Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Đĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Đĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Hưóng dẫn kỹ thuật nuôi cá dĩa - Phần 2

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá đĩa - Phần 2

Hưóng dẫn nuôi cá đĩa by NGNN | Huong dan ky thuat nuoi ca dia (phan 2)
1.1. Xuất xứ và đặc điểm sinh thái
- Cá Đĩa được phát hịện vào năm 1840 bởi một nhà ngư loại học người Áo – Tiến sĩ Johann Jacob Heckel.

- Quê hương của cá Đĩa là các vùng nước trũng, tù đọng trên các nhánh sông Amazon chảy qua các nước Nam Mỹ như Brazil, Peru, Venezuela và Columbia. Các vùng nước tìm thấy cá Đĩa có đặc điểm sinh thái bao gồm: nước rất trong, độ nhìn thấy có thể lên đến 1.6 - 4.5m; nước có tính axit nhẹ, độ pH = 4 – 7 (phần lớn pH = 4 – 6); độ cứng tổng cộng cũng rất thấp (nước rất mềm): 1odH (17 – 18 mg/l CaCO3), nhiệt độ nước khá ấm (26 độ C); hàm lượng muối hòa tan rất thấp: 10 – 60 (microseimens).



- Bộ cá Vược: Perciformes
- Họ cá Rô phi: Cichlidae
- Các loài:
+ Symphysodon discus Heckel (cá Đĩa xanh, đỏ có 9 sọc đứng)
+ Symphysodon aequifasciatus, có 3 loài phụ
+ S. aequifasciatus aequifasciatus (cá Đĩa xanh – green discus)
+ S. aequifasciatus axelrodi (cá Đĩa nâu – brown discus)
+ S. aequifasciatus haraldi (cá Đĩa lam – blue discus)

1.2. Một số đặc điểm sinh học
- Sinh trưởng: nuôi trong bể kiếng, cá tăng trưởng chậm : sau 6 - 8 tháng nuôi cá có thể đạt : 6 – 10 cm (kích cở thương phẩm)

- Sinh sản: cá thành thục sau: 12 – 20 tháng tuổi. Cá đẻ trứng dính bám vào giá thể. Trứng nở sau 50 – 60 giờ (tùy nhiệt độ). Trứng dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2 – 3 ngày đầu, sau đó bám vào mình cá cha mẹ và dinh dưỡng bằng chất tiết trên mình cá cha mẹ. Từ ngày thứ 12 sau khi nở cá có thể ăn bobo, artemia. Sau 3 - 4 tuần cá có thể ăn trùn chỉ.

2. Nuôi cá Đĩa không dễ
“Cá Đĩa là loại cá cảnh khó nuôi nhất trong các loại cá cảnh nước ngọt nhiệt đới” bởi vì cá Đĩa có rất nhiều điểm khác biệt về nhu cầu sinh thái, đặc điểm sinh học so với họ hàng cá Rô phi của chúng nói riêng và các loài cá cảnh nước ngọt nhiệt đới nói chung. Do đó trong điều kiện nuôi, cần chú ý 2 đặc điểm sau:
- Thứ nhất: cá Đĩa là loài cá nhạy cảm nhất, đặc biệt nhạy cảm với
+ Tiếng ồn, chấn động nhẹ, ánh sáng mạnh
+ Các thay đổi của môi trường: nhiệt độ, độ pH, độ cứng của nước. Biên độ thích nghi với các yếu tố này của cá Đĩa rất thấp.
+ Các tác nhân làm phiền khác, cá Đĩa dể bị stress khi bị quấy rối bởi các loài cá năng động sống chung.
+ Các tác nhân gây bệnh (nấm, ký sinh trùng, vi khuẩn, virut)

- Thứ hai: cá Đĩa đòi hỏi rất cao về chất lượng nước
Chính vì thế và cũng theo kinh nghiệm từ các nghệ nhân nuôi cá Đĩa: “cá Đĩa chỉ khó nuôi hơn các loại cá cảnh khác khi chúng ta không cung cấp cho chúng môi trường sống phù hợp”

3. Nhu cầu chất lượng nước trong nuôi cá Đĩa
3.1. Nhiệt độ
3.1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với sức khỏe cá
- Nhiệt độ cơ thể cá thay đổi theo nhiệt độ môi trường (đây là đặc điểm khác với các động vật máu nóng trên cạn).

- Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình sinh hóa trong cơ thể cá. Sự thay đổi nhiệt độ quá lớn và đột ngột sẽ làm rối loạn các quá trình sinh hoá trong cơ thể và ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cá.

3.1.2. Nhiệt độ thích hợp cho
- Cá trưởng thành, cá sinh sản: 26 – 28 độ C

- Cá con (mới nở đến 5 – 6 cm): 28 – 30 dộ C

3.1.3. Quản lý nhiệt độ
+ Bể nuôi đặt trong phòng có nhiệt độ tương đối ổn định (tránh gió lùa, lợp tole hấp thu nhiệt).
+Dùng sưởi để kiểm soát nhiệt độ trong hồ (đối với cá con hay vào mùa lạnh)
3.2. Độ pH
3.2.1. Ảnh hưởng của độ pH
 - Độ pH ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cá khi có sự thay đổi đột ngột, cá có thể bị stress hay bị chết.

- Tuy nhiên ảnh hưởng quan trọng hơn là ảnh hưởng gián tiếp của pH thông qua môi trường nước. Độ pH ảnh hưởng đến nồng độ hoà tan các muối dinh dưỡng, đến độ cứng của nước, thành phần các độc tố. Cụ thể như khi độ pH càng cao, hàm lượng ammonia dạng không phân ly (NH3) càng nhiều và rất có hại cho cá, ngược lại khi pH càng giảm thì độc tính của khí sulfurhydro (H2S) càng tăng.

3.2.2. Khoảng pH thích hợp cho cá Đĩa
- Cá sinh sản: 6 – 6.2

- Cá con: 6.5 – 6.8

- Cá trưởng thành: 6 – 6.8

3.2.3. Quản lý độ pH
- Tăng độ pH.

- Tăng cường sục khí trong hồ hay bể chứa nước có ánh sáng, tăng cường quang hợp, giảm nồng độ CO2, tăng độ pH.

- Dùng nước vôi trong đã pha sẳn để trung hòa

- Giảm độ pH

- Dùng axit phosphoric (H3PO4) hay axit citric (giấm).

- Lọc sinh học cũng giúp giảm độ pH nước.

3.3. Độ cứng
3.3.1. Ảnh hưởng của độ cứng của nước
- Độ cứng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu của cá. Mỗi loài cá thích nghi với độ cứng khác nhau và khả năng thích ứng với sự biến đổi độ cứng cũng khác nhau.

- Độ cứng của nước cũng ảnh hưởng đến hàm lượng Canxi (Ca) trong máu cá.

- Ngoài ra, độ cứng còn ảnh hưởng đến quá trình nở của trứng.

3.3.2. Độ cứng của nước phù hợp cho cá Đĩa
- Cá sinh sản : 3 – 10 odH, tốt nhất : 5 – 6 odH (1odH = 17,9 mg CaCO3/L)

- Cá con (< 4 tuần tuổi) : 8 – 10 odH

- Cá > 4 tuần tuổi : 8 – 15 odH

3.3.3. Kiểm soát độ cứng của nước
- Nhu cầu về độ cứng của nước đối với cá Đĩa rất thấp, vì thế trong kỹ thuật nuôi, thường phải điều chỉnh theo khuynh hướng giảm độ cứng.

- Các phương pháp giảm độ cứng của nước (chủ yếu dựa trên nguyên tắc trao đổi ion Ca 2+)

- Trao đổi ion bằng hạt nhựa,

- Lọc sinh học,

- Có thể dùng chất chiết xuất từ than bùn (than bùn có khả năng hấp thụ Ca 2+ và giải phóng nguyên tử H+).

3.4. Một số độc tố cần lưu ý
- Chlorine hay chloramine

- Đây là một loại hoá chất dùng khử trùng nước, thường có trong nguồn nước thủy cục (nước do nhà máy nước cung cấp),

- Rất độc đối với cá (tác động trực tiếp đến quá trình trao đổi ion trong điều hòa áp suất thẩm thấu của cá).

- Để loại bỏ tác hại do chlorine trong nước chỉ cần sục khí liên tục ít nhất 48 giờ

- Để kiểm tra nước còn chlorine không, dùng Orthotolidin 1% : nhỏ 1 – 2 giọt orthotolidin vào 10 – 20 lít nước, nếu nước có màu vàng là còn chlorine và ngược lại.

- Amonia (N-NH3), nitrite (NO2), nitrate (NO3- ) và sulfurhydro (H2S)

- Các chất trên đều là các chất độc hại đối với cá, là sản phẩm phân hủy các chất hữu cơ có trong nước (từ thức ăn dư thừa, sản phẩm bài tiết của cá). Để đề phòng sự hình thành các chất độc hại này, cần tăng cường hàm lượng oxy hoà tan trong nước để thúc đẩy quá trình phân hủy hiếu khí của các vi sinh vật chuyển hoá các chất độc hại thành các chất vô hại hay ít có hại hơn. Ngoài ra quá trình sục khí cũng tăng cường giải phóng các khí độc ra khỏi môi trường nước.

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá đĩa - phần 1

Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá đĩa - phần 1



Hình 1: Cá đĩa ưa chuộng hiện nay

Là những loài cá có bề ngoài khác biệt thuộc chi Symphysodon, họ Cichlidae, cá dĩa được nhiều người nuôi cá xem như là loài cá nước ngọt tuyệt vời nhất. Vốn được ca tụng là “Vua của hồ cá”, có một bí ẩn bao trùm lên vẻ bề ngoài xinh đẹp và hành vi thú vị của chúng. Nhiều người nuôi cá kinh nghiệm khi đề cập về cá dĩa thường hay than phiền rằng chúng rất khó nuôi, thậm chí sinh sản còn khó hơn, chúng đòi hỏi những điều kiện nuôi dưỡng đặc biệt và hoàn toàn không đáng để cố gắng. Thay vì tìm hiểu kỹ hơn, họ phê phán cá dĩa thậm chí ở điểm rằng chúng là cichlid. Bởi vì những phê bình kiểu này, người chuẩn bị nuôi cá dĩa phải hết sức “rắn mặt” và giỏi đối đáp.

Khi bạn quyết định nuôi cá dĩa, nhiều người sẽ chọc ghẹo… và nghi ngờ sự sáng suốt của bạn. Họ sẽ cho là bạn ngốc nghếch và có xu hướng tự hành xác. Họ cũng tự cho mình quyền đặt những câu hỏi tọc mạch về chi phí nuôi cá của bạn, đồn đoán rằng bạn phải cầm cố tài sản hay cho con cái đi ở đợ để có tiền chơi cá. Khi tất cả những điều đó không có tác dụng, bạn vẫn cứ nuôi cá dĩa và nuôi một cách thành công, họ sẽ nói đùa rằng bạn có những con cá thịt tuyệt vời vì kích thước của một con cá dĩa trưởng thành vừa khít với kích thước và hình dạng của cái chảo.


Thật không may là có những hình ảnh… hình ảnh mang tính lịch sử… về những phụ nữ Amazon ngực trần với khuôn mặt được sơn phết đang nhai cá dĩa xanh một cách rất thỏa mãn. Màu sắc của chúng quá đẹp để đem ra ăn thịt vì thế tôi cho rằng những hình ảnh này được trưng bày chỉ vì nhiếp ảnh gia muốn gây sốc mà thôi. Dĩ nhiên, tôi chỉ đoán vậy và việc này cũng có thể xảy ra thật… nhiếp ảnh gia có lẽ đã chụp ảnh những phụ nữ Amazon ngực trần khi họ đang đưa con cá dĩa xanh lên miệng. Nhưng để tâm hồn bạn được thanh thản, xin đừng bàn sâu về vấn đề này làm gì.

Đừng để ý đến những người rắc rối đó làm gì. Bạn có thể làm được. Bạn có thể nuôi cá dĩa và lai tạo chúng mà không tốn quá nhiều chi phí. Bạn chỉ cần trang bị một số kiến thức và lưu ý đến những nhu cầu cơ bản của cá là sẽ ổn.Tôi sẽ không làm bạn chán về những chi tiết liên quan đến kinh nghiệm nuôi cá dĩa trước đây của mình. Tôi rất bướng bỉnh và không chịu đọc các hướng dẫn, tôi nghĩ rằng mình đã biết hết và mọi thứ sẽ ổn thôi. Nhưng khi đã lớn tuổi và thậm chí đọc chữ cỡ nhỏ rất khó khăn, tôi phát hiện ra rằng cần phải đọc càng nhiều càng tốt trước khi bắt tay làm điều gì đó ngay cả khi bạn nghĩ rằng bạn đã biết hết mọi thứ. Đó là một nghịch lý.

Bỏ công đọc về vấn đề mình đang quan tâm là điều cho thấy rằng bạn không phải là người mới chơi cá, và có nhiều khả năng cho thấy bạn sẽ thành công bằng kiến thức thay vì phó thác cho sự may rủi. Chỉ có một chút khác biệt giữa nuôi cá dĩa với những loài cá Nam Mỹ khác. Nếu bạn đã từng nuôi cá tai tượng Phi, cá ông tiên hay cá nheo và áp dụng những nguyên lý cơ bản, bạn sẽ không gặp nhiều rắc rối khi nuôi cá dĩa.Nói ngoài lề như vậy là quá đủ, bây giờ chúng ta đi vào vấn đề chính.Cá dĩa thực sự là cá nhiệt đới, chúng cư ngụ trong những dòng nước ấm áp ở vùng xích đạo Nam Mỹ.


Điều này có nghĩa là chúng ưu nước ấm. Một số người cố nuôi cá dĩa ở nhiệt độ khoảng 26°C, có lẽ để dung hòa với cây thủy sinh hay những loài cá khác trong hồ và có thể đạt kết quả tốt trong một thời gian ngắn. Nhưng nhiệt độ thấp sớm muộn sẽ làm cá dĩa bị căng thẳng và đổ bệnh, đặc biệt là bệnh nhiễm khuẩn đường ruột hay Hexamita. Tầm nhiệt độ thích hợp nhất cho cá dĩa là 28°-30° C, nhiệt độ khoảng 32° C rất thích hợp khi thả cá vào hồ mới. Nhiệt độ cao hơn nữa sẽ có hại cho cá và nên duy trì nhiệt độ 31-32° C cho đến khi nào cá hoàn toàn quen với hồ.

Nhiệt độ như vậy cũng thích hợp khi điều trị cá trong một số trường hợp, chẳng hạn khi cá bị nhiễm khuẩn Hexamita, để làm tăng thể trạng cá và công dụng của thuốc. Tôi sử dụng đầu nhiệt 150W cho hồ 110 lít. Với hồ nhỏ hơn, 75 lít, tôi sử dụng đầu nhiệt 100W.Trước khi đem cá về nhà, bạn phải chuẩn bị hồ và khởi động xong hệ thống lọc. Đừng dại dột khi nghĩ rằng nên mua cá trước rồi chuẩn bị hồ sau cũng được. Làm như vậy thường thu được kết quả xấu hơn là thành công. Sử dụng loại máy lọc nào không quan trọng nếu nó không tạo ra dòng chảy quá mạnh. Hầu hết người nuôi cá dĩa đều hài lòng với một bộ lọc khí lớn trong hồ có kích thước cỡ 110 lít với mật độ nuôi nhỏ.

Với hồ lớn và mật độ nuôi cao, có thể cân nhắc sử dụng bộ lọc mạnh hơn. Nếu bạn bắt đầu nuôi cá con thì chỉ cần sử dụng một bộ lọc khí cũ là đủ. Nếu bạn không thể chờ để khởi động bộ lọc khí một cách tự nhiên, hãy sử dụng loại dung dịch có chứa vi khuẩn. Chúng hoạt động rất tốt và loại trừ khả năng lây bệnh so với việc sử dụng bộ lọc khí cũ. Tỷ lệ nuôi 6 con cá dĩa nhỏ (5-7.5 cm) trong một hồ 75 hay 110 lít là lý tưởng, hồ sau thích hợp hơn trong trường hợp nuôi cá lâu dài. Trong khi chúng ta thường được khuyên nên bắt đầu với 6 con cá dĩa, tôi cho rằng nên nuôi tối thiểu 3 con. Nuôi hai con thường xảy ra cắn lộn và sự hiện diện của con thứ 3 làm sẽ làm cá bớt hung dữ. Xung đột ở cá con thường hiếm khi nghiêm trọng.



Cách tốt nhất là bắt đầu bằng 6 con rồi tách dần những con yếu hơn ra nuôi riêng. Cách này dẫn đến kết quả là chỉ còn hai con, và thường là một cặp cá rất đẹp mà chúng sẽ bắt đầu sinh sản rất sớm. Chúng ta thường được khuyên rằng để hồ trống là cách nuôi cá dĩa tốt nhất. Tôi từng nuôi cá dĩa trong nhiều loại hồ khác nhau, từ hồ thủy sinh với những loài cá tương thích cho đến hồ “trống” như lời khuyên của những nhà lai tạo khác. Hồ cá dĩa của tôi, dù nuôi cá giống hay cá con, luôn được bố trí một lớp sỏi rất mỏng ở dưới đáy. Lớp sỏi mỏng giúp lắng đọng chất cặn bã mà làm vệ sinh cũng rất dễ. Cá cũng thích nền sỏi vì chúng thường sục vào đó để tìm kiếm thức ăn. Mặc dù cá dĩa nuôi trong hồ trống cũng tốt nhưng tôi lại thích bố trí nền sỏi. Nếu bạn chọn nền trống, hãy sơn hay dán kín mặt đáy vì cá sẽ cảm thấy lo lắng khi chúng nhìn xuyên qua mặt đáy, và như vậy chúng sẽ luôn nhút nhát.

Bên cạnh việc bố trí nền sỏi, tôi thích thả thêm gỗ lũa (trang điểm thêm một ít Java fern), thực vật nổi như water sprite và water wisteria (cả hai rất thích hợp đối với nước nuôi cá dĩa) và chậu trồng cây đổ đầy sỏi để trồng những cây thủy sinh khác. Một bộ đèn huỳnh quang với một bóng ánh sáng nóng và một bóng ánh sáng lạnh sẽ cung cấp đầy đủ ánh sáng cho cây. Cá dĩa hay giật mình khi đang tối mà đèn bật sáng bất thình lình; bằng không, chúng không hề dị ứng với ánh sáng. Liên quan đến điều này, thực vật nổi sẽ làm tán xạ ánh sáng một cách tương đối trước khi chiếu đến cá dĩa.


Hình 2: Cá đĩa hoang dã Symphysodon discus xuất xứ từ Brazil này được gọi là “cá dĩa nâu Heckel”.
Với hồ cách ly hay điều trị, tôi không trải sỏi hay bỏ bất cứ vật dụng nào cả. Nếu đây là lần đầu tiên bạn nuôi cá dĩa, hồ nuôi nên bố trí theo kiểu hồ cách ly. Trường hợp này, hồ nuôi nên để trống ngoại trừ máy lọc, đầu nhiệt và đèn. Lý do của việc sắp xếp gọn nhẹ như thế này bởi vì bạn cần phải quan sát cá dĩa thật kỹ ngay cả khi chúng tìm cách lẩn tránh, tốt nhất là bạn luôn có thể quan sát chúng một cách thật rõ ràng. Nếu bạn phải điều trị cho cá thì cây thủy sinh, nền sỏi và những đồ trang trí khác sẽ không thích hợp. Bạn cũng cần để cá thích nghi với môi trường sau khi đảm rằng chúng hoàn toàn mạnh khỏe. Quá trình cách ly nên kéo dài không dưới 30 ngày. Nếu bạn thả cá dĩa vào một hồ có sẵn, hãy cách ly cá mới – trong hồ cách ly có kích thước khoảng 38 lít – cho đến khi chắc chắn rằng chúng hoàn toàn khỏe mạnh.

Bạn biết gì về nước máy? Tôi thấy rằng nước máy ở hầu hết mọi nơi đều an toàn đối với cá dĩa mà không cần phải điều chỉnh gì nhiều. Nước máy có thể uống nên nó không thể giết chết cá dĩa được (tôi biết điều này hơi gượng ép bởi vì ở một số nơi trên thế giới, tốt nhất bạn không nên uống nước máy!). Bạn phải khử clor và chloramine (NH2Cl), và có lẽ phải điều chỉnh độ pH một chút, nhưng chừng nào mà bạn chưa nuôi cá đẻ, độ cứng cũng không quan trọng lắm. Cá dĩa thích hợp nhất với nước mềm, hơi có tính acid nhưng rất nhiều nhà lai tạo nuôi cá dĩa bột của họ từ nguồn nước máy địa phương mà chỉ cần khử clor và hạ pH một chút. Điều quan trọng nhất khi thiết lập một hồ cá, đó là bạn phải tìm hiểu điều kiện nước mà cá bạn từng sống. Hãy hỏi.

Cá bạn mua có thể đã quen sống ở nước có độ pH trung hòa. Trong trường hợp này, bạn nên giữ nguyên độ pH như vậy thay vì giảm xuống còn 6.0 – 6.5, ít ra cũng trong giai đoạn mới bắt cá về. Luôn thay đổi thành phần hóa học nước từ từ. Tôi nuôi nhiều cá đĩa ở độ pH rất thấp, đôi khi xuống đến 4.5, nhưng chỉ áp dụng cho cá giống và cá hoang dã hơn là cá con. Cá con luôn được nuôi ở độ pH 6.5 để làm giảm khả năng cá phải làm quen với môi trường quá khác biệt khi bán cho người khác. Có rất nhiều sản phẩm làm giảm độ pH rất tốt từ dung dịch có sẵn trong chai đến chất liệu lọc bằng than bùn, vì thế tùy bạn lựa chon đâu là cách tốt nhất đối với mình. Một loại thiết bị mà theo tôi là rất cần thiết đó là máy đo độ pH. Theo dõi độ pH là điều rất quan trọng nhưng hầu hết các bộ thử đều không có thang đo đủ thấp cho người nuôi cá dĩa. Độ pH thấp thường có xu hướng tự tăng cao trong một số trường hợp (do thiếu bộ đệm), bởi vậy chúng ta nên thường xuyên theo dõi độ pH để điều chỉnh kịp thời.

Về thức ăn, một lần nữa, bạn nên hỏi xem cá dĩa từng được nuôi bằng loại thức ăn gì. Nếu đó là loại thức ăn đặc biệt mà cá của bạn đã quen ăn, hãy đảm bảo rằng bạn có thể kiếm ra loại thức ăn đó. Tất cả cá dĩa của tôi được cho ăn thức ăn tổng hợp dạng tấm ít nhất một lần mỗi ngày. Chúng cũng được cho ăn tim bò chế biến tại gia. Có một nghiên cứu gần đây tại Đại học Singapore (được tài trợ bởi trang trại Gan Discus) cho thấy cá dĩa tăng trưởng tốt nhất trong điều kiện nước thật sạch và cho ăn tim bò xay nhuyễn mà không trộn thêm bất kỳ chất phụ gia nào. Với tôi, vậy là đủ.

Một số người sử dụng những loại thức ăn khác (như tôm, gan, đậu…) nhưng tôi không thấy chúng có ưu điểm đáng kể nào. Một thành phần tạo ra sự khác biệt đáng kể ở cá dĩa đó là xanathan, chất tạo màu tự nhiên mạnh hơn nhiều lần so với bột ớt. Xanathan bao gồm bột bông cúc vàng và những chất màu thực phẩm phổ biến khác, chẳng hạn như O.S.I. Vivid Color Flakes. Cho cá ăn tim bò mau dơ nước nhưng cá có bản dày. Nếu bạn cho cá ăn tim bò ngay trước khi thay nước thì bạn có thể duy trì việc cho cá ăn loại thức ăn này mà nước vẫn sạch. Bên cạnh tim bò và thức ăn tấm tổng hợp, cá dĩa mạnh khỏe còn có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau.

Tuy nhiên, không nên cho cá ăn các loại trùn chỉ. Trùn chỉ, trùn đen và những loại thức ăn tươi có nguồn gốc từ nước ngọt rất hợp khẩu vị đối với bất kỳ loài cá nào nhưng chắc chắn cá sẽ có nguy cơ lây nhiễm một số bệnh đường ruột. Trùng đỏ đông lạnh là loại thức ăn được nhiều nhà lai tạo ưa chuộng và cá dĩa rất thích nhưng nguy cơ lây nhiễm bệnh ký sinh khiến tôi phải cân nhắc trước khi cho chúng ăn. Tôi không cho cá ăn thức ăn tươi hay đông lạnh có nguồn gốc nước ngọt trừ phi cá quá yếu và tôi chỉ cho chúng ăn thuốc bổ thôi. Có một ngoại lệ - artemia tươi hay đông lạnh rất an toàn và kích thích khẩu vị cá dĩa.


Cá dĩa thường không kén ăn trừ khi chúng bị căng thẳng. Đừng cho cá ăn quá nhiều, dĩ nhiên, nhưng cũng đừng để cá quá đói. Tốt nhất là nên hút hết thức ăn thừa sau khi cho cá ăn khoảng một hai tiếng. Tôi thường làm như vậy. Cá non nên được cho ăn từ 2 đến 3 lần mỗi ngày. Hãy quan sát chúng. Đừng cho chúng ăn nhiều hơn mức chúng có thể ăn trong một giờ. Cá dĩa rất háu ăn trong vài phút đầu nhưng sau đó lại ăn rỉ rả vì vậy đừng vội hút “thức ăn thừa” ra quá nhanh.
Việc lựa chọn cá dĩa rất khó khăn. Thông thường, sức khỏe luôn quan trọng hơn loại cá hay màu sắc. Hãy để ý cá có dạng tròn, đều, không bị khuyết tật hay vết thương nào, vây đủ và đều, và mắt phải tỷ lệ với thân hình. Cá dĩa non có mắt quá to luôn là dấu hiệu cá bị còi và không thể lớn đến đến kích thước tối đa.

Chọn những con có mắt màu đỏ, màu cam hay bất cứ màu sáng nào, hay kể cả màu nâu ở một số loại cá. Mắt đen hay sẫm màu là dấu hiệu cá bị bệnh. Chuyển động phập phùng của mang cũng rất quan trọng. Nếu cá thở nặng nhọc ở một bên mang còn mang bên kia bất động thì đó có thể là dấu hiệu cá bị nhiễm bệnh ký sinh ở mang. Trong khi bệnh ký sinh ở mang và những loại bệnh khác khá dễ chữa trị đối với người nuôi cá nhiều kinh nghiệm nhưng nếu bạn mới bắt đầu nuôi cá dĩa thì tôi khuyên bạn nên tránh ngay từ đầu. Hãy kiểm tra phân cá. Nếu phân cá có màu đen nằm ở dưới đáy hồ thì đó là dấu hiệu cá không bị nhiễm khuẩn đường ruột.

Nếu phân màu trắng dính ở hậu môn của cá hay dưới đáy hồ thì cá đang bị bệnh đường ruột, nhiễm khuẩn Capillaria, Hexamita… Xin nhắc lại, bệnh nhiễm khuẩn có thể chữa được nhưng hơi khó khăn đối với người mới bắt đầu nuôi cá. Nếu bạn mua cá từ tiệm bán cá, tốt nhất nên hỏi người bán xem cá có ăn uống bình thường hay không. Nếu chúng hơi phàm ăn, bạn có thể chắc chắn rằng chúng đang ở trong tình trạng sức khỏe tốt và sẽ sống sót trong hồ cá của bạn.


Khi bạn mang cá về nhà, hãy áp dụng phương pháp tập cho cá quen với nước hồ. Châm nước hồ từ từ vào chậu có sẵn cá và nước từ túi đựng cá. Một khi lượng nước tăng lên gấp đôi, bạn có thể bắt cá bằng tay hay vợt để thả vào hồ. Đừng đổ nước từ túi đụng cá vào hồ. Chỉnh độ chiếu sáng thấp ngày đầu tiên hay cho đến khi cá bơi lội bình thường. Cá dĩa nằm bẹt một bên thân dưới đáy trong vài giờ khi được thả vào hồ mới là điều rất bình thường. Cũng bình thường khi chúng bắt đầu bơi lội và đòi ăn sau đó khoảng chục phút. Việc di chuyển ít nhiều làm cá bị sốc, dù sao đi nữa, cá dĩa bắt đầu ăn sau đó khoảng một ngày.

Sau khi thả cá vào hồ, bạn tránh làm phiền đến chúng trừ phi thật cần thiết. Từ từ rồi chúng sẽ quen với sự hiện diện của bạn nhưng lúc đầu đừng ngạc nhiên nếu chúng tìm cách bỏ trốn khi bạn đến gần. Hãy đừng cử động. Bản tính tò mò tự nhiên của chúng sẽ trỗi dậy và nhanh chóng phản ứng với những gì xảy ra ở phí trước hồ. Chúc bạn may mắn và sở hữu những con cá dĩa tốt nhất. Hy vọng bạn có nhiều niềm vui!

Kiến thức cơ bản về nuôi dưỡng cá dĩa by Cichlidae

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Dĩa

Kỹ thuật nuôi cá Dĩa

I. Đặc điểm sinh học
1.1 Phân bố, sinh thái

- Sông Amazon (Nam Mỹ) là nơi sản sinh nhiều loài cá đẹp nhiều cá quý, cá đẹp và cá lạ: Cá đuối gai độc, cá Rồng, cá Hải Tượng, … và cả cá Đĩa.

- Cá sống mạnh khỏe ở một môi trường nước thật sạch, độ pH từ 5,5 - 6,5 và ở điều kiện nhiệt độ từ 28 - 32 độ C

1.2 Hình thái



- Cá đĩa có thân hình trơn láng. Cá đĩa được chia ra 2 chủng loại chính đó là cá đĩa Hoang và cá đĩa thuần chủng.

- Cá trưởng thành có kích thước từ 15cm đến 20cm, thân hình có dạng tròn như chiếc đĩa, rất dẹp, miệng nhỏ, mang nhỏ và sống hiền hòa theo bầy đàn trong tự nhiên.

1.3 Phân loại
- Cá đĩa hoang thì có 4 dòng chính
+ Đĩa Heckle.


+ Đĩa nâu (brown discus).


+ Đĩa xanh Dương (blue discus).


+ Đĩa xanh lá (green discus).


- Các loài cá đĩa còn lại điều do những nghệ nhân chơi cá Lai tạo thành. Giống thông thường của dòng cá lai tại dược gọi là cá đĩa bông xanh (turquoise). Hiện nay giống mới nhất là cá bạch tạng (snow white hoặc albino white).


1.4 Dinh dưỡng
Cá đĩa không kén ăn. Thức ăn của cá đĩa trong môi trường nuôi nhân tạo thường là trùn đỏ, trùn chỉ, bo bo, lăng quăng hay tim gan bò băm nhuyễn. Tuy nhiên cá đĩa là tương đối khó nuôi vì cá chỉ sống tốt khi môi trường nước nuôi gần giống môi trường nước cá sông ngoài tự nhiên. Người ta dựa vào những tiêu chuẩn này để làm bể nuôi cá đĩa cho thật phù hợp để cá sống mạnh khỏe.

II. Sinh sản
Có sự khác biệt giữa nuôi cá để ngắm chơi và nuôi sinh sản (ss) về kích thước hồ, nơi đặt hồ, độ PH, ...

2.1 Hồ sinh sản
- Kích thước hồ: từ 30 - 40 x 50 x 60cm (cao, rộng, dài).

- Mực nước trong hồ: Tuỳ theo kích thước cá nhưng thường thì khoảng 30cm.- Ánh sáng: Sáng mờ mờ (khi cá đã đẻ thuần thục, ĐK này không còn cần thiết).

- Âm thanh: Tránh gây tiếng động trong suốt quá trình cá đẻ đến khi tách bầy.

- Nhiệt độ: Nắng gió phương nam không quan tâm đến yếu tố này (khoảng 28 – 30 độ C là cá đẻ tốt).
- pH từ 6,0 đến 6,4 (nếu cá đẻ lần đầu hoặc không chịu đẻ thì tiến hành nâng pH lên 6,6 - 7 và tăng ánh sáng để cá sung lại).

- Không sử dụng máy lọc.

- Thổi khí nhẹ đến vừa phải (nếu sử dụng lọc sinh học sẽ tốt hơn).

- Đặt giá thể làm nơi khi cá để.

2.2 Cá sinh sản


- Phải là cặp cá tròn, đẹp, dáng chuẩn được nuôi trên 10 tháng. Việc xác định trống mái với các bạn mới chơi là một vấn đề nan giải, không thể diễn đạt trọn vẹn. Sau một thời gian, khi cá bắt đầu bắt cặp (bắt đầu sinh sản_sinh sản lần đầu) thì việc xác định cá trống mái với độ chính xác từ 85% đến 90%. Tạm thời bây giờ hãy chấp nhận cách cổ điển như sau:
+ Cho 7 - 8 cá có ở độ tuổi 9-12 tháng tuổi vào hồ nuôi chung.
+ Cho một giá thể (Máng đẻ) vào hồ.
+ Quan sát thấy cặp cá nào quấn lấy giá thể, đánh đuổi những cá khác, làm vệ sinh giá thể, thậm chí đẻ luôn trên giá thể thì bắt cặp đó cho vào hồ ss đã chuẩn bị trước phần trên.
+ Bổ sung cá khác vào nếu còn.

- Thông thường cá dĩa có thể đẻ sau 10 tháng tuổi nhưng thành thục phải từ tháng thứ 9 trở đi. Vì vậy trong thời gian này bạn có nôn nóng cũng không làm được gì.

- Khi cá trống đang dọn ổ đẻ trong điều kiện môi trường nêu trên, có thể 3 giờ sau sẽ đẻ.

2.3. Chăm sóc cá sinh sản
Trong giai đoạn này ta không can thiệp được bất cứ việc gì ngoài việc chờ và chăm sóc như sau:
- Thay nước: 1-2 ngày lần với lượng nước thay ra 10% đến 20% lần. Cá thường đẻ vào khoảng 16 giờ đến 22 giờ . Tránh thay nước vào khoảng thời gian này- PH ổn định từ 6
- 6,5 Tùy cá tơ hay già.

- Cho ăn: ngày 1-2 lần (sáng, chiều) với lượng thức ăn rất ít chủ yếu là chất lượng, (Tim bò + Vitamin + Tảo + chất kết dính).

- Với PH dưới 6,5 cá ăn rất ít, thậm chí không ăn tránh cho ăn thừa làm hư nước, thối trứng. Nếu thuận lợi 1 đến 2 ngày cặp cá sẽ đẻ.
2.4 Chăm sóc và bảo quản trứng

- Cá đẻ sau 1 giờ dùng Blu methylen phun lên trứng để ngừa mốc, thối hoặc mình dùng formol nồng độ 35% với lượng 2cc/100 lít nước vừa ngừa mốc thối cho trứng vừa ngừa nấm cho cá bố mẹ. (Nếu giữ được nước sạch thì không cần dùng hóa chất để bảo quản trứng).

- Sau 36 giờ từ khi đẻ, trứng cá sẽ đổi màu:
+ Từ màu trắng trong sang màu trắng đục: Xong !!! Trứng hư, thối, do nhiều nguyên nhân:Trứng không thụ tinh do cá còn quá non, do nước dơ làm thối trứng,....
+ Từ màu trắng trong sang màu đen: cho thấy bước đầu đã thành công, trứng đã thụ tinh đang dần thành con. Tiếp tục sau 75 giờ hoặc hơn nữa tùy vào thời tiết nóng lạnh sẽ thấy cá con que quẩy trên giá thể.

- Đối với các cặp cá ăn trứng cần dùng lưới bao tổ trứng lại. Cần theo dõi quan sát khi thấy trứng đã nở hết nhẹ nhàng tháo lưới bao ra.



- Mốt số điều cần lưu ý: mọi thao tác trong khu vực ss đều thật nhẹ nhàng từ thay nước, cho ăn, bao trứng, tháo bao trứng,.... nếu không cái giá trả thật đắt là cá giật mình có thể quay lại ăn hết con.

- Sau khi tháo bao trứng những khả năng xảy ra:
+ Một hoặc cả 2 con bố mẹ ăn hết con: Xong, kết thúc chờ đẻ đợt khác. Nếu trong các lần đẻ sau cá vẫn ăn hết trúng zậy LÀ XONG, CHẤM HẾT, KẾT THÚC MỌI VIỆC. + Sau vài giờ hoặc hơn cá bố mẹ vẫn quanh quẩn bên giá thể mà không làm gì. Có hy vọng nhưng không cao số lượng cá con trở thành cá bột không quá 60%. Hy vọng những lần đẻ sau sẽ cải thiện được.
+ Sau vài giờ hoặc hơn cá bố mẹ dọn sạch những trứng hư di chuyển cá con đi chổ khác và gom lại: Thành công tốt đẹp. Chuẩn bị tinh thần nuôi bột.
+ Sau vài giờ hoặc hơn cá bố mẹ dọn sạch những trứng hư di chuyển cá con đi chổ khác và gom lại thật nhỏ như hạt đậu: Thành công mỹ mãn_trên cả tuyệt vời “Hàng hiếm mà ai cũng muốn có khi nuôi cá sinh sản”. Chuẩn bị tinh thần nuôi cá bột với số lượng trên 90%.


- Đối vói các cặp cá vẫn không giữ trứng khi tháo bao lưới nên tách cặp cá ra ghép với cá khác sẽ tốt hơn. Nếu cặp cá không giữ trứng là cặp cá ma ta “ƯNG Ý” nhất không muốn tách cặp vẫn còn biện pháp cuối: “NUÔI VÚ”.

III. Cá bột


Là giai đoạn cá con bắt đầu bám cá bố mẹ đến khi tách bầy khoảng 12 - 15 ngày tuổi, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn tùy theo thể trạng cá bố mẹ.

3.1 Chăm sóc
Chăm sóc gián tiếp thông qua cá bố mẹ, cá bố mẹ chăm đàn con, chúng ta chăm lại nó. Đây là giai đoạn khó khăn nhất nhưng chúng ta không can thiệp được gì, đôi lúc nhìn đàn con chết hàng loạt mà thấy nao lòng. Nguyên nhân cá bột chết thường không xác định được bởi chúng quá nhỏ không khám nghiệm được, chỉ phỏng đoán: do cá bố mẹ không tiết sửa, cá con chết vì đói hoặc do hồ nước có vấn đề,…
Tuy vậy, mình cũng phải "góp sức" với cá bố mẹ bằng những bước sau:

- Xem lại thổi khí trong hồ, cần thiết thì tăng lên chút ít.

- 1 đến 2 ngày đầu khi cá bột rời giá thể: không nên thay nước hồ cá, cho cá bố mẹ ăn rất ít hoặc không cho ăn để tránh hư nước. Nếu đàn con không bám cá bố mẹ, hạ mức nước trong hồ xuống còn cách vây trên của cá khoảng 10cm. Tránh mọi dòm ngó, xăm xoi, xem chừng, …vì đây là những việc làm vô ích, đôi khi sẽ có tác hại.

- Ngày thử 3 đến ngày thứ 5 nếu đàn con đã bám theo cá bố mẹ: Thay nước 10% mỗi ngày.
+ Mọi thao tác trong khu vực cá đẻ đều phải nhẹ nhàng, từ tốn.
+ Tăng cường lượng thức ăn cho cá bố mẹ ở mức độ vừa phải (hai lần trong ngày, khoảng đầu ngón tay cho mỗi lần/mỗi con). Cho atermia mới nở cho cá con ăn, đừng nhiều quá hư nước, chết cá.

- Từ ngày thứ 6 trở đi tiếp tục cho cá bột ăn atermia vài lần trong ngày, nếu bầy con chịu ăn atremia sau 2 ngày, chúng ta có thể tách bầy khi cần thiết. Nhưng tốt nhất vẫn sau 10 ngày tuổi.

- Cũng có cách khác là trong thời gian tử ngày thứ 6 trở đi cho cá bố mẹ ăn trùng chỉ để cá bột "ăn ké" sau 10 ngày ta tách bầy.

- Lưu ý:
+ Không thay hoặc thay nước rất ít trong ngày thứ 1 đến ngày thứ 3.
+ Ngày thứ 3 hoặc hơn nữa mới thay nước với lượng nước 5% -10% cho lần thay đầu rồi tăng dần ở những lần sau nhưng không vượt quá 20%.
+ Chất lượng nước thay vào hồ phải tương đồng về PH, nhiệt độ.

3.2 Tách bầy cá bột


- Thời gian tách cá bột nuôi riêng phụ thuộc vào tay nghề của người chăm sóc cá. Nếu tay nghề “CỨNG” có thể tách cá nuôi riêng sau 7 – 10 ngày tuổi (tách càng sớm cá bố mẹ sẽ sớm đẻ). Nếu mới cho đẻ 1 -2 lần nên để cá 2 tuần hãy tách bầy (đợi khi đã có nhiều kinh nghiệm nuôi dưỡng cá con, cá bố mẹ).

- Có thể dùng vợt lưới để vớt cá bột ra nhưng với cách này cá dễ bị xây xát cả cá bố mẹ lẫn cá bột.

- Dùng ống nhựa trong mềm đường kính khoảng 14-16 mm gắn thêm ở đầu ống nhựa cứng khoảng 20 mm, tổng độ dài dụng cụ tự chế này khoảng 2m - 3m. Cách này tránh được xây xát. Cho đầu có gắn ống nhựa cứng vào hồ hút cá bột ra xô, chậu. Dùng đầu có gắn ống nhựa cứng rà theo mình cá bố mẹ, chúng sẽ phản ứng quyết liệt. bạn cứ tiếp tục cho đến khi hết cá bột trong hồ mới thôi. Vì nếu gián đoạn trong thời gian tử 15 phút trở lên có thể cá bố mẹ "giận” quay sang ăn hết đàn con còn lại.

- Đem xô chậu có chứa cá bột đến hồ nuôi, không đổ trực tiếp mà vẫn cách cũ hút từ xô chậu vào hồ nuôi. Từ lúc này hoặc vài ngày nữa chúng sẽ thành cá hương. ta sẽ bàn về cá hương sau, bây giờ quay lại chăm sóc cá bố mẹ.

3.3. Chăm sóc cá bố mẹ sau khi tách bầy
Đây là việc làm cần thiết: với cá là để tái sản xuất.
- Nếu cá đã nuôi con 2 lần liên tục ta nên cho cá vào hồ tập thể nghỉ ngơi (hồ lớn chứa từ 10 đến 15 con) tăng pH lên trong khoảng từ 6,5 - 7,0, thay nước ngày 1 lần với lượng nước thay ra từ 60% -80%. Sử dụng lọc, thổi khí hơi mạnh, thức ăn cho cá là tim bò đã chế biến, thịt bò xắt hạt lựu, lăng quăng, ròng ròng,... ngày 2 đến 3 lần; khoảng 20 - 25 ngày cá sẽ có dấu hiệu muốn sinh sản.

- Nếu cá mới nuôi con 1 lần ta vệ sinh hồ sạch sẽ với lượng nước thay ra khoảng 60% -80% sau khi tách bầy. Thực hiện lại phần "chăm sóc cá sinh sản" nêu trên khoảng từ 5 -10 ngày cá sẽ đẻ lại.

VI. Chăm sóc cá hương
Cá hương, cá bột là danh từ để chỉ độ tuổi của cá: cá bột với độ tuổi từ 3 - 15 ngày tuổi, chưa hoàn toàn sống độc lập được; cá hương là cá sau khoảng thời trên, hoàn toàn có thể tự sống được mà không cần đến bố mẹ. Việc chăm sóc được thực hiện như sau:
- Không cho ăn, không thay nước trong ngày đầu tiên cho ra hồ. (Có thể cho ăn sau 2-3 giờ tách bầy nhưng phải thay nước).

- Nếu cho ra cá bột trước 10 ngày tuổi tiếp tục cho ăn atermia, vài ngày sau đó mới cho ăn trùng chỉ, nếu cho ra cá bột sau 10 cho ăn trực tiếp trùng chỉ.

- Thay nước 2 lần trong ngày; từ 20% lần đầu tăng dần lên cũng không quá 40%(thay nước khi thấy dơ trong 10 ngày đầu tiên tách bầy, nước vào nhỏ giọt 5 - 10 lít/ giờ)

- pH nước 6,8 - 7,5;

- Thức ăn trùng chỉ 3 - 8 lần trong ngày.

- Mực nước trong hồ từ 8 - 15cm;

- Thổi khí nhẹ, không sử dụng lọc;
Giai đoạn này lo lắng cho đàn con tuy giảm nhưng nguy cơ vẫn còn: do shock nước, do nước dơ, do thời tiết thay đổi, …làm cá vẫn có thể chết.

- Lưu ý:
+ Trong suốt quá trình nuôi ở bất cứ giai đoạn nào cũng ngừng cho ăn trước và sau thay nước 1 giờ. Phòng bệnh hơn trị bệnh
+ Nếu mọi chuyện êm xuôi, ta kết thúc giai đoạn cá hương chuyển sang cá bé

V. Chăm sóc cá bé

- Mật độ 100-150 con / hồ 30 x 50 x 120.
- Thay nước 1 lần trong ngày từ 60 - 80%

- PH 6,8 - 7,5;

- Thức ăn trùng chỉ + Tim bò, ngày 4 - 6 lần.

- Mực nước trong hồ từ 20 - 25cm.

- Thổi khí vừa phải.

- Sử dụng lọc lọai 8 - 12Wat, 8 - 10/24; (Tắt lọc khi chúng ta ngủ và khi cho ăn 20 phút).

- Giai đoạn này cá hầu như không bị bệnh ngoài những yếu tố chủ quan do ta gây ra như để nước dơ cá bị nấm, cho ăn nhiều sinh sình bụng, nhiễm trùng đường ruột.

- Thuốc trị cơ bản:
+ Nấm: có bán tại các tiệm cá cảnh; cephalêxin, Tetra vàng của nhật.
+ Sình bụng: ngưng cho ăn tăng nhiệt lên 30 – 32 độ C (2 - 3 ngày);
+ Nhiễm trùng đường ruột: Metronidazon 500 có bán tại các tiệm thuốc tây (4-6viên/100lít nước).

- Lưu ý:
+ Giảm hoặc ngưng cho ăn trong những ngày thời tiết thay đổi mưa bão, lạnh.
+ Loại bỏ những con khuyết tật như thiếu vây, hở mang ...
+ Sau 30 - 45 ngày phân lọai hoặc vớt bớt số lượng cá trong hồ ra vì chúng đã lớn mật độ như vậy không còn đảm bảo điều kiện sống tối thiểu.

VI. Chăm sócC cá lớn
Giai đoạn này chăm sóc và phòng trị bệnh vẫn như giai đọan cá bé, ngoài một ít thay đổi như sau:
- Mật độ 50-70 con / hồ 40 x 50 x 120.

- Thay nước 1 lần trong ngày; từ 80% - 100%.

- PH 6,8 - 7,2;

- Thức ăn: trùng chỉ + Tim bò, ngày 3 lần.

- Mực nước trong hồ 35cm;

- Thổi khí vừa, có thể mạnh;

- Sử dụng lọc lọai 8 - 12Wat, 8 -10/24; (Tắt lọc khi chúng ta ngủ và khi cho ăn 20 phút).

- Từ giai đọan này trở đi ta đã có những cá thể hoàn chỉnh, đẹp. Việc chăm sóc ngày càng đơn giản hơn: giảm dần mật độ cá trong hồ, giảm lượng thức ăn và số lần cho ăn trong ngày. Vẫn duy trì việc thay 100% nước mỗi ngày.

Kỹ thuật nuôi cá dĩa, Cá cảnh Việt Nam.

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Kỹ thuật ương cá Dĩa bột nhân tạo

Kỹ thuật ương cá Dĩa bột nhân tạo


Kỹ thuật ương cá dĩa bột nhân tạo by Cá Cảnh | Ky thuat uong ca dia bot nhan tao



- Bước 1: Đặt vào bể cá bố mẹ 1 thanh PVC dầy 1,5 - 2” dài 14 - 16” để chúng đẻ trứng lên đó. Độ pH phải dưới 7 và nước trong suốt quá trình sinh sản này là nước mềm. Nó giúp cho trứng bám thật chắc.

- Bước 2: Chắc chắn rằng trứng phải được con đực thụ tinh, nếu không thì mọi nỗ lực đều vô hiệu

- Bước 3: Đợi thêm 2 giờ sau khi cá kết thúc đẻ trứng.

- Bước 4: Dùng 1 bình thủy tinh khoảng 1 gallon (1gallon ≅ 3,8 lit), đổ đầy nước lấy từ bể có cá bố mẹ ( & trứng). Đặt thanh PVC có trứng vào trong bình ( làm thật nhanh và nhẹ nhàng).

- Bước 5: Đặt bình thủy tinh này vào 1 bể nhỏ với dung tích khoảng 5 gallon được đổ đầy nước và có nhiệt độ là 29 độ C ( yêu cầu cây sưởi khoảng 50watt). Ngoài ra, lấy một cái hydrosponge ( cá nhân tôi thì dùng máy lọc có gắn đầu mút ) đặt vào bể và bật lên. Nó giúp cho bình được giữ ấm và nước trong bể chuyển động. Tôi luôn dùng máy lọc để làm cho nước trong cái bể 5 gallon kia chuyển động

- Bước 6: Đặt cục sủi khí vào trong bình, vặn ở mức vừa phải để tạo luồng nước nhẹ nhàng trong bình ( đừng vặn to quá kẻo bị bung trứng)

- Bước 7: Nhỏ vào 3 giọt methyl xanh, người khác thì khuyên nên cho nhiều hơn, nhưng tôi tin rằng nếu cho thêm sẽ làm cháy trứng mất (ung trứng). 3 giọt là quá đủ và cho phép bạn quan sát được trứng

- Bước 8: Hãy chờ đợi. Chúng sẽ bắt đầu nở ra ( nếu trứng đã được thụ tinh và các thông số của nước đạt yêu cầu) trong vòng 2 ngày (khoảng như vậy).

- Bước 9: Tiếp tục chờ, chúng sẽ bắt đầu bơi tự do trong khoảng 2 - 3 ngày (nhiều lắm là 3 ngày). Trong thời kỳ này chúng sẽ bu lại thành một bầy tụ lại 1 góc ở đáy bình và khi chúng đã khỏe và đã sẵn sàng thì sẽ tự tách ra

- Bước 10: Ngay khi thấy chúng đã bơi tự do được rồi, hãy cho chúng ăn bữa đầu tiên. Dùng a.p.r. (a. p.r. là viết tắt của Artificial Plankton and Rotifers: các loài sinh vật phù du được cho nở nhân tạo ) để cho ăn . Cho vào một lượng thức ăn có kích thước chỉ khoảng bằng gờ xoắn của cái ốc vít đồng hồ đeo tay của bạn.


- Bước 11: Khoảng 4 giờ sau, lấy bình ra khỏi bể 5 gals và đặt một cái khay nhựa ( hộp nhựa ) nhỏ cho nó nổi lơ lửng trong cái bể 5 gallon đó. Đặt cục sủi khí vào cái khay (nhưng trước tiên phải tắt nó đi đã). Lấy cái Baster để di chuyển cá bột sang cái khay nhỏ đó. Đổ gần đầy khay với nước lấy từ bình khoảng 75% và từ bể 5 gallon là 25% . Bật cục sủi nhỏ ở mức li ti ..li ti ... đủ để giữ bề mặt của nước trong khay “vỡ nhẹ” ra. Giữ cho cả bể và khay được kín đáo để tránh bị lạnh/ bốc hơi…

- Bước 12: Cho vào một lượng nhỏ thức ăn giống như trên.

- Bước 13: Khoảng 4 giờ sau đó, dùng cái Baster để thay 50% nước . Tôi đổ nước từ Baster vào một cái khay nhỏ khác để đề phòng trường hợp hút phải một vài con cá bột (vì thế tôi không đổ mất chúng ra ngoài ). Thay thế nước ở khay bằng nước ở bể ( Mà này, nhớ chú ý nước trong bể phải có cùng nhiệt độ như nước ở khay nhé!). Cho chúng ăn một lượng nhỏ thức ăn giống như trên.

- Bước 14: Từ 4 - 6 tiếng sau, thay 90% nước và thay đổi giống như cách thức ở trên.
Ghi nhớ: dần dân nước trong bể 5 gallon bắt đầu thấp dần xuống. Tuyệt đối “không được” đổ thêm nước vào bể 5 gallon cho đến khi nước trong khay đã được thay ra và đổ đầy lại. Nếu bạn đổ nước vào bể 5 gallon trước khi đổ nước vào khay, nhiệt độ sẽ không còn chính xác giống như cũ và khi bạn đổ nước đầy khay rồi sau đó bạn sẽ thấy rằng lũ cá con của bạn bị sốc...chúng sẽ không thể phục hồi.

- Bước 15: Lặp lại việc thay 90% nước và cho ăn cứ đều đặn 4 - 6 tiếng một lần. (8 tiếng là nhiều nhất vì bạn có thể ngủ, trước đây đã có lần tôi để đến 10 tiếng, nhưng không khuyến khích điều này trừ phi bạn gặp phải trường hợp bất khả kháng).

- Bước 16: Sau khi chúng có thể bơi tự do được hơn 2 ngày, cho vào một lượng rất nhỏ (rất rất ít) ấu trùng tôm “vừa mới nở (b.b.s viết tắt của Baby Brine Shrimp :ấu trùng tôm.) để cho ăn trong tất cả các lần ăn. Không nên dừng cho ăn a.p.r. tại thời điểm này. Tiếp tục thực hiện bước 15. A.p.r. giúp cho màu xám của cá căng lên, b.b.s. giúp cho màu hồng của cá căng lên.

- Bước 17: Tiếp tục cho ăn a.p.r. và b.b.s. trong vòng một tuần. Tất cả bụng cá sẽ là màu hồng vào cuối tuần.

- Bước 18: Khi tất cả bụng cá có màu hồng rồi thì không cho chúng ăn a.p.r. nữa và vẫn tiếp tục cho ăn b.b.s. Tiếp tục thực hiện lại bước 15.

- Bước 19: Một tuần sau đó bạn sẽ có nhiều cá bột với kích thước như cá thần tiên loại nhỏ. Hãy thả chúng vào bể 5gallon và cho chúng ăn ở đó từ giờ trở đi. Cần giữ bể sạch sẽ và chú ý sự thay đổi nhiệt độ của nước. Thay nước mỗi ngày một lần thì rất tốt.

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Bệnh thường gặp ở cá Dĩa

16 Bệnh thường gặp ở cá Dĩa


1. Bệnh Đục mắt


- Triệu chứng: Mắt có màn trắng đục, có thể bị sưng mắt nếu để lâu không trị dể dẫn đến mù mắt.

- Cách trị:
+ Ra tiệm thuốc Tây mua 1 vỹ Tetraciline 500mg (3000đ/ vỹ), pha 2 viên (hồ 6 tấc) vào tách nước, khuấy đều rồi đổ vào hồ.
+ Cắm sưởi ở 33 - 35 độ.
+ Cho vào 01 chén nhỏ muối hột.
+ Tắt lọc, tắt oxy (vì tránh tạo bọt trên mặt hồ).
+ Sau 24 giờ thay 1/2 nước, cho thêm một viên + ít muối.
+ Sau 24 giờ nữa thì thay 1/2 nước, cho ít muối. Nếu thấy cá đỡ hơn thì khỏi cho thêm thêm thuốc, ngược lại thì cho thêm 1 viên nữa.

2. Bệnh Nấm trắng
- Triệu chứng: Có màn trắng trên thân, cá đen người, hay tụ 1 góc hồ và ít hoạt động.

- Cách trị: Hiện có rất nhiều cách trị nấm, nhưng mình xin nêu 2 cách đơn giản và thông dụng nhất.
+ Cách trị bằng muối đậm đặc: Cần chuẩn bị 1 thau nước và 1 chén nước muối (muối ăn nha)thật đặc. Bắt cá bệnh ra thau, sau đó bạn cầm cá trên tay và thấm nước muối tha vào chỗ nào bị đốm trắng, tha tha vài lần rồi thả cá vào hồ trở lại. Chú ý là vuốt xuôi theo mình cá nha, đừng để cho nước muối vào mang cá và mắt cá nha. Bạn nên mua muối hột ở tiệm cá về rải hàng tuần để tránh bệnh đốm trắng cho cá . Tốt nhất nên thay hết nước của hồ cá bệnh (thay hết luôn chứ ko phải 1/2 hay 1/3 đâu vì như thế sẽ còn mầm bệnh trong nước) đồng thời giữ nhiệt độ nước khoảng 32 – 33 độ C.
+ Cách trị bằng thuốc nâu: 1 viên dùng cho 20 lít, ngâm 48 tiếng sau đó thay 1/3 nước, ngày tiếp theo thay 1/2 nước rồi thay hết nước vào ngày kế tiếp. Kèm theo phải luôn luôn sưởi 30 - 33 độ C.

- Lưu ý: Có một cách điều trị nhanh và hiệu quả là tắm cá trong các dung dịch sát khuẩn và nấm. Do nồng độ thuốc trong dung dịch cao nên cá thường không sống lâu được trong dung dịch này, thời gian tắm khoảng từ 15 phút đến hơn 1 tiếng. Trong quá trình tắm phải theo dõi hoạt động của cá liên tục để vớt ra kịp thời, tùy theo loại dung dịch mà sau khi vớt cá ra môi trường nước mới các bào tử nấm có thể chết ngay hoặc suy yếu đần, có thể tróc ra ngay từng mảng hoặc vẫn còn bám trên mình cá nhưng teo dần và được loại thải sau vài ngày. Ưu điểm của phương pháp tắm là nhanh, ít tốn thuốc, sau khi tắm xong cá được sống trong môi trường nước mới nên có thể cho ăn, thay và quản lý chất lượng nước dễ dàng, nhưng cũng khá nguy hiểm nếu quá liều hoặc quá thời gian chịu đụng của cá. Một số dung dịch người ta thường dùng là Malachite green, Formalin, thuốc tím, muối ăn, CuSO4... Hiệu quả và nồng độ của mỗi dung dịch tùy thuộc vào từng loại cá và độ tuổi. Về phần điều trị bằng phương pháp tắm rất đễ gây chết cá nên xin được trao đổi với các bạn ở một chuyên mục khác.

3. Bệnh ký sinh trùng


- Triệu chứng: gây ngứa, khó chịu, cá thường giật giật các vây hay cọ sát vào các vật cứng trong bể như thành hồ những nơi có thể bề mặt nhám và nguy hiểm hơn dể dẫn đến loét, trầy thân cá.

- Cách trị: Đơn giản mà hiệu quả. Bỏ muối 400 - 500gm/100lít nước (bỏ vào từ từ hay bỏ vào hộp lọc), tăng nhiệt độ lên 32 - 33 độ C.

4. Bệnh loét thân, đục thân


- Triệu chứng: Loét 1 mục nhỏ ngay thân và từ từ lang rộng ra cho đến chết. Bệnh này rất nguy hiểm và khó cứu nếu không chữa trị kịp thời.

- Cách trị: dùng Merinal (thuốc đặt của chị em, có bán ngoài tiệm thuốc tây).
+ Thuốc: 1 viên/60lít và nâng nhiệt độ lên 32 độ C.
+ Muối: 200gm/100lít
+ Ngày hút đáy 1 - 2 lần (không cần bắt riêng cá ra), 2 ngày thay 1/3 nước rồi thêm 1 viên thuốc nữa.

- Lưu ý: Trong những ngày này cá bỏ ăn, khoảng 1 tuần sau cá mới bắt đầu ăn lại phải trị bệnh loét chúng ta cần phải kiên nhẫn chờ đợi, không nên chữa trị bừa bãi sẽ làm cá chết ngay nhiều.

5. Bệnh đường ruột

- Triệu chứng: Cá bỏ ăn, bụng to, có khi đi phân trắng

- Cách trị 1: Dùng men tiêu hóa BIO FISH và làm theo hướng dẫn trên bao bì (có bán ngoài tiệm cá), nhiệt độ nâng lên 32 - 33 độ C, khoảng 3 ngày sau cho cá ăn tý lăng quăng (vì lăng quăng dễ tiêu hóa hơn các loại thức ăn khác).

- Cách trị 2: Dùng Metronidazol (có bán ngoài tiệm thuốc tây, vỉ có 1 mặt vàng, 1 mặt đỏ). Liều dùng: 1 viên/20lít nước ngâm 2 ngày sau đó hút bớt nữa hồ châm nước mới vào và cho thuốc vào bằng với lượng nước vừa hút ra. Nhiệt độ 32 - 33 độ C.

- Trong lúc trị bệnh không nên cho cá ăn và tập ăn lại sau 3 ngày trị bệnh.

6. Bệnh đóng nấp mang


- Nguyên nhân: Do hồ nước ô nhiễm, môi trường nước xấu.

- Triệu chứng: Cá chỉ thở 1 bên mang, mang còn lại không hoạt động.

- Cách trị: Cải thiện lại môi trường nước, thường xuyên súc rửa hồ. Tăng nhiệt độ lên 30 - 31 độ C.

7. Nấm - saprolegnia ferox

- Triệu chứng: lúc đầu là những chấm trắng nhỏ bông bông nhờn nhờn, hình tơ, sau lan ra toàn thân và mang, (hardisk cũng dã từng gặp vấn đề này). Bệnh thường gặp , nhất là các loài chịu lạnh kém như họ cá rô phi. Khi mới mắc bệnh, cá bơi lờ đờ.

- Nguyên nhân: Chủ yếu do lạnh đột ngột, cá có các vết xước, nếu tiết trời lạnh, sức đề kháng kém, các rất dễ mắc bệnh.

- Cách trị: Cách li cá bệnh, có thể dùng nước muối với tỉ lệ, 10L thì hòa tan 6 thìa cà phê muối ăn, hoặc dùng KMnO4 với cứ 10 lít thì dùng 30mg thuốc. Dùng máy sười khoảng 24 - 26 độ C.

8. Bệnh đốm trắng

- Nguyên nhân: Bệnh do động vật nguyên sinh gây nên, Ichthyophthirius (còn gọi là trùng quả dưa). Bệnh bắt đầu xuất hiện từ các nốt trắng hoặc xám nho nhỏ trên mình cá và các vây cá, trông tựa như bị rắc muối tiêu (một số cá đĩa thì da chúng tự nhiên đã có các vết đen) Nếu không chữa thì các nốt đó có thể lan ra toàn thân, bệnh thường kèm theo nấm, nấm phát triển thêm làm cho cá chết.

- Cách trị: Thả các bệnh vào một bể có to từ 30 – 32 độ C, hoà thêm thuốc đỏ (mercurochrom 2%), cứ 10 lít thì hoà 8 giọt, giữ cá trong 24h. Sau 3 - 4 ngày, lại làm lại một lần nữa Nếu không, có thể dùng Blue methylen 5%: 2 giọt trong 10 lít nước.

9. Bệnh thối mang


- Nguyên nhân: do ký sinh gyrodactylus gây nên, ký sinh phá hoại da và mang cá Biểu hiện là đứng im lặng, đột ngộy sợ hãi rồi đột ngột di chuyển nhanh .

- Cách trị: Dung Phoóc môn (andehyt focmic) HCHO, chú ý là 40 %, nhỏ vài giọt vào một lít nước, nếu không có HCHO thì thay bằng thuốc tím, 3mg cho 10 lít nước, Cần cách li cá bệnh và tẩy uế bể cũ.

10. Bệnh đỏ vây


- Biểu hiện: các vây cương đỏ, nhất là vây đuôi, các tia máu nhìn rõ, Bệnh hay gặp trong bể mà có nhiều cá (thả dày) mà lại có rong nhưng không đủ dưỡng khí. Bệnh dễ lây lan.

- Cách trị: cách li cá bệnh, sang cá thưa ra và tiến hành tắm muối cho cá: dùng 20g NaCl vào 20 lít nước để tắm cá trước khi thả cá vào bể mới.

11. Bệnh shimmy

- Triệu trứng: cá bơi lờ đờ, mình lắc bên này, lúc lắc bên kia một cách mệt mỏi. Nguyên nhân có thể do cá ăn quá no, ăn không tiêu (chú ý: cá có tốc độ tiêu hoá chậm hơn nhiều so với người), có thể bị lạnh (cá là loài biến nhiệt, sức chịu lạnh kém), cũng có khi do kí sinh trùng đường ruột.

- Cách trị: giữ bể ở 25 – 26 độ, cho cá "đói" 1 – 2 ngày, nếu do kí sinh trùng thì cho cá vào nước muối, (30g cho 1 lít), tắm ba phút, mỗi ngày một lần trong vòng 3 - 4 ngày liên tục.

12. Bệnh đốm đỏ


- Nguyên nhân: do vi trùng Pseudomonas punctaca gây ra, vi trùng thuộc họ trực khuẩn (hình que), dài cỡ 2 – 3 micro, đầu có tiên mao. Cá bị bệnh có hai bên lườn ứ máu, ấn tay thấy dịch vàng chảy ra. Vây cá xơ xác, cá bệnh nặng, mắt và hậu môn lồi ra, thịt ứ máu và mủ, ấn tay thấy mềm nhũn. Bệnh dễ phát sinh ở nhiệt độ quá cao, thức ăn kém về chất.

- Cách trị: Cần cách li ngay cá bệnh, dùng tetracylin hoà tan với tỉ lệ 5 – 10mg/lít nước. Có thẻ trộn vào thức ăn, với tỉ lệ 25mg/1cân cá, ăn liên tục t ừ 5 - 7 ngày. Hoặc dùng sulfathiazin trộn vào thức ăn cho cá với tỉ lệ 100g/1kg cá, ăn liên tục trong 5 ngày.

13. Bệnh trắng đuôi

- Nguyên nhân: Do trực cầu khuẩn pseudomonas dermoalba, kích thước: 0,4 - 0,6 micron gây ra. Năm 1973, Ghittino Pietro cho rằng siêu vi trùng Chanel Catfish Virus Disease gây ra. Cá bị bệnh, đầu thiên có hiện tượng bơi yếu, hay đứng im, cuối vây lưng và vây đuôi mất mầu, sau nhợt nhạt, rách và gãy dần khi bệnh trở nặng. Nặng hơn nữa cá cắm đầu xuống, hơi cử đọng nhẹ hoặc bất động rồi chết tư từ. Bệnh thường phát sinh khi nhiệt độ cao trên 30 độ đói ăn lâu, bị săn đuổi và bị đánh.

- Cách trị: cách li cá bệnh, thường xuyên thay nước 3 - 4 lần/ngày. Bệnh này lây lan rất nhanh, đối với cá bị nghi ngờ lây bệnh nên tiến hành tắm Biomicin với liều 12mg/lít nước trong 30 phút. Đối với cá bị bệnh tắm liều cao hơn: 18 mg /lít trong 20 phút, mỗi ngày tắm 1 - 2 lần (tùy theo bệnh tình trạng bệnh), tắm liên tục 3 - 4 ngày.

14. Bệnh báng
- Triệu chứng: Cá bị bệnh này có bụng phình to (rất to) vẩy dựng ngang ra, mắt lồi. Mặc dù vậy, cá vẫn ăn, nhưng ít hơn bình thường, bệnh không lây, trong cùng một bể.

- Cách trị: 1g Quinium Sulfat/15 - 20 lít nước, quấy kĩ đều, thả cá bệnh vào ngâm từ 1 - 2 giờ rồi chuyển sang bể khác.

15. Bệnh đen thân


- Triệu chứng: màu sắc thân cá sẫm đen, cá ít vận động, các vây cụp lại, cá chụm lại ở góc hồ, hô hấp khó khăn, cá bỏ ăn gầy yếu và chết.

- Nguyên nhân: Cá bị đen thân là do kí sinh trùng Flagellate trong dường ruột loài kí sinh trùng này có thể di chuyển từ ruột đến các bộ phận khác trong cơ thể cá làm sưng.

- Trị bệnh: trộn 20 - 30mg Metronnidazole vào 1kg thức ăn và cho cá ăn 2 - 3 ngày liền thì hết bệnh.

- Cách trị: Tăng nhiệt độ nước trong bể lên 30 - 33 độ C.

16. Bệnh lở loét mũi

- Nguyên nhân: Do một loại ký sinh xâm nhập vào mũi, từ đó ăn hết phần thịt của mũi, tạo thành một lõm lớn lan rộng đến mắt và sâu tới não. Cá bị bệnh thường cọ mũi vào vật dụng để trong thành bể, vào thành bể, thường nghiêng đầu xuống khi bơi, biếng ăn hay bỏ ăn, phân trắng, loãng.

- Điều trị: dùng Tetracyclin để trị bệnh cho cá, nhưng cũng chỉ trị được dứt bệnh khi cá mới bị nhiễm giai đoạn đầu. Cá bị bệnh có thể lây bệnh sang những con cá khoẻ mạnh khác và có thể gây chết hàng loạt. Do đó phải chú ý giữ gìn vệ sinh bể nuôi, cách ly cá bị bệnh.

Bệnh thường gặp ở cá dĩa by Tổng hợp.

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Cách chọn cá Đĩa đẹp

Cách chọn cá Đĩa đẹp


Hiện nay trên thị trường có rất nhiều người quan tâm đến cá dĩa nhưng để chọn được một chú ưng ý là việc không dễ.

1. Hình dáng

Một con cá dĩa được quan tâm trước nhất là thân hình, thân hình cá phải tròn ( như tên gọi ) và dày, phải có sự tương quan đều nhau về chiều dài cũng như chiều rộng của cá, nếu một con cá màu sắc đẹp mà thân thì gầy, lộ ra những khúc gãy thì ta không nên chọn vì chúng rất yếu (đói) ...

2. Kích cỡ


Một con cá đĩa ( không nói đến màu ) vừa mắt thì 15 cm là tốt nhất , cá dĩa khi chọn cũng không nên quá mập, cũng không thế gầy..., vửa người , nếu con cá ''mập'' thì sẽ mất đi vể thanh tao uyển chuyễn nhẹ nhàng ung dung và còn dễ mang bệnh vì sức chống chịu kém , nếu con cá gầy cũng xấu đi và thường khó chống chọi với áp lực môi trường (môi trường mơí) .Vì thế một thân hình gọn ghẽ mãnh mai vửa đủ luôn thu hút nhiều cái quan tâm từ người mua cá .

3. Màu sắc, hoa văn

Mỗi loại cá dĩa có mỗi màu sắc và các hoa văn hoàn toàn khác nhau. Nhiều khi cùng một loại mà có hoa văn lẫn màu sắc vẫn khác nhau. Có nhiều người cho rằng điểm bắt mắt người nuôi đầu tiên là màu sắc và hoa văn biểu hiện trên cá. Cây như cá – Cá như cây vẻ đẹp bên ngoài rất quan trọng quyết định giá trị của người chơi. Cũng từ chi tiết này mà cá dĩa được nhiều tay chơi săn lùng , thường thì các hoa văn và màu sắc cá càng sặc sỡ canmg2 ấn tượng thì càng nhiều người dánh giá hơn , nhưng cái cốt yếu là màu sắc lẫn hoa vân phải được phân bố rõ ràng không hỗn độn hay hỗn tạp pha màu không ngay thẳng , ngoài ra cần nói thêm màu sắc của cá có thể thay đổi do môi trường nuôi cũng như tác động của con người ( cho ăn chất kích màu , tiệm cá thường dùng ) ngoài ra cũng nên quan sát xem màu sắc cá có sáng bóng lên không cái đã , nếu màu bóng lên thì cá càng có giá trị thêm , nếu một con cá có màu sắc tương phản rõ nét (như trắng _ đó, xanh _ đỏ, ...) và bố cúc khá tốt thì cá được đáng giá là ĐẸP.

Cach chon ca dia dep Nguon: Sưu tam và tổng hợp

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Kinh nghiệm nuôi Cá Dĩa

Kinh nghiệm nuôi Cá Dĩa


Kinh nghiệm nuôi cá dĩa by Cá Cảnh VN | Kinh nghiem nuoi ca dia

1. Tuổi và màu sắc của cá


- Với những người có ý định nuôi dưỡng cá nhỏ nên mua cá trong khoảng từ 4 - 6 tháng tuổi, tức là lúc đó chúng có đường kính thân (kể cả vây) được khoảng 6 - 7 cm. Đây là giai đoạn cá còn đang phát triển rất nhanh về kích thước, thể trạng cá khoẻ mạnh và có thể chịu được một vài cú sốc ban đầu khi thay đổi môi trường nước, nhiệt độ, thức ăn ...

- Nên nhớ rằng khi nuôi dưỡng ở nhà chúng ta, cá sẽ không thể có được một điều kiện chăm sóc lý tưởng để phát triển tối đa do thiếu sự ổn định về môi trường sống (lười thay nước hoặc sự giảm nhiệt độ trong mùa đông ở các tỉnh miền Bắc), thức ăn không cung cấp đủ dinh dưỡng cho cá ... Vì vậy, nếu chọn mua cá quá non tuổi chúng sẽ rất khó khăn trong việc phát triển sau này.

- Với những con cá khoẻ, không bị còi thì ở kích thước như vậy chúng chưa thể có được mầu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành. Vậy nên con cá nào ở kích thước như vậy đã có mầu sắc sặc sỡ, đậm nét thì rất có thể là cá đã già tuổi nhưng bị còi cọc. Chúng ta không nên chọn loại này vì chỉ đẹp được trước mắt, chứ nuôi mãi cũng khó mà to lên được. Ngoài ra, cũng cần kể đến trường hợp hiện nay các trung tâm nuôi dưỡng và sản xuất cá đĩa cung cấp cho thị trường thường trước khi xuất hàng ra thị trường 1 tháng thì cho cá ăn các loại thức ăn kích thích mầu sắc hoặc có các thủ thuật nhuộm mầu làm con cá có mầu sắc đẹp, nổi bật nhưng không phù hợp với mầu sắc thật sự tương ứng với độ tuổi của cá. Những trường hợp này, người nuôi sẽ rất dễ bị thất vọng vì thấy càng nuôi, càng thấy mầu sắc cá của mình nhạt bớt đi. Bản chất hiện tượng này sẽ được trình bày ở phần sau (chăm sóc cá đĩa).

- Ngoài ra còn có thể căn cứ vào đường kính mắt cá to hay bé để đoán tuổi cá, nhưng cách này càng khó hơn, đòi hỏi bạn phải là người rất nhiều kinh nghiệm và có thâm niên trong nghề .

2. Quan sát dáng vẻ cá
- Con cá khoẻ mạnh sẽ có biểu hiện nhanh nhẹn, hoạt bát và luôn bơi chậm rãi, khoan thai và thường thích bơi ở tầm nước trung (giữa bể), vây luôn căng, mầu không bị sẫm đen, không nổi nhiều sọc ở mình. Tránh không chọn những con có biểu hiện cụp vây, mầu sẫm và nép sát đáy bể hoặc nép sát các góc bể vì đó là những con cá đang có dấu hiệu bị bệnh hoặc ốm.

- Mình cá phải càng dầy càng tốt, chú ý phần bụng cá phải luôn căng vừa phải chứ không bị lép: Có những con do bị nhiễm sán hoặc bị hỏng đường ruột nên không thể tiêu hoá được nhiều thức ăn, do đó bụng cá luôn không có nhiều thức ăn, lâu ngày 2 lớp da dính sát vào nhau nhìn mỏng dính. Những con cá này rất khó nuôi lớn đạt kích thước 12cm trở lên được.

- Vây trên dưới của cá phải phát triển đều cả 2 phía và hình dáng phải có hình tròn mới là cá đẹp và khoẻ. Thông thường cá đĩa khi phát triển tốt thì mình cá sẽ tròn, trừ loài cá Xanh đức là có dáng hơi dài, vì vậy nếu thấy con cá nào có mình hơi dài thì cũng không nên chọn.

3. Thử cho ăn mồi
- Nên bảo chủ cửa hàng cho mồi vào bể để thử phản xạ ăn mồi của cá. Với những con khoẻ mạnh, nếu đang ở độ tuổi đã nói ở trên sẽ rất háu ăn và những con khoẻ nhất đàn sẽ tranh ăn của những con khác rất mãnh liệt, ta nên chọn những con đó.

- Chú ý rằng: cá đĩa rất hay đớp mồi ngậm trong miệng nhưng lại nhả ra, vì vậy cá được đánh giá là khoẻ khi chúng ăn mồi thật sự chứ không phun hết thức ăn ra ngoài.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Tìm hiểu đặc tính sinh sản của cá cảnh

Tìm hiểu đặc tính sinh sản của cá cảnh


Tìm hiểu đặc tính sinh sản của cá cảnh by AG | Tim hieu dac tinh sinh san ca canh

Nhân giống cá cảnh gần như là bí quyết của mỗi người kinh doanh cá cảnh TP. HCM. Qua hàng chục năm kinh nghiệm, nhiều nghệ nhân chơi cá cảnh ở quận 1, quận 8, quận 5, quận 9, Thủ Đức đã đúc kết một số kinh nghiệm, mà chắc chắn, các “ngón nghề” công phu họ vẫn giữ cho riêng mình.

- Trước hết là chú ý môi trường nước. Người cẩn thận cho than hoạt tính vào túi nilông hoặc thùng sắt tròn có tráng men rồi cho nước máy chảy vào để lọc. Sau đó, đun chứa vào các hồ chứa sạch làm nước nuôi dưỡng cá hàng ngày, làm môi trường cho cá sinh sản.

- Một phương pháp lọc nước khác mà người nuôi cá áp dụng là dùng chất hóa học cao phân tử. Chất này lọc các phân tử calci, ma-nhê, muối gốc acid trong nước để nước trở thành nước trung tính, thích hợp dùng làm môi trường sinh sản cho nhiều loại cá họ chép, từ điêu...

- Người kỹ hơn thì chưng cất nước: dùng phương pháp điện giải và phân tích bằng điện cực âm - dương. Sau đó, hòa chung với nước sạch để có độ cứng và tích kiềm - acid không đồng đều, thỏa mãn yêu cầu nước dùng sinh sản cho các loại cá khác nhau.
Ở nông thôn người nuôi cá thường hứng nước mưa. Nước mưa có hàm lượng phân tư ãkim loại rất ít, thích hợp cho việc dùng sinh sản các loại cá chép. Người ta không hứng nước theo mái nhà mà hứng giữa trời. Đặc biệt, chọn các vùng chưa ô nhiễm khói, bụi trong không khí.

- Muốn nhân cá giống cần phải học hỏi kinh nghiệm, tự trang bị kiến thức và thận trọng thực hành. Điều quan trọng nhất để nhân giống thành công cần tìm hiểu từng đặc điểm sinh sản để biết cách mà áp dụng.

1. Loài đẻ thai trứng
- Thường là loại cá họ lành canh (coilia) hay cá mào gà, họ cá trổng (Engraulidae) bộ cá trích(Clupeiformes), có giá trị kinh tế... Trứng thụ tinh trong bụng con cái, con cái trực tiếp đẻ khi trứng trưởng thành, cá con biết hơi liền. Khi con cái có thai, bụng đã to, tách nuôi riêng. Cá gần sinh, để vào một cái lồng đặc chế trong bể sinh sản. Đáy lồng có nhiều mắc lưới để cá con chui ra thoải mái qua bể kính. Có thể treo nhiều lồng tùy loài cá sinh nhiều ít. Giản dị hơn, người ta đặt tấm lưới nilông ở đáy hồ để cá con chui xuống đó núp (áp dụng cho cá bảy màu, đuôi kiếm, cá ánh trăng, mã lệ...).

- Khi nhiệt độ hơn 18 độ C, thả vài trăm con cá giống ra hồ, thả rong che bớt ánh nắng cho chúng, tập chúng quen dần với môi trường mới. Thường thường, con cái đẻ mỗi tháng một lần, mỗi lần từ 50 - 200 con.

2. Loài đẻ trứng dính (như cá hèm, cá bốn sọc, cá gần họ cá chép, ngựa vằn, tua vàng, ông tiên, ba đuôi, đĩa…)


Đây là loại cá tự tìm bạn tình, chúng ta thả cá giống chung vào, chúng tự hoàn thành công việc sinh sản. Thường thì tỉ lệ 1 đực - 1 cái, nhưng có loại 2 đực - 1 cái thì nên để 3 - 5 con cá giống vào hồ sinh sản. Tùy thuộc vào kích cỡ cá mà bố trí hồ thích hợp, cần có giá thể cho trúng cá bám vào khi sinh sản. Giá thể có thể là một tấm nilông có tính đàn hồi,một ống nhựa hay một miếng gạch tàu, … Sau khi cá đã sinh sản xong tùy theo loài giữ con hay không mà tiến hành chuyền trứng sang nơi khác.

3. Loài ấp trứng trong nước bọt
Họ cá đá đa số sinh sản trong nước bọt (cá đá Thái Lan, ngựa trân châu tam giác, cá hôn môi, cá lệ hồng, lệ ngũ sắc, rồng lượn xanh...) tự chọn bạn tình rồi đẻ trên bọt nước, trứng sinh ra con cũng trên bọt nước. Hồ sinh sản cỡ 50 x 50 x 35 cm, thả rong hay cải lá xanh trên mặt nước, cho một cặp cá giống vào. Con đực nâng cọng rong hoặc nhả bọt dưới rong, hai cá quấn quít nhau trên đám rong, lá đó. Con đực ngậm trứng cá cái đẻ ra, nuôi dưỡng con nhỏ... (thường từ chạng vạng tối đến sáng hôm sau). Xong việc sinh sản, nhớ lập tức tách cá đực - cái ra nếu không, con đực “tiếp tục” với con cái, có khi làm hư vây - đuôi con cái. Riêng với cá đực Thái Lan, một hồ chỉ thả một con đực để tránh chúng chọi nhau giành mái.

4. Loại cá đẻ trứng trong chậu hoa (chủ yếu là loại cá từ điêu như phượng hoàng bảy màu, cá quýt...).
Chúng ta cho chậu hoa vào trong đáy hồ. Hai cá đực cái dùng miệng làm sạch chậu hoa, sau khi cá sanh xong, lấy chậu hoa ra, đặt vào hồ có dưỡng khí để ấp. Nhiệt độ từ 27 – 28 độ C trong nước sinh sản là thích hợp. Riêng cá ông tiên bảy màu cũng dùng chậu hoa làm tổ nhưng chọn hoa màu tím để chúng đẻ bên vách ngoài chậu hoa...

5. Loại cá ấp trứng trong miệng (như cá rồng, cá trích châu Phi, cá miểng sành ngăn châu Phi...)


Loại cá này có sở thích làm tổ trong cát, con cái canh giữ ngoài tổ, con đực dụ con cái vào trong tổ và phóng tinh. Con cái vừa đẻ vừa dùng miệng ngậm trứng đã được thụ tinh vào miệng rồi ấp trứng trong miệng. Sau 7 - 8 ngày trứng nở thành con. Cá con bơi đi ăn nhưng có động, tụ tập lại tại miệng cá mẹ, cá mẹ ngậm vào họng bảo vệ con.

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Thức ăn lên màu cho cá đĩa

Thức ăn lên màu cho cá đĩa | thuc an len mau cho ca dia

Cá đĩa là loài rất kén ăn, nên thức ăn cho cá đĩa cũng ít. Thường thì người nuôi không có thời gian nên toàn mua thức ăn viên cho cá đĩa, thức ăn viên do không được kiểm tra chất lượng nên hàng nhái hàng tàu rất nhiều nên việc cho cá ăn thức ăn viên lâu ngày sẽ có hại cho cá. Chúng ta nên cho cá ăn thức ăn gần giống với thức ăn tự nhiên của cá như vậy giúp cá sống khỏe và màu sắc sẽ đẹp hơn.


Ngoài tự nhiên thức ăn của cá đĩa chủ yếu là các loài sinh vật nhỏ như tép, ấu trùng cá con, các loài dung nước ... Vì vậy chúng ta nên thường xuyên cung cấp các loại thức ăn tươi sống như trùng chỉ, tép con ... sẽ giúp cá sống thọ và màu sắc đẹp hơn.

HÌnh cá đĩa đẹp

Mọi người vẫn truyền tai nhau rằng cho cá đĩa ăn thịt bò cho lên màu đẹp, cái này cũng đúng một phần vì thịt bò có chứa nhiều sắt nên sẽ giúp cá có màu đậm hơn, nhưng chỉ có tác dụng với các loài cá đĩa có màu đỏ thôi. Ngoài ra tép rong cũng giúp cá lên màu tốt, vửa rẻ tiền lại vừa dễ mua.


Vì vậy chúng ta nên cung cấp nhiều loại thức ăn tự nhiên sẽ tốt hơn, vì cá cũng giống như con người nếu tối ngày cho cá ăn toàn thức ăn tăng trọng thì cũng bị béo phì, bệnh ung bú do hóa chất có trong thức ăn.


Cuối cùng thức ăn có nguồn gốc thiên nhiên cho cá đĩa vẫn là tốt nhất.

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Hình cá đĩa lam

Hình Cá đĩa lam




Cá đĩa lam