo sát từ những hộ nuôi cá bống kèo tại vùng Vĩnh Châu - Bạc Liêu, Long Phú (Sóc Trăng) và Bến Tre, cho thấy tỷ lệ sống cá nuôi dao động trung bình từ 15-50 %. Một thực tế là con giống thu từ tự nhiên thường có tỷ lệ lẫn giống các loài cá khác, có khi lẫn giống tới 30%.

- Năng suất nuôi trung bình ở các địa phương hiện nay đạt trong khoảng 1000-2000kg/ha. lợi nhuận mang lại do nuôi cá bống kèo từ vài triệu đồng đến hàng chục triệu đồng/ha.

Kỹ thuật nuôi cá kèo, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam