Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thức ăn thủy sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thức ăn thủy sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Đặc điểm sinh học Artemia

Đặc điểm sinh học Artemia


Đặc điểm sinh học artemia by Nhóm NC ĐHCT | Dac diem sinh hoc artemia

I. Đặc điểm hình thái phân loại và phân bố
1. Vị trí phân loại
- Ngành: Arthropoda
- Lớp: Crustacea
- Lớp phụ: Branchiopoda
- Bộ: Anostraca
- Họ: Artemiidea
- Giống: Artemia

2. Đặc điểm về hình thái
Artemia phát triển trải qua các giai đoạn:
- Ấu trùng mới nở (instar I =nauplius, có chiều dài 400-500 µm) có màu vàng cam, có một mắt màu đỏ ở phần đầu và ba đôi phụ bộ. Ấu trùng giai đoạn I không tiêu hóa được thức ăn vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh. Lúc này, chúng sống dựa vào nguồn noãn hoàng.

- Sau khoảng 8 giờ từ lúc nở, ấu trùng lột xác trở thành ấu trùng giai đoạn II (instar II). Lúc này, chúng có thể lọc và tiêu hóa các hạt thức ăn cỡ nhỏ có kích thước từ 1 đến 50 µm và bộ máy tiêu hóa đã bắt đầu hoạt động. Ấu trùng tăng trưởng và trải qua 15 lần lột xác trước khi đạt giai đoạn trưởng thành. Các đôi phụ bộ xuất hiện ở vùng ngực và dần dần biến thành chân ngực. Mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt

- Từ giai đoạn 10 trở đi, các thay đổi về hình thái và chuyên hóa chức năng của các cơ quan trong cơ thể bắt đầu, chúng có sự biệt hóa về giới tính. Ở con đực anten của chúng phát triển thành càng bám, trong khi đó anten của con cái bị thoái hóa thành phần phụ cảm giác (râu cảm giác). Các chân ngực được biệt hóa thành ba bộ phận chức năng: Các đốt chân chính, các nhánh chân trong (vận chuyển và lọc thức ăn) và nhánh chân ngoài dạng màng (mang).

- Artemia trưởng thành (dài khoảng 10-12 mm) có cơ thể kéo dài với hai mắt kép, ống tiêu hóa thẳng, râu cảm giác và 11 đôi chân ngực. Con đực có đôi gai giao cấu ở phần sau của vùng ngực (vị trí sau đôi chân ngực thứ 11) và con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11.

- Vòng đời của Artemia (theo Sorgeloos và ctv.., 1980)


3. Phân bố
Ngày nay, sự phân bố của Artemia được chia làm hai nhóm:
- Những loài thuộc về Cựu thế giới (Old World) là những loài bản địa đã tồn tại từ rất lâu trong các hồ, vịnh tự nhiên.

- Những loài thuộc về Tân thế giới (New World) là những loài mới xuất hiện ở những vùng trước đây không có sự hiện diện của Artemia. Sự có mặt của chúng do người, chim hoặc là gió tạo ra mà tiêu biểu là loài Artemia franciscana (đại diện cho loài Artemia ở Tân thế giới) đã được sử dụng rộng rãi để thả nuôi ở nhiều ruộng muối trên khắp các lục địa.

II. Đặc điểm sinh học
1. Đặc điểm môi trường sống
- Artemia chỉ có thể tìm thấy ở những nơi mà vật dữ (cá tôm, giáp xác lớn) không thể xuất hiện (cao hơn 70 ppt). Ở độ mặn bão hòa (≥250 ppt) Artemia chết đồng loạt do môi trường vượt ngưỡng chịu đựng (trở nên gây độc) và việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn.

- Các dòng Artemia khác nhau thích nghi rộng với sự biến đổi môi trường khác nhau đặc biệt là nhiệt độ (6 - 35 độ C), độ muối (độ mặn của nước) và thành phần ion của môi trường sống. Ở các thủy vực nước mặn với muối NaCl là thành phần chủ yếu tạo nên các sinh cảnh Artemia ven biển và các sinh cảnh nước mặn khác nằm sâu trong đất liền, chẳng hạn hồ Great Salt Lake (GSL) ở Utah, Mỹ. Các sinh cảnh Artemia khác không có nguồn gốc từ biển nằm sâu trong lục địa có thành phần ion khác rất nhiều so với nước biển: Vực nước sulphate (Chaplin lake, Saskatchewan, Canada), vực nước carbonate (hồ Mono Lake, California, Mỹ), và các vực nước giàu lân (rất nhiều hồ ở Nebraska, Mỹ).

- Artemia được nuôi rộng rãi ở Việt nam thuộc dòng Artemia franciscana, mặc dù có nguồn gốc từ Mỹ (San Francisco Bay, USA) nhưng sau thời gian thích nghi dòng này gần như đã trở thành dòng bản địa của Việt nam và chúng có nhiều đặc điểm khác xa so với tổ tiên chúng đặc biệt là khả năng chịu nóng. Hiện tại chúng có thể phát triển tốt trong điều kiện:
+ Độ mặn: 80 - 120 phần ngàn
+ Nhiệt độ: 22 - 35 độ C
+ Oxy hoà tan: không thấp hơn 2 mg/l
+ pH từ trung tính đến kiềm (7.0 - 9.0)

2. Đặc điểm về dinh dưỡng
- Artemia là loài sinh vật ăn lọc không chọn lựa, chúng sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn 50µm. Các sinh cảnh tự nhiên có Artemia hiện diện thường có chuỗi thức ăn đơn giản và rất ít thành phần giống loài tảo. Artemia thường xuất hiện ở những nơi có nồng độ muối cao, vắng mặt các loài tôm, cá dữ và các động vật cạnh tranh thức ăn khác như luân trùng, giáp xác nhỏ ăn tảo. Ở các sinh cảnh này nhiệt độ, thức ăn và nồng độ muối là những nhân tố chính ảnh hưởng đến mật độ của quần thể Artemia hoặc ngay cả đến sự vắng mặt tạm thời của chúng.

- Trong nghề nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thường sử dụng phối hợp phân chuồng (chủ yếu là phân gà) kết hợp với phân vô cơ (Urea, DAP...) để gây màu trực tiếp (trong ao nuôi Artemia) hoặc gián tiếp (ngoài ao bón phân) trước khi cấp nước “màu” (nước tảo) vào trong ao nuôi. Phân gà khi được bón trực tiếp vào ao nuôi, ngoài việc cung cấp dinh dưỡng kích thích tảo phát triển, phân còn là nguồn thức ăn trực tiếp cho Artemia. Ngoài ra, khi lượng nước tảo cung cấp vào ao hàng ngày thiếu hụt, nông dân còn sử dụng cám gạo, bột đậu nành hoặc các loại phụ phẩm nông nghiệp khác...để duy trì quần thể Artemia.

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Vai trò của thức ăn tự nhiên trong nuôi thủy sản

Vai trò của thức ăn tự nhiên trong nuôi thủy sản


Vai trò của thức ăn tự nhiên trong nuôi thủy sản by C.ty UVVN | Vai tro cua thuc an tu nhien trong nuoi thuy san

Thức ăn tự nhiên rất cần thiết và quan trọng đối với cá con từ giai đoạn phát triển cá bột lên cá giống do kích thước và giá trị dinh dưỡng thích hợp của chúng. Tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên làm thức ăn cho cá con bằng cách bón phân gây màu nước trước khi thả giống sẽ giúp gia tăng chất lượng cá giống và năng suất cá nuôi.

I. Vai trò của thức ăn tự nhiên trong nuôi thủy sản
- Thức ăn tự nhiên, bao gồm thực vật phù du và động vật phù du, chúng đóng vai trò rất quan trọng trong lưới thức ăn của thủy vực tự nhiên và góp phần đáng kể vào việc cân bằng sinh thái của thủy vực. Ngoài ra, các nhóm sinh vật này còn được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trường nước.

- Trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở giai đoạn phát triển từ ấu trùng/cá bột lên cá giống, thức ăn tự nhiên là thành phần không thể thiếu được của rất nhiều loài cá, giáp xác và thân mềm nước ngọt và lợ, mặn. Ở giai đoạn này, ấu trùng/cá bột rất nhỏ (kích thước miệng nhỏ), chưa phát triển hoàn chỉnh các cơ quan cảm giác (như mắt, xúc giác, cơ quan đường bên) và hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh là những yếu tố hạn chế việc chọn lựa và sử dụng thức ăn thích hợp trong suốt thời kỳ bắt đầu ăn thức ăn ngoài.

- Kích cỡ miệng của cá bột lúc bắt đầu ăn thức ăn ngoài giới hạn kích thước hạt thức ăn vừa với miệng (có thể ăn vào được). Nhìn chung, kích cỡ miệng có liên quan với kích thước cơ thể và phụ thuộc vào đường kính trứng, thời gian dinh dưỡng bằng noãn hoàng.

- Tình tạng phát triển của ống tiêu hóa ở cá bột bắt đầu dinh dưỡng ngoài cũng thể hiện khả năng có thể hay không thể tiêu hóa những thức ăn của cá. Ở một số loài cá ống tiêu hóa đã phát triển với hệ thống enzym chức năng cho phép tiêu hóa các mảnh vụn thức ăn khi mới bắt đầu ăn. Ngược lại, ở một số loài, cá bột không có dạ dày chức năng nhưng chỉ có ống tiêu hóa ngắn với một ít hệ enzym chức năng vào lúc mới bắt đầu ăn ngoài. Do vậy, các loài cá bột này sẽ phải phụ thuộc vào nguồn thức ăn: (1) dễ tiêu hóa (thức ăn phải chứa lượng lớn acid amin tự do và oligopeptide thay vì các phân tử protein phức khó tiêu hóa), (2) chứa hệ enzym chức năng cho phép sự thủy phân (tự phân hủy hạt thức ăn), và (3) cung cấp đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết đòi hỏi bởi cá bột.

- Thức ăn nhân tạo thường không đáp ứng được các nhu cầu này và thường dẫn đến tăng trưởng chậm và tỉ lệ sống thấp ở một số loài cá. Trong khi đó, thức ăn tự nhiên hầu như đáp ứng tất cả các tiêu chí cần thiết của cá ở gian đoạn này. Tuy nhiên, để cá có thể bắt được thức ăn, trước hết nó phải được phát hiện và vì thế mức độ phát triển của các cơ quan cảm giác như cơ quan tiếp nhận ánh sáng (mắt), tiếp nhận hóa học (cơ quan khứu giác, nụ vị giác) và tiếp nhận cơ học (đường bên) là yếu tố quyết định. Ví dụ như mắt của cá bột thường chỉ có tế bào hình nón trong võng mạc làm cho khả năng nhìn kém, trong khi đó mắt của cá giống có tế bào hình que với nhiều sắc tố thị giác trong võng mạc. Hơn nữa, sinh vật thức ăn tự nhiên thường có mức tương phản tốt hơn thức ăn nhân tạo và nói chung có tác động kích thích do sự chuyển động liên tục giúp tăng khả năng nhận biết bởi cá bột. Tương tự, hoạt động bơi lội của sinh vật thức ăn tự nhiên thường đảm bảo sự phân bố thức ăn đều trong tầng nước, tăng cơ hội bắt gặp thức ăn của cá bột đang trong giai đoạn phát triển với khả năng di chuyển chậm chạp.

- Trong các ao nuôi thủy sản, khẩu phần ăn tự nhiên của hầu hết các loài cá, giáp xác và thân mềm rất đa dạng bao gồm nhiều loài tảo khác nhau (tảo khuê, tảo lục, tảo có roi…) và các nhóm động vật phù du (luân trùng, giáp xác râu ngành, giáp xác chân chèo, ấu trùng mười chân….). Đối với các thủy vực nước ngọt, luân trùng (nhất là giống Brachionus) và trứng nước (giống Moina) là các nhóm thức ăn tự nhiên chiếm mật độ cao và là nguồn thức ăn quan trọng của cá ở giai đoạn sau khi nở.

II. Một số loài thức ăn phổ biến
1. Tảo
Tảo là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của thủy vực và là nguồn thức ăn rất quan trọng đối với các giai đoạn đầu của nhiều loài cá, giáp xác và hai mảnh vỏ. Hiện nay có trên 40 loài tảo khác nhau đã được phân lập và gây nuôi trên thế giới, trong đó một số giống loài được sử dụng rất phổ biến trong sản xuất giống các đối tượng hải sản bao gồm tảo khuê Skeletonema costatum, Thalassiosira pseudonana, Chaetoceros gracilis, C. calcitrans, tảo có roi Isochrysis galbana, Tetraselmis suecica, Monochrysis lutheri và tảo lục Chlorella spp.


2. Luân trùng (Rotifera)
Với các đặc điểm như kích thước nhỏ (100-500µm), bơi lội chậm, chịu đựng tốt các yếu tố môi trường, tốc độ sinh sản nhanh, luân trùng trở thành một trong những loại thức ăn tự nhiên ban đầu quan trọng của nhiều loài tôm, cá khác nhau. Luân trùng nước lợ Brachionus plicatilis được sử dụng ở giai đoạn đầu của trên 70 loài cá biển và 18 loài giáp xác. Rất nhiều tác giả đã chứng minh rằng giới hạn trong sản xuất và ương giống của nhiều loài tôm, cá phần lớn liên quan đến việc hạn chế nguồn luân trùng. Luân trùng nước ngọt Brachionus angularis là thành phần thức ăn quan trọng cho các loài cá bột nước ngọt như cá bống tượng, thát lát… Kết quả nghiên cứu trên cá bột bống tượng từ 1-10 ngày tuổi cho thấy nếu cá được cho ăn luân trùng (B. angularis) thì tỉ lệ sống cao hơn đáng kể (35%) so với cho ăn bột đậu nành và lòng đỏ trứng (19%) (Trương Ngô Bích Ngọc, 2010).


3. Trứng nước (Moina sp.)
Trứng nước thuộc nhóm giáp xác râu ngành (Cladocera) là thành phần động vật phù du chủ yếu trong các ao nuôi thủy sản nước ngọt. Trứng nước được sử dụng phổ biến trong ương nuôi rất nhiều loài cá khác nhau ở giai đoạn từ cá hương lên cá giống như cá trê, cá tra, cá lóc, cá rô… Trong ao mật độ trứng nước thường cao hơn ngoài thủy vực nước chảy, nhất là ở các ao được bón phân trước đó.


4. Giáp xác chân chèo (Copepoda)
Giáp xác chân chèo trong môi trường nước mặn phần lớn là các giống loài thuộc bộ Calanoida là thành phần thức ăn chủ yếu (>70%) trong ống tiêu hóa của hầu hết các loài cá biển. Trong môi trường nước ngọt, các giống loài thường gặp thuộc bộ Cyclopoida như Cyclops, Eucyclops… cũng là thành phần thức ăn quan trọng cho cá con.



Bài viết đã được mua tác quyền, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: PGs.Ts. Vũ Ngọc Út - Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi ấu trùng Muỗi Đỏ

Kỹ thuật nuôi ấu trùng Muỗi Đỏ


Kỹ thuật nuôi ấu trùng muỗi đỏ by BMT | Ky thuat nuoi au trung muoi do

I. Tổng quan về ấu trùng muỗi đỏ
1. Thông tin chung
- Trùng muỗi đỏ là ấu trùng côn trùng không cánh (đốt) thuộc họ Chironomidae (Bộ Diptera, Lớp Insecta). Ở Singapore hơn 50 loài thuộc nhóm được ghi nhận. Không phải hầu hết ấu trùng Chironomid đều đỏ. Những dạng bề mặt màu xanh, số khác màu trắng và chỉ những nơi chứa Haemoglobin là màu đỏ và tuy nhiên tên của nó vẫn gọi là trùng muỗi đỏ. Ấu trùng và thành trùng muỗi đỏ có dinh dưỡng cao, bổ và là một trong những cấu thành thức ăn chủ yếu cho nhiều loài cá trong điều kiện tự nhiên. Tầm quan trọng của ấu trùng muỗi đỏ như là thức ăn tươi sống cho nghề nuôi cá cảnh được nuôi ở nhiều quốc gia ở Đông Nam Á. Tất cả nhóm cá dữ như tai tượng beo, cá đĩa, cá lia thia và nhóm cá rô rất thích thú khi ăn ấu trùng này và cá lớn nhanh hơn và sinh sản sớm hơn. Chúng được đề cập tới qua các tài liệu chứng minh chúng là nguồn cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho sinh trưởng của cá. Chẳng hạn ở cá chép có ăn thức ăn bổ sung là trùng muỗi đỏ thì chúng tăng trưởng tốt hơn về trọng lượng, tỉ lệ tăng trưởng và đồng đều hơn. Trùng muỗi đỏ có thể đạt được tăng trưởng hiệu quả ở cá giống Mugil carpio.


- Việc cung cấp ấu trùng muỗi đỏ cho các nhà nuôi cá địa phương của Singapore thường nhập chính yếu từ những nước láng giềng và một ph ần do sản xuất trong nước. Môi trường sinh sản tự nhiên cho muỗi đỏ bị giới hạn do sự đô thị hóa và hiện đại hóa của đất nước. Hơn nữa việc cung cấp trùng muỗi đỏ luôn bị động không đáng tin cậy và theo mùa vì ấu trùng phát triển thất thường nhất là vào mùa mưa.

- Trong thời gian qua, cách đây khoảng nửa thế kỷ những cố gắng sinh sản nhân tạo trùng muỗi đỏ trong điều kiện thí nghiệm được thực hiện ở nhiều nước. Điều khó khăn nhất là khả năng kích thích sinh sản và thành thục của côn trùng hai cánh muỗi đỏ trong điều kiện nuôi.

2. Sinh học và vòng đời
Vòng đời trùng muỗi đỏ được chia thành 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, thành trùng và côn trùng trưởng thành. Chúng được đẻ ra trong một khối như một chất nhầy trong suốt. Mỗi khối chứa khoảng 50 - 70 trứng. Trong điều kiện nhiệt đới, thời gian ấp trứng khoảng 24 - 48 giờ. Ấu trùng mới nở thì không vượt quá 1mm chiều dài nhưng vào giai đoạn cuối đo được 10 - 15mm. Mỗi ấu trùng lột xác 4 lần trước khi chuyển sang giai đoạn thành trùng. Sau 2 ngày hoặc hơn chúng lên mặt nước và lột xác để biến thành dạng trưởng thành. Chúng rất mềm mại và chân dài bay không quá 5mm và hiếm khi hơn 10mm chiều dài. Chúng sống 3 - 5 ngày và thành thục và đẻ trứng trong thời kỳ này. Con trưởng thành chiếm số lượng lớn trong vùng lân cận của ao, hồ và suối bởi vì trứng được đẻ ra trong nước và các giai đoạn ấu trùng cũng trong nước.

3. Giá trị dinh dưỡng
Giá trị dinh dưỡng của trùng muỗi đỏ rất tốt. Phân tích hóa học chỉ ra rằng chúng chứa 9.3% vật chất khô, trong đó 62,5% protein thô, 10,4% béo thô, 11,6% tro và 15,6% carbohydrate. Chúng cũng là nguồn cung cấp sắt cho cá bởi vì chúng chứa Haemoglobin như động vật có xương sống.

4. Thu vớt trùng muỗi đỏ từ những thủy vực tự nhiên
- Ấu trùng côn trùng muỗi đỏ có thể tìm thấy ở hầu hết các thủy vực với đáy bùn. Chúng được tìm thấy với số lượng lớn trong các mương nước chảy từ các nhà máy bia, rượu, tinh chế đường và những thủy vực nước bẩn. Ấu trùng rời khỏi ống bao phủ thân, chỉ vào ban đêm khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp và thời điểm này là thời gian tốt nhất để bắt chúng với số lượng lớn. Chúng sẽ dễ dàng bị đánh bắt bằng lưới nilon.

- Trùng muỗi đỏ dễ dàng bị vớt bằng lưới sàng trên lớp bùn đáy ao. Ấu trùng và các vật liệu cát sẽ ở lại trong sàng và đặt sàng qua lại trong thao đầy nước, sau đó trùng sẽ bơi lên trên mặt nước và chúng dễ dàng bị vớt ra ngoài.

III. Kỹ thuật nuôi
- Ở Hongkong, nuôi trùng muỗi đỏ sinh trưởng bằng cách bón phân gà, sản lượng 28g/m2/tuần nó thì thấp hơn nếu so sánh với sản lượng 250 - 375g/m2/tuần nuôi bằng phân gà trong khay đặt trong nhà kính và sục khí. Phân ngựa cũng được dùng bón cho hố nuôi trùng muỗi đỏ nhưng sản lượng tốt nhất là 11g/m2/tuần.

- Để sản xuất lượng lớn trùng muỗi đỏ chi phí sẽ phải được cân nhắc lại. Những sản phẩm từ những nhà máy chế biến thì rất thích hợp để nuôi ấu trùng. Một số thí nghiệm nuôi trùng muỗi đỏ dùng các sản phẩm thải như bột mì, cám, bột đậu nành, phế phẩm của dừa.

- Bất kì kích cỡ bể và vật liệu đều được dùng nuôi trùng muỗi đỏ. Sục khí trong bể nuôi làm gia tăng oxy hòa tan góp phần cho sự phân hủy các vật liệu thức ăn và hô hấp của trùng. Sục khí liên tục góp phần làm giảm tỉ lệ chết của trùng. Mức nước trong bể thì không nhiều lắm, thông thường khoảng 20cm. Trong quá trình nuôi rất cần thiết dùng lưới nilon phủ lên trên để đề phòng muỗi thường đến và đẻ trứng vào bể. Tốt nhất nên cấp nước vào bể một ngày trước khi chuyển trứ ng vào bể để làm giảm lượng chlorine trong nước. Lượng thức ăn cho vào bể tùy từng thời điểm tùy thuộc vào kích thước bể và mật độ quần thể muỗi. Cho quá nhiều thức ăn vào bể sẽ làm mất chất dinh dưỡ ng do sự phân hủy. Thường 3 g thức ăn đủ cho 1.000 trứng trong bể. Thức ăn sẽ làm chất nền tốt cho sự phân bố và dễ dàng tiêu hóa thức ăn cho ấu trùng mới nở. Trộn thức ăn sau khi chúng cho vào làm các vật thể thức ăn rãi đều trên nền đáy bể.

- Sản lượng tốt nhất trong bể chứa 3.000 – 4.000 trứng. Cùng lượng thức ăn nên cho vào lần nữa trong ngày thứ sáu hay thứ bảy và lần thứ ba cho ngày thứ chín hay thứ mười. Thu hoạch vào ngày thứ 12 - 14 khi giai đoạn thành trùng b ắt đầu xuất hiện. Ấu trùng thu hoạch có thể cho vào các túi nhựa và để tránh chúng lột xác thành thành trùng và làm giảm sự tiêu thụ oxy, chúng có thể tạm thời trữ vào trong tủ lạnh (5 – 10 độ C) khoảng một ngày mà không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống. Tỉ lệ sống sẽ tốt hơn khi cho vào túi nhựa oxy với tỉ lệ phân nữa.

- Để sản xuất liên tục nuôi trữ ph ải được duy trì chính vì thế cần có sự cung cấp liên tục trứng trong sinh sản nhân tạo. Trại nuôi có ít nhất 4 - 6 bể, những bể này cũng được quản lý như các bể nuôi. Khoảng 4 - 6 tuần mẻ nuôi mới lại bắt đầu. Bể củ thì không thích hợp cho muỗi vào để đẻ. Để bắt đầu một mẻ nuôi mới có thể thu trứng từ những bê củ trộn lẫn lại với nhau trước khi vớt chúng ra ngẫu nhiên và đưa vào bể trữ mới nhằm chóng lại hoặc giảm sinh sản cận huyết. Lai cận huyết nghĩa là sinh sản giữa anh và chị em trong cùng thế hệ làm cho việc nuôi giảm nhanh chóng và sức sinh sản giảm theo. Vì vậy trộn trứng là quá trình quan trọng để duy trì sức sản xuất tốt cho bể nuôi.

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Kỹ thuật nuôi sâu gạo – Thức ăn cá cảnh

Kỹ thuật nuôi sâu gạo – Thức ăn cá cảnh


Kỹ thuật nuôi sâu gạo – Thức ăn cá cảnh by Diễn Đàn | Ky thuat nuoi sau gao – Thuc an ca canh

Sâu gạo là loại thức ăn bổ dưỡng và khoái khẩu của nhiều loại chim ăn sâu cũng như một số loài cá cảnh (đặc biệt là cá rồng). Hiện nay, một số người chơi chim, cá cảnh tự nhân giống và nuôi sâu gạo làm thức ăn cho vật cưng của mình. Dưới đây là những kinh nghiệm nuôi sâu gạo của anh Phan Lê Minh Khoa, một người có nghề trong việc nhân giống, nuôi dưỡng loài “siêu sâu” này.


1. Kỹ thuật nuôi sâu gạo
Sâu gạo tên tiếng Anh là Superworm, tên khoa học là Zoophobas mario, khi trưởng thành, chúng dài khoảng 6 - 8cm. Chúng rất dễ nuôi, và sống rất lâu, nếu môi trường sống không chật chội được cho ăn uống đầy đủ, đúng cách, chúng sẽ sống đến 6 - 7 tháng. Yếu tố sống lâu, và không cần sự bảo quản kỹ làm cho giống sâu Superworm trở thành món thức ăn rất được ưa chuộng cho các nghệ nhân chơi các loài chim cảnh ăn sâu, và dĩ nhiên là các bạn chơi cá rồng.

- Sâu Superworm có thể nuôi được trong một thùng nhựa hay bể kiếng với thể tích khoảng 40 lít nước. Trước khi cho sâu vào, cần phải rải một lớp cám màu vàng, loại được dùng để làm thức ăn cho gà con, dày khoảng 3cm. Trong một thùng với thể tích nêu trên có thể chứa được khoảng 1000 con sâu Superworm. Thức ăn chủ yếu của chúng là từ lớp cám thức ăn của gà con. Ngoài ra, táo, khoai tây, cà rốt cắt từng lát mỏng, và rau xà lách là nguồn thức ăn cung cấp nước cho giống sâu này. Khoảng 2 - 3 tháng, bạn nên thay lớp cám trong thùng, vì bọn sâu này sẽ ăn hết lớp cám cũ. Một điều nên ghi nhớ là các nguồn thức ăn cung cấp nước cho sâu, nên được thay mỗi 3 - 4 ngày/lần, vì nếu thiếu chúng, sâu sẽ tự ăn thịt lẫn nhau để thay thế cho nguồn nước.

- Nếu bạn muốn thêm chất bổ dưỡng cho cá rồng hay các chú chim quý của mình, thì có thể cho sâu Superworm ăn thêm các loại thức ăn khô đã có sẵn vitamin. Khi chúng đã ăn no (sau 24 tiếng) các thức ăn bổ dưỡng kia thì thảy cho cá hay chim ăn. Nuôi sâu chỉ có thế, rất đơn giản và sạch sẽ nhẹ nhàng, nhưng kết quả thì tuyệt vời.

- Một điều xin lưu ý là sâu Superworm chịu lanh rất dở, khi nhiệt độ dưới 17 độ C chúng sẽ chết một cách mau lẹ. Nhiệt độ thích hợp cho giống sâu là là từ 21 - 27 độ C.

2. Kỹ thuật gây giống sâu gạo
- Kích thích sâu chuyển nhộng: Muốn kích thích chúng thành con nhộng nên có các hộp có từng ngăn nhỏ để bỏ riêng từng con sâu Superworm vào, và đậy nắp lại, để trong bóng tối trong khoảng vài ngày đến 2 tuần. Nắp đậy nên khoét lỗ nhỏ để có dưỡng khí oxygen cho sâu thở.

- Giống sâu này khi bị cho vào trong môi trường cuộn tròn, chật cứng cộng thêm bóng tối sẽ thúc đẩy quá trình tiến hoa để trở thành con nhộng trong khoảng vài ngày đến 2 tuần. Khi mới bắt đầu nên chọn 50 - 100 con sâu Superworm để biết chắc trong 50 - 100 con này sẽ có đủ sâu đực và sâu cái. Trong khoảng vài ngày đến 2 tuần, sâu vì bị bắt ép phải cuộn tròn trong tình trạng khó nhúch nhích, chúng sẽ trở thành con nhộng. Con nhộng trong thời gian 2 - 3 tuần sẽ không ăn gì mà sẽ từ từ biến dạng thành con bọ.

- Sau khi biến dạng thành con bọ (bọ sâu), khoảng 24 - 48 tiếng sau nữa chúng sẽ cứng cáp lúc này nên lấy chúng ra và bỏ vào thùng để mang ra ánh sáng (tuyệt đối không để ánh nắng rọi trực tiếp vào chúng, vì chúng sẽ chết trong khoảng nửa tiếng dưới ánh sáng chiếu trực tiếp), nơi chúng sẽ giao hợp và sinh sản.

- Bên trong thùng là một lớp cám cho gà con ăn khoảng 3 cm. Thùng này chỉ nên là thùng để nuôi dưỡng các bọ sâu, không nên để chung các bọ đen với đám sâu Superworm.

- Trong khoảng 2 tuần đầu bọ sâu sẽ không làm chi cả mà chỉ hút nước từ các miếng táo đã được lát mỏng. Bọ sâu sẽ không làm chi cả cho đến khi chúng uống đầy đủ nước, vì thế trong thời gian 2 tuần này nên thay táo hay khoai tây 2 - 3 ngày một lần.

- Sau khoảng 2 tuần, chúng sẽ bắt đầu tụ tập trên các vỉ đựng trứng gà đã được đặt sẵn cho chúng. Trên các vỉ trứng này, hay phía bên dưới, đám bọ đen sẽ giao hợp và đẻ trứng. Phần lớn chúng làm chuyện truyền giống về đêm. Trứng của chúng nhỏ li ti, khó thấy được nhưng hãy vững tin là trứng sâu nằm trên các vỉ trứng.

- Trứng sẽ nở ở nhiệt độ từ 22 - 27 độ C. Trong thời gian này, không nên đụng chạm, di chuyển bất kỳ vật gì trong thùng tuyệt đối không được tác động gì đến chúng.

- Cần chú ý không để nhiệt độ hạ thấp hơn mức 22 độ C trứng sẽ không nở.

- Mỗi một con bọ cái có thể đẻ được 500 - 800 trứng. Các con bọ đen, sẽ chết đi trong khoảng thời gian - 6 tuần tính từ lúc chúng biến từ nhộng thành bọ.

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

Thức ăn ương cá Lia Thia

Thức ăn ương cá Lia Thia


Thức ăn ương cá Lia Thia by Diễn Đàn | Thuc an uong ca lia thia

Đây dường như là một chủ đề muôn thuở mà hầu như người nuôi cá lia thia nào cũng quan tâm. Cá bột mới nở của lia thia và một số loài cá cảnh nước ngọt khác như cá killi, cá sặc... rất nhỏ, chúng có kích thước xấp xỉ 1 mm trong khi các loại thức ăn ngoài thị trường như bo bo hay kể cả ấu trùng artemia đều có những hạn chế về kích thước và môi trường.

- Ấu trùng bo bo có kích thước tương đương với cá lia thia bột. Mặc dù bo bo mới nở có kích thước chỉ bằng một nửa nhưng chúng lớn rất nhanh. Quan sát trong phòng thí nghiệm của các nhà khoa học phát hiện thấy số lượng bo bo có kích thước nhỏ dưới 0,5 mm là không đáng kể. Mặt khác khi xuất hiện với mật độ cao, chuyển động giật cục của bo bo ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cá dẫn đến số lượng của chúng bị sụt giảm.

- Ấu trùng artemia có kích thước thước khá nhỏ, khoảng 0,5 mm, nhưng chúng chỉ sống được khoảng vài giờ trong môi trường nước ngọt.

- Vì vậy trên thực tế, hai loại thức ăn nêu trên không thích hợp để nuôi cá lia thia bột. Bài viết này nhằm giới thiệu hai loại thức ăn đặc biệt nhỏ và thường được sử dụng để nuôi cá con mới nở rất hiệu quả: đó là trùng cỏ (infusoria) và trùn giấm (vinegar eel).

1. Trùng cỏ


- Trùng cỏ (infusoria) là những sinh vật nguyên sinh hiện diện ở hầu hết các vực nước như ao, hồ, sông và biển. Chúng có kích thước rất nhỏ và là thức ăn vô cùng quan trọng cho cá bột mới nở. Trong ngành chăn nuôi thủy hải sản ở các nước công nghiệp phát triển, người ta thường phân lập và nhân giống đại trà một số loại trùng cỏ như luấn trùng (rotifer) và trùng đế giày (paramecium). Những sinh vật này thuộc về một nhóm trùng cỏ quan trọng gọi là mao trùng (ciliates).

- Trùng cỏ có kích thước nhỏ nhất (khoảng dưới 200 micro mét) so với các nguồn thức ăn khác như bo bo, artemia và trùn giấm. Thực ra, bo bo và artemia mới nở cũng rất nhỏ nhưng chúng tăng trưởng rất nhanh và trở nên quá to để cá bột có thể ăn được. Như vậy, trùng cỏ là thức ăn thích hợp nhất đối với những loại cá bột có kích thước nhỏ chẳng hạn như cá lia thia, betta.

- Ngoài tự nhiên, trùng cỏ hiện diện và tập trung nhiều ở ven bờ ao hồ, kênh rạch, cống rãnh và ruộng lúa; chúng thâm nhập vào cả các hòn non bộ và chậu cảnh qua nguồn thực vật thủy sinh hay thức ăn mà chúng ta mang vào đó. Thức ăn của chúng là vi khuẩn, vi tảo và các loại mùn bã hữu cơ lơ lửng trong nước. Đấy là những nguồn "con giống" mà chúng ta có thể tận dụng để "ươm nuôi trùng cỏ tại gia".

- Có nhiều phương pháp ươm nuôi trùng cỏ, trong loạt bài viết về nguồn gốc của Plakat Thái tác giả Precha đã khuyên nên bỏ một ít rau muống ao vào chậu ép cá và để ở chỗ tối một thời gian, khi cá con ra đời thì nguồn thức ăn trùng cỏ đã sẵn sàng. Bạn sẽ tự hỏi là con giống trùng cỏ ở đâu mà có? Trùng cỏ luôn hiện diện trên bề mặt thực vật thủy sinh (ở đây là rau muống), khi thực vật bị phân hủy bởi vi khuẩn (hiện tượng thối rữa), lượng vi khuẩn sẽ bùng phát và là nguồn thức ăn dồi dào cho trùng cỏ. Trùng cỏ sinh sôi thật nhiều và đến lượt chúng trở thành nguồn thức ăn cho cá bột mới nở.

- Cách truyền thống ở Việt Nam là ngâm lá xà lách trong nước lấy ở ao hay kênh rạch, thậm chí ở cống rãnh trong khoảng một tuần rồi múc cho cá ăn. Trên thực tế, loại lá cây hay nước trái cây nào cũng được nhưng xà lách rất dễ thối rữa và như vậy quá trình ươm nuôi trùng cỏ được rút ngắn. Nếu bạn tham khảo thêm về các cách ươm nuôi trùng cỏ trên mạng thì sẽ thấy người ta sử dụng đủ loại thực phẩm làm thức ăn cho trùng cỏ chẳng hạn như nước trái cây, vỏ trái cây, đồ ăn thừa... tức bất cứ thứ gì có thể lên men nhanh chóng. Tóm lại, nguyên tắc ươm nuôi rất đơn giản: thức ăn (xà lách, rau muống,... ) --> thối rữa (vi khuẩn sinh sôi) --> trùng cỏ ăn vi khuẩn và sinh sôi --> cá bột ăn trùng cỏ. Ở xứ lạnh, trùng cỏ có thể khan hiếm và phải mua con giống nhưng ở xứ nhiệt đới như nước ta, trùng cỏ có mặt ở khắp mọi nơi và vào mọi thời điểm. Có nơi nào thiếu vắng ao, hồ, kênh rạch, cống rãnh và hòn non bộ.

2. Trùn giấm
Trùn giấm là loại giun tròn cực nhỏ (nematode) sống trong môi trường giấm ăn. Đây là thức ăn tuyệt vời cho cá bột bởi vì chúng có xu hướng bơi tung tăng khắp hồ nên kích thích cá bột đuổi theo để ăn và nhờ vậy mà vây của cá mau phát triển. Mặt khác loại thức ăn này hầu như không cần phải tốn công sức để chuẩn bị như với artemia hay bo bo. Điểm khó khăn duy nhất là làm sao thu hoạch được chúng. Có hai cách mà người ta thường sử dụng để thu trùn giấm:

a) Cách thứ 1
- Khi phát triển quá nhiều, trùn giấm có xu hướng tụ lại ở mép bình giấm. Chúng ngoe nguẩy liên tục và quấn với nhau thành mảng tạm gọi là bọt giấm. Chúng ta có thể sử dụng ống hút (loại có bán ở các tiệm thiết bị y tế) để hút một mảng bọt giấm và nhỏ vào bồn nuôi cá. Để tránh hút theo quá nhiều giấm, hãy điều chỉnh để đầu hút đụng vào mảng bọt giấm và nhả nhẹ núm cao su cho đến khi mảng bọt đi vào ống hút thì nhấc lên. Một mảng nhỏ sẽ không làm ảnh hưởng nhiều đến độ pH của bồn và cung cấp hàng ngàn con trùn giấm làm thức ăn cho cá con. Mảng giấm có khả năng bị chìm xuống đáy bồn vì vậy chúng ta nhỏ giọt giấm vào ống nghiệm chứa sẵn một ít nước hồ, lắc nhẹ vài phút để bọt giấm tan ra và nhỏ vào nhiều vị trí khác nhau trong hồ để dàn đều thức ăn cho bầy cá con.

- Người ta nhận thấy bình càng nhám thì bọt giấm càng nhiều nên trước khi nuôi giấm người ta dùng giấy nhám chà mặt trong của bình! Vật liệu dùng để nuôi giấm là táo tây xay vụn, bọt giấm thường xuất hiện sau khi bắt đầu nuôi một tuần. Nếu bạn cho đẻ nhiều lứa cá thì số lượng bình nuôi dấm cũng phải nhiều tương ứng.

b) Cách thứ 2


- Sử dụng một cái bình có cổ (bên trái là chai giấm ăn).



- Đổ dấm đầy gần đến cổ bình.


- Cho vào một miếng bông lọc (loại sử dụng để lọc cho hồ cá) nhưng đưòng đẩy bông quá sâu để nó khỏi lọt luôn xuống bình dấm. Đổ thêm một ít nước vào bình và để qua đêm (nên sử dụng nước cũ như nước hồ cá).


- Trùn giấm sẽ chui lên lớp nước phía bên trên để thở. Dùng ống hút lớp nước phía trên mặt bông đem đi nuôi cá bột.

- Lưu ý: Cách này thu hoạch hầu hết trùn giấm trong dung dịch vì vậy sau khi thu hoạch cần đổ giấm trở lại bồn cũ và nuôi tiếp trong vài tuần cho đến khi trùn sinh sôi trở lại.

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Đặc điểm sinh học của Luân Trùng Brachionus plicatilis

Đặc điểm sinh học của Luân Trùng Brachionus plicatilis

1. Vị trí phân loại và hình thái cấu tạo
- Theo Pechenik (2000), hệ thống phân loại của luân trùng như sau:
Ngành: Rotifera
Lớp: Monogononta
Bộ: Ploima
Họ: Brachionidae
Giống: Brachionus
Loài: Brachionus plicatilis (Muller)


- Luân trùng có kích thước từ 100 - 340µm, có dạng hình trứng dài, hơi dẹp theo hướng lưng bụng. Bờ bụng trước có 4 gai dạng u lồi giữa có khe hình chữ V. Luân trùng có cấu tạo gồm 3 phần: đầu, thân và chân
+ Ðầu mang vòng tiêm mao có chức năng bơi lội và thu gom thức ăn.
+ Thân luân trùng chứa nhiều dịch cơ thể và các cơ quan sau.

● Hệ tiêu hoá: Luân trùng thu thức ăn nhờ vòng tiêm mao sau đó vào trong miệng và đến hàm nghiền. Hàm nghiền này sẽ nghiền các hạt thức ăn bằng nhiều con đường khác nhau (cắt, nghiền..) rồi đi vào thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn.

● Hệ bài tiết: Luân trùng bài tiết chủ yếu là chất thải có nguồn gốc đạm (phần lớn là ammonia). Sự chuyển động của tiêm mao ở các tế bào ngọn lửa (flame cells) tạo nên dòng chảy nhỏ các chất lỏng bài tiết vào trong các túi và chảy vào bàng quang sau đó được bài tiết ra ngoài thường xuyên và đều đặn.

● Hệ sinh dục: Cơ quan sinh dục của con cái bao gồm 3 phần: buồng trứng, chất noãn hoàng và lớp nang. Ngay từ khi mới sinh ra, số lượng trứng đã có sẳn trong buồng trứng.
+ Chân: Chân luân trùng có cấu tạo hình nhẩn không có sự phân đốt, có thể co rút và cuối cùng là 1 hoặc 4 ngón chân. Sự chuyển tiếp giữa chân và thân là hậu môn. Đây là điểm nằm ở vị trí bên ngoài mặt lưng là nơi thải ra của ruột, bàng quang và vòi trứng.

- Dựa vào các đặc điểm hình thái khác nhau, người ta phân loại ra 2 dòng Brachionus là dòng nhỏ (dòng S ) và dòng lớn ( dòng L).

* Luân trùng dòng S là Brachionus rotundiformis, có chiều dài vỏ giáp từ 100 - 210 μm (trung bình là 160 μm). Trên vỏ giáp có gai nhọn, trọng lượng khô là 0,22μg.

* Luân trùng dòng L là Brachionus plicatilis, có chiều dài vỏ giáp từ 130-340 μm (trung bình là 239 μm). Trên vỏ giáp có các gai góc tù, trọng lượng khô là
Luân trùng dòng S và L sinh trưởng với tốc độ khác nhau, có khả năng chịu đựng nhiệt độ khác nhau và có nhiệt độ sinh trưởng tối ưu khác nhau (Fushuko, 1989).
Ngoài ra sự biến đổi về hình thái giữa các loài có thể xảy ra phụ thuộc vào độ mặn hoặc chế độ cho ăn.
+ Con đực nhỏ hơn con cái, không có cơ quan tiêu hóa và bóng hơi
+ Cơ thể có khoảng 1.000 tế bào nhưng sinh trưởng do nguyên sinh chất tăng lên

2. Vòng đời của Brachionus plicatilis


Luân trùng có tuổi thọ ngắn, trung bình 3,4 – 4,4 ngày ở điều kiện nhiệt độ 25 độ C. Chúng có thể đạt đến giai đoạn trưởng thành chỉ 0,5 – 1,5 ngày sau khi nở hay đẻ. Sau đó, con cái có thể đẻ liên tục, mỗi lần cách nhau khoảng 4 giờ. Suốt đời sống, con cái có thể tham gia đẻ 10 lứa. Tuy nhiên, khả năng sinh sản của con cái còn tùy thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường, đặc biệt là nhiệt độ.

2.1 Đặc điểm dinh dưỡng
Luân trùng B. plicatilis là loài ăn lọc không chọn lọc, thức ăn có kích thước 20 - 25 mm mang đến miệng nhờ sự chuyển động của vòng tiêm mao (Dhert, 1996) thông qua hoạt động bơi lội. Trong tự nhiên, các loại thức ăn thường được luân trùng sử dụng là tảo, vi khuẩn, nấm men, chất hữu cơ lơ lững trong nước.

2.2 Sinh trưởng và phát triển
- Luân trùng sinh trưởng và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ mặn, nhiệt độ, mật độ nuôi…

- Bằng phương pháp nuôi nhân tạo xác định được một số chỉ tiêu sinh trưỏng sau:
+ Thời gian phát triển phôi: thường kéo dài từ 11 - 21h.
+Thời gian thành thục: tính từ lúc còn non đến lúc trưởng thành sinh sản: kéo dài từ 22 - 38h .
+ Nhịp đẻ: thường dao động từ 6 - 10h.

-Số trứng mang tại một thời điểm: thường dao động từ 1 - 4 (8 chiếc).

-Số trứng mang trong vòng đời: dao động từ 11 - 17 (30 chiếc).

-Tuổi thọ: phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ. Ở nhiệt độ khoảng 25 độ C thời gian sống của cá thể luân trùng ước tính khoảng 3,4 - 4,4 ngày (Fukusho, 1989 trích bởi Cái Ngọc Bảo Anh, 1999). Thông thường cá thể mới nở trưởng thành sau 0,5 - 1,5 ngày và bắt đầu đẻ trứng khoảng 4 h/lần. Một cá thể cái có thể sinh sản khoảng 10 thế hệ trong suốt vòng đời.

2.3 Đặc điểm sinh sản


Luân trùng có 2 hình thức sinh sản: sinh sản vô tính (đơn tính) và sinh sản hữu tính.
- Sinh sản vô tính: con cái vô tính sẽ sinh ra trứng lưỡng bội (2n) và sẽ phát triển thành con cái vô tính. Con cái này sinh sản với tốc độ nhanh, nhịp sinh sản khoảng 4 giờ dưới điều kiện thuận lợi. Tốc độ sinh sản phụ thuộc vào điều kiện nuôi và tuổi của luân trùng. Đây là hình thức sinh sản nhanh nhất để tăng quần thể luân trùng và là hình thức quan trọng trong hệ thống nuôi luân trùng.

- Sinh sản hữu tính: Trong vòng đời của luân trùng, khi có sự biến động đột ngột của điều kiện môi trường như nhiệt độ nồng độ muối… luân trùng sẽ chuyển sang hình thức sinh sản hữu tính. Trong quá trình này xuất hiện cả con cái vô tính và con cái hữu tính, chúng đều có hình thái giống nhau, khó phân biệt tuy nhiên con cái hữu tính sẽ sinh ra trứng đơn bội (1n). Con cái hữu tính có 3 kiểu sinh sản:
Con non sinh ra từ những trứng đơn bội không thụ tinh sẽ phát triển thành con đực. Con đực có kích thước bằng 1/3 kích thước con cái. Chúng không có ống tiêu hoá và bàng quang nhưng có tinh hoàn đơn với nhiều tinh trùng thành thục.

* Trứng nghỉ: là trứng đơn bội đã thụ tinh. Trứng nghỉ có vách tế bào dày giúp nó chịu đựng qua điều kiện khắt nghiệt và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nở thành con cái vô tính

2.4 Giá trị dinh dưỡng và vai trò làm thức ăn của luân trùng
- Giá trị dinh dưỡng của các “vật mồi” được quyết định bởi khả năng thoả mãn của nhu cầu về dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển của các “đối tượng đích”. Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay luân trùng được nuôi rộng rãi để làm thức ăn cho hầu hết các loài cá biển. Mỗi dối tượng cá biến cần các loại thức ăn khác nhau, nhưng có thể khẳng định rằng “Luân trùng là thức ăn sống không thể thiếu cho giai đoạn bắt đầu ăn của ấu trùng cá biển” (Như Văn Cẩn, 1999).

- Giá trị của luân trùng trong công nghệ sản xuất giống cá biển được thể hiện ở các mặt sau:
+ Kích thước luân trùng phù hợp với kích cỡ miệng của ấu trùng cá biển mới nở .
+ Tốc độ bơi chậm, khả năng phân bố đều trong nước, màu sắc phù hợp nên luân + Luân trùng dễ nuôi do chịu được sự biến động lớn của môi trường.
+ Tốc độ sinh sản nhanh, vòng đời ngắn, khả năng nuôi với mật độ cao có thể cho sinh khối lớn, đáp ứng cho nhu cầu sản xuất.

- Và đặc biệt quan trọng là giá trị dinh dưỡng của luân trùng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho các đối tượng nuôi:

- Luân trùng là bọn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hoá và hấp thụ. Trong thành phần axit béo không no có chứa EPA, DHA,hai loại này được coi là axit béo thiêt yếu có tác động đến tỷ lệ sống và sự phát triển của cá biển (Sargent, 1989; Olsen và ctv, 1993; Kanazawa, 1993; Dhert và Sorgeloos, 1995 trích bởi Như Văn Cẩn, 1999). Mặc dù, khả năng tổng hợp HUFA n-3 của luân trùng rất kém, nhưng bù lại luân trùng lại dễ hấp thu và tích luỹ các loại axit này. Điều này rất có ý nghĩa khi ta áp dụng các biện pháp làm giàu luân trùng trước khi cho ấu trùng cá biển ăn, nhằm năng cao tỷ lệ sống, sức sinh trưởng của các đối tượng nuôi.

- Theo thống kê luân trùng sử dụng làm thức ăn cho 60 loài cá biển, 16 loài giáp xác.
Ví dụ: sử dụng làm thức ăn cho cá chẽm giai đoạn từ 1 – 15 ngày tuổi
sử dụng làm thức ăn cho cá mú giai đoạn từ 1 – 30 ngày tuổi
sử dụng làm thức ăn cho cá măng,c á bớp giai đoạn từ 5 – 20 ngày tuổi

2.5 Thức ăn
Luân trùng thuộc nhóm ăn lọc không chọn lọc nên việc có thể sử dụng nhiều loại thức ăn để nuôi chúng. Tuy nhiên, giá trị dinh dưỡng của thức ăn sẽ quyết định giá trị dinh dưỡng cũng như năng suất nuôi luân trùng. Do đó, việc chọn lựa nguồn thức ăn thích hợp để nuôi luân trùng sẽ quyết định đến năng suất và giá trị của luân trùng. Thức ăn sử dụng cho nuôi luân trùng chủ yếu là tảo, men bánh mì (yeast) và thức ăn nhân tạo.

a) Sử dụng tảo làm thức ăn cho luân trùng


- Theo James và ctv. (1983), cho luân trùng ăn bằng vi tảo sẽ tăng năng suất nuôi, trong đó luân trùng phát triển tốt khi sử dụng các loài tảo Chlorella, Nannochloropsis oculata, Isochrysis, Tetraselmis… Theo Nagata và Whyte (1992) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến sự phát triển của luân trùng, tác giả nhận thấy luân trùng khi sử dụng Chlorella sacchrophila có tốc độ sinh sản và đạt mật độ cao nhất, kế đến là Isochrysis, Tetraselmis suecica, men bánh mì Saccharomyces cereviciae và cuối cùng là Thalassiosira pseudonana. Điều này cũng phù hợp với nhận định của Liao và ctv (1983) thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của luân trùng là Chlorella nước mặn. Ngoài ra luân trùng nuôi với Chlorella nước mặn có giá trị dinh dưỡng cao do chứa nhiều HUFA đặc biệt là EPA (Fukusho, 1983). Theo Nyonje và Radull (1991) trong vùng nhiệt đới, Chlorella nước ngọt đã được sử dụng thành công trong việc nuôi luân trùng bằng cách thuần hoá trước khi cho ăn. Một trong những thuận lợi trong việc sử dụng Chlorella làm thức ăn cho luân trùng là do tảo này phát triển và phân cắt nhanh (chỉ sinh sản vô tính). Chlorella chứa hàm lượng protein 50%, lipid 20%, Carbohydrate 20%, Vitamin B1, B12, chất khoáng… Hơn nữa Chlorella còn sản sinh ra chất kháng sinh Chlorellin kháng lại một số vi khuẩn do đó hạn chế một số mầm bệnh (Sharma, 1998).

- Một số tảo có chứa hàm lượng các acid béo thiết yếu rất cao như acid eicosapentaenoic (EPA 20:5n-3) và docosahexaenoic acid (DHA 22:6n-3), cho nên chúng được xem là thức ăn tươi sống rất tốt bổ sung hàm lượng acid béo cho luân trùng. Khi luân trùng ăn tảo, nó sẽ thu nhận các acid béo thiết yếu này trong vài giờ và sau đó tiến tới cân bằng giữa tỉ lệ DHA/EPA . Ðối với tảo Isochrysis tỉ lệ này >2 và ở tảo Tetraselmis tỉ lệ này là 0,5.

- Tảo được dùng làm thức ăn cho luân trùng dưới nhiều dạng khác nhau, dạng tảo sống (tảo tươi), dạng tảo khô và tảo đông lạnh. Tảo tươi được coi là thức ăn tốt nhất cho luân trùng vì ngoài giá trị dinh dưỡng cao tảo còn có thể cải thiện chất lượng nước bằng cách giảm bớt những sản phẩm từ sự chuyển hoá của luân trùng (Orhun và ctv., 1991). Tuy nhiên, sử dụng tảo tươi làm thức ăn cho luân trùng sẽ rất đắc tiền nên người ta tìm cách hạ giá thành bằng cách sử dụng tảo sấy khô hay tảo đông lạnh. Snell và Rosen (1990) cho rằng tảo khô cho sản lượng luân trùng chỉ cao bằng 70% so với nuôi bằng tảo sống nhưng có thể thay thế từ 80-90% tảo sống bằng tảo khô mà sức sản xuất của luân trùng không giảm. Theo Lubzens và ctv (1995), luân trùng cho ăn bằng tảo Nanochloropsis sp. đông lạnh có tốc độ sinh trưởng bằng 81% so với cho ăn bằng tảo Nanochloropsis sp. tươi sống và thành phần acid béo trong luân trùng ăn tảo Nanochloropsis sp. đông lạnh và tảo tươi rất giống nhau.

b) Sử dụng men bánh mì làm thức ăn cho luân trùng


- Men bánh mì là những tế bào nấm men có kích thước 5-7 μm có hàm lượng protein cao (45-52%) và rẻ tiền được sử dụng làm thức ăn cho luân trùng. Tuy nhiên, nếu chỉ cho luân trùng ăn hoàn toàn bằng men bánh mì thì năng suất không ổn định và quần thể luân trùng mau tàn (Hirayama, 1987; Komis, 1992). Nguyên nhân chủ yếu là do khó quản lý chất lượng nước nuôi, men bánh mì khó tiêu cần trợ giúp thêm vi khuẩn tiêu hóa. Hơn nữa, bản thân men bánh mì có giá trị dinh dưỡng kém (chỉ giàu protein, thiếu các thành phần khác). Mặt khác, luân trùng chỉ ăn men bánh mì có tốc độ sinh trưởng và sinh sản thấp, điều này dẫn đến phải kéo dài chu kỳ nuôi mới đạt được mật độ mong muốn. Cho ăn bằng men tươi thì tốt hơn men khô nhưng khó quản lý chất lượng nước và sự phát triển của vi khuẩn trong hệ thống nuôi. Khi cho ăn bằng men bánh mì rất khó giải quyết việc dư thừa thức ăn, điều này dễ nhận biết do thành bể nuôi có độ nhớt cao, nước có mùi hôi và thức ăn dư đóng thành cục trôi nổi trong nước (Hoff và Snell, 2004).

- Theo Hirayama và ctv. (1973) tốc độ sinh sản của luân trùng được cho ăn men bánh mì và tảo Nanochloropsis với tỉ lệ 1:1 thì tương đương với luân trùng được cho ăn đơn thuần loại tảo này. Vì vậy khi nuôi luân trùng bằng men bánh mì cần kết hợp với cho ăn tảo Nanochloropsis với một tỉ lệ nhất định trong khẩu phần ăn nhằm nâng cao chất lượng luân trùng. Luân trùng chỉ được cho ăn bằng men bánh mì có chất lượng kém không thể dùng nuôi phần lớn ấu trùng cá biển (Watanabe và ctv, 1983). Vì vậy, luân trùng cho ăn bằng men bánh mì cần được giàu hóa bằng tảo sống hoặc giàu hóa bằng nhũ tương với acid béo omega-3 trước khi cho ấu trùng cá ăn. Ngoài ra, có thể nâng cao chất lượng của men bánh mì bằng cách bổ sung các vitamin (Hirayama và Satuito, 1991) và các acid béo như dầu cá hoặc lecithin từ lòng đỏ trứng trực tiếp vào men bánh mì hoặc bổ sung vào bể nuôi luân trùng. Theo Watanabe và ctv (1983), bổ sung 15% dầu gan mực vào men bánh mì để nâng cao hàm lượng acid béo thiết yếu (n-3) cho luân trùng. Theo Scott (1981), Hoff và Wilcox (1996) nhu cầu dinh dưỡng của luân trùng đòi hỏi phải có vitamin B12. Khi nuôi luân trùng theo mẻ có bổ sung 1,4 g vitamin B12 làm tăng 70% tốc độ sinh sản của luân trùng. Tương tự, nếu bổ sung 3 μg vitamin A, 0,5 μg vitamin E hoặc 0,4 μg vitamin C cho 1ml nước có thể làm tăng tốc độ sinh sản và sức sinh

c) Thức ăn nhân tạo cho luân trùng
Hiện có nhiều loại thức ăn nhân tạo đặc chế cho luân trùng được bán trên thị trường. Các thức ăn này có thành phần chủ yếu là men bánh bì được bổ sung dinh dưỡng như các amino acid và các acid béo thiết yếu, các vitamin và khoáng, nhằm cân bằng dinh dưỡng và nâng cao sinh trưởng của luân trùng. Các thành phần bổ sung trong thức ăn nhân tạo này đều nhằm mục đích là nâng cao hoạt tính của men (Hoff và Snell, 2004).

Đặc điểm sinh học của Luân Trùng Brachionus plicatilis, Nguồn: Đại học Cần Thơ.

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

Kỹ thuật gây màu nước trước khi nuôi Tôm

Kỹ thuật gây màu nước trước khi nuôi tôm


Trong nuôi tôm, màu nước nuôi rất quan trọng. Có màu nước lợi cho tôm và cũng có màu nước lại gây hại cho tôm. Vì vậy người nuôi tôm cần nắm vững quy luật thay đổi màu nước. Bản chất của màu nước được định lượng bằng hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ chứa trong nước.


1. Thành phần, tính chất của nước
a) Chất vô cơ
Các hợp chất vô cơ bao gồm chất không hòa tan và hòa tan. Nếu nước ao nuôi đủ chất lượng thì hàm lượng các chất vô cơ không hòa tan (cát, bùn) không được quá 80mg/lít, nếu quá cao tôm sẽ chết vì ngạt thở do bị bít mang. Còn các chất vô cơ hòa tan thường do phèn sắt (màu đỏ gạch) trong đó sắt có hóa trị 1, 2, 3 rất có hại cho tôm. Khi mực nước ngoài cao hơn mực nước ao nuôi thì đáy ao có thể lỏng, dạng rỉ sắt màu đỏ làm nước ao tôm có màu gạch đỏ, trên mặt ao xuất hiện ván.

b) Chất hữu cơ
- Các chất hữu cơ bao gồm các sinh vật phù du, thực vật đáy, động vật nguyên sinh. Các phiêu sinh thực vật (sinh vật phù du) và phiêu sinh động vật là nguồn thức ăn tự nhiên của tôm, giúp tôm tăng trưởng nhanh.

- Việc tạo màu nước thông qua sử dụng các loại phân hữu cơ và vô cơ là tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, nhất là ở giai đoạn đầu khi tôm còn nhỏ. Muốn nuôi tôm, trước đó phải nuôi màu nước, để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

2. Kỹ thuật gây nuôi nước
- Bón phân vô cơ (urê hoặc DAP): bón ngày thứ nhất 2,2kg/1.000m2; từ ngày thứ 2-21, mỗi ngày bón 0,65kg/1.000m2; từ ngày thứ 22-30, bón 0,95kg/1.000m2.
- Bón phân hữu cơ: dùng cám sống, bón từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 21; bón 1-1,2kg/1.000m2/ngày; từ ngày 22-30 bón 1,3kg/1.000m2/ngày.
- Các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân gà, thường dễ mang theo vi khuẩn gây bệnh. Còn các loại phân DAP, urê, tuy tạo nguồn thức ăn cho sinh vật phù du rất tốt, nhưng tàn lụi rất nhanh. Hai loại phân hữu cơ và vô cơ tuy có giúp phát triển sinh vật phù du song màu nước rất dễ lên và xuống. Các loại sinh vật phù du do các loại phân này tạo điều kiện phát triển chỉ đạt yêu cầu về định lượng, mà không đạt về định tính. Nó tùy thuộc vào loại tảo sẵn có trong ao, chứ không định hướng được loại tảo nào cần ưu tiên phát triển, loại tảo nào cần hạn chế. Việc sử dụng chế phẩm sinh học như E.M.P để nuôi các phiêu sinh là đặc dụng nhất, vì nó chủ động đưa vào nước ao nuôi một hệ vi sinh vật có lợi, nhằm giúp các loại tảo có ích phát triển và hạn chế các loại tảo có hại.

- Các chế phẩm sinh học vừa đáp ứng được yêu cầu trên, vừa làm cho nước ao nuôi "béo lên", vừa làm sạch nước, giảm BOD, COD, phòng bệnh và kích thích tôm sinh trưởng. Nếu ao nuôi khó gây màu nước, có thể do nước ao thiếu nguồn tảo cần thiết, nên lấy nước ở ao "béo" khác (có màu nước tốt) làm nguồn giống cho vào các ao này, rồi sử dụng chế phẩm sinh học để thúc đẩy các sinh vật phù du hữu ích phát triển.

- Khi màu nước ao nuôi đã đạt yêu cầu (vàng nâu hoặc nâu lục), độ trong đạt 25-40cm thì thả tôm giống. Sau khi thả tôm giống, do năng lực bơi và bắt mồi của tôm còn yếu, trong 20-30 ngày đầu (tôm con chủ yếu ăn các phiêu sinh vật) nên tạo màu nước tốt lúc đầu là biện pháp kỹ thuật quan trọng, để nâng cao tỉ lệ tôm sống, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt ở giai đoạn giữa và giai đoạn cuối.

- Chú ý, khoảng 7-10 ngày sau khi thả, tôm đã bắt mồi nên các phiêu sinh trong ao nuôi có thể cạn dần, vì thế cần tiếp tục bón tiếp chế phẩm sinh học để ổn định màu nước, đảm bảo tôm con không bị gián đoạn nguồn thức ăn tự nhiên.
- Giai đoạn đầu thực hiện 7-10 ngày "bón thúc" chế phẩm sinh học một lần, cho đến khi tôm đạt yêu cầu để chuyển sang giai đoạn giữa và cuối.

- Ao có màu nước tốt nghĩa là các loại phiêu sinh vật trong ao phát triển tốt, tôm nuôi trong vòng 20-30 ngày đầu không cần cho ăn thêm thức ăn công nghiệp. Trong trường hợp mật độ 50 con/m2, nguồn thức ăn tự nhiên có thể không đủ, cần cho thêm lượng thức ăn công nghiệp thích hợp dành cho tôm giống và đó cũng là cách gián tiếp tạo màu nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

- Giai đoạn đầu không được cho tôm ăn thức ăn tươi sống như cá, nhuyễn thể, trứng nghiền, vì tôm con chưa ăn được mà còn tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh, có hại phát triển, vô tình phá vỡ cơ cấu sinh thái nước ao.


Kỹ thuật gây màu nước trước khi nuôi tôm, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Kỹ thuật nuôi Artemia

Kỹ thuật nuôi Artemia

Artemia là loài giáp xác nhỏ chỉ sống ở nước lợ mặn và chỉ sinh sản trứng ở nước có độ mặn cao, vì vậy mà chỉ có ở ruộng muôi mới đủ tiêu chuẩn về độ mặn cho artemia đẻ trứng. Artemia sẽ đẽ con nếu độ mặn thấp dưới 120 phần nghìn.



III. KỸ THUẬT NUÔI ARTEMIA TRÊN RUỘNG MUỐI

1. Thời vụ sản xuất Artemia?

Trùng hợp với thời vụ sản xuất muối khác nhau ở từng địa phương, chẳng hạng ở khu vực Vĩnh châu Bạc liêu mùa vụ sản xuất Artemia bắt đầu từ cuối tháng 11 và kết thúc vào đầu tháng 6 dương lịch hàng năm, trong khi quá trình này kéo dài từ đầu tháng 1 và kết thúc vào cuối tháng 8 ở khu vực Cam ranh.

Tuy nhiên, mùa vụ có thể kéo dài nếu nước mặn được chuẩn bị sớm và độ mặn trong ao được duy trì ở các tháng đầu của mùa mưa.

2. Xây dựng ao nuôi Artemia:

- Chọn điểm: Ngoài các yêu cầu về kỹ thuật trong lựa chọn địa điểm cấy thả, trước khi xây dựng kế hoạch cần lưu ý các điểm sau:

+ gần nguồn nước biển (khắc phục tình trạng thiếu nước nhất là trong mùa khô)
+ thuận lợi trong giao thông (để vận chuyển nguyên liệu, phân bón...)
+ an ninh (tránh trộm cắp, mất mát)

- Diện tích: Để dể quản lý, diện tích ao nuôi khoảng 0.5 đến 1 ha là thích hợp nhất. Ao thường có dạng hình chử nhật với chiều dài gấp 3 đến 4 lần chiều rộng.

- Hướng ao: Trục dài hoặc đường chéo của ao nằm xuôi theo hướng gió chính của địa bàn, để giúp cho việc thu trứng sau này được thuận lợi, vì trứng nổi trên mặt nước sẻ được gió thổi tấp vào bờ cuối gió.

- Kỹ thuật xây dựng công trình: Ao nuôi thường được xây dựng theo hai dạng: riêng rẽ họăc trong cùng một hệ thống, ở ao riêng rẽ thường tốn kém hơn vì bờ ao cần được xây dựng chắc chắn và có hệ thống cấp tháo nước riêng biệt, ở hệ thống kết hợp chỉ cần chú ý tu sửa đê bao của toàn hệ thống còn kênh cấp tháo thì được phân bổ chung cho các ao nên giảm được chi phí.

Các chỉ tiêu cần lưu ý trong xây dựng:


Lưu ý: ở những nơi đất mới khai thác, hoặc dể thẩm lậu, bờ ao cần được xây dựng gia cố chắc chắn (đầm nén, tô láng bờ...)

- Công trình phụ: Để đáp ứng cho yêu cầu quản lý, ao nuôi cần được lắp đặt các công trình phụ sau:

+ lưới lọc cá: Dùng lưới nylon (cở mắc lưới từ 1-1.5 mm) để làm khung lọc nước hoặc may theo dạng vèo để hứng nguồn nước cấp vào ao.
+ đập tràn: đập đất hoặc phai gổ lắp ở cống cho phép lớp nước nhạt tầng mặt (mùa mưa) được tháo bỏ nhằm duy trì độ mặn cho ao nuôi.
+ nơi bón phân: được bố trí ngay nguồn nước cấp vào ao nuôi, thường được rào lại bằng tre hoặc lá dừa nước để tránh phân bị trôi dạt.
+ rào phá sóng: được lắp đặt ở bờ cuối gió bằng các vật liệu rẻ tiền (tre, lá dừa nước...), nhằm phá sóng để trứng dể tập trung nơi thu hoạch.
+ vách ngăn trứng: thường dùng nylon để lót bờ nơi thu hoạch nhằm tránh trứng thất thoát vào bờ đất, tuy nhiên cách này khá đắt tiền nên người dân thường dùng bùn nhão để tô láng góc bờ chỗ thu hoạch.

3. Quá trình thu gom nước mặn (đi nước) để thả Artemia

Nước mặn được chuẩn bị theo kỹ thuật làm muối, theo nguyên tắc bốc hơi nước biển để tăng độ mặn, để rút ngắn thời gian này nhiều biện pháp đã được sữ dụng như: nuôi nước mỏng, bừa trục, sang ao... để có đủ lượng nước và độ mặn theo yêu cầu, thường phải mất từ 2 đến 3 tuần ở khu vực Vĩnh châu Bạc liêu.

4. Các yêu cầu tối thiểu cho ao trước khi xuống giống

- Lượng nước và độ mặn: Lúc đầu vụ do nhiệt độ môi trường còn thấp, chỉ cần mực nước ngập trảng (đáy ao) vài phân (một đến hai lóng tai) là có thể xuống giống, tuy nhiên cũng cần tính toán sao cho lúc cá thể đạt cở trưởng thành mực nước phải đủ sâu để Artemia lẩn tránh sự săn bắt của chim.

Mặc dù Artemia có thể sống ở độ muối thấp, ta không nên cấy thả Artemia ở độ muối dưới 80 phần ngàn (8 chữ), vì lúc này còn hiện diện rất nhiều: Fabrea, copepod, tảo độc...hoặc tôm cá dữ làm hạn chế tăng trưởng hoặc tiêu diệt hoàn toàn số Artemia mới thả.

- Phòng ngừa địch hại: Địch hại thường gặp và cách phòng ngừa

Địch hại
Cách phòng ngừa

+ Ao chưa thả giống

.Cá các loại
Rút cạn nước ao, dùng vôi hoặc thuốc cá

.Lab-lab, rong tạp các loại
Dọn ao, bừa trục, phơi nền đáy

+ Ao đã xuống giống

.Fabrea,copepod, tảo độc
Cấp nước có độ muối cao hơn 80ppt

Cá các loại
Dùng lưới chài để giăng bắt hoặc sang ao để gạn cá tạp

Lab-lab, rong tạp các loại
Bừa trục, dọn đáy ao thường xuyên nếu cần thì tháo cạn cải tạo lại
Chim
Dùng lưới gió, bù nhìn, pháo hoặc có người canh giữ trực tiếp

Chuẩn bị thức ăn cho ao nuôi Artemia:

Bước này chỉ cần thiết cho những ao nghèo tảo thức ăn (nước ao không màu hoặc màu nhạt), để gây màu thường dùng các loại phân vô cơ (urea, lân...) hoặc hữu cơ (phân heo, phân gà, phân bò, phân dê, phân cút...) với liều lượng

+ Phân hữu cơ: 500 đến 1000 kg/ha
+ Phân vô cơ : 50 đến 100 kg/ha

5. Thả giống

- Kỹ thuật ấp nở :

+ Dụng cụ: cân, xô, chậu, lưới lọc, ống dẫn khí, đá bọt, máy thổi khí, đèn huỳnh quang...
+ Điều kiện ấp nở:

  • ánh sáng: thắp đèn huỳnh quang cách mặt nước bể ấp khoảng 2 tấc
  • nhiệt độ: 25-30 độ C
  • độ muối : nước biển 35 ppt (ba chữ rưỡi) được dùng để ấp trứng
  • pH: 8.1 đến 8.3
  • mật độ ấp: không nên nhiều hơn 5g trứng cho mỗi lít nước

+ Thao tác: Nước được lọc sạch trước khi cho vào bể ấp; cân trứng theo đúng mật độ qui định cho vào bể ấp, kết hợp sục khí để đảo trộn nhằm thúc đẩy quá trình hút nước của trứng để kích thích sự phát triển phôi. Sau 20 đến 24 giờ trứng nở tập trung, sẳn sàng cho việc cấy giống.

Những điểm cần lưu ý trong thao tác thả giống:

+ Cở giống thả: Cấy thả bằng giống mới nở (Naupli): hình thức này rất phổ biến, đặc biệt ở những nơi mới bắt đầu thử nghiệm nuôi Artemia. Cấy giống cở nhỏ (Naupli giai đoạn I) có trở ngại là rất khó quan sát cá thể ở những ngày đầu, nhưng chúng có thể chịu đựng sự sai khác lớn về nhiệt độ và độ muối giữa nơi ấp nở và nơi cấy thả; do đó nếu kéo dài thời gian ấp nở ấu thể sẻ phát triển đến giai đoạn lớn hơn (Naupli giai đoạn II; tuỳ điều kiện nhiệt độ trong bể ấp, thường thời gian để chuyển từ Naupli giai đoạn I sang giai đoạn II mất khoảng 5 đến 8 giờ), khả năng trên sẻ giãm đi làm gia tăng tỉ lệ tử vong lúc cấy thả.

Cấy thả bằng giống lớn: khi cấy thả theo phương pháp này cần lưu ý là phải thuần hoá giống thả (cho một phần nước ao định thả vào thùng giống vừa chuyển đến) để chúng thích nghi dần với nhiệt độ và độ muối trước khi cấy thả vào ao.

+ Thời gian thả thích hợp: Thích hợp nhất là thời gian lúc sáng sớm (6 đến 7 giờ) hoặc chiều tối (17 đến 19 giờ), điều này cần nắm để tính toán kế hoạch ấp nở cho hợp lý.

+ Mật độ thả: Thường mật độ thả ở ao đất được đề nghị là 50 cá thể cho mỗi lít, tuy nhiên theo quan sát thực tế nếu ao nuôi được cấy thả ở mật độ lớn hơn 100 cá thể trên lít thì sau 2 tuần ao nuôi bắt đầu cho trứng, trong khi ở ao có mật độ thưa, quần thể phải trải qua giai đoạn tăng gia mật độ trước khi tham gia cho trứng.

+ Vận chuyển giống: Nếu nơi cấy thả khá xa (thời gian vận chuyển từ một giờ trở lên) nơi ấp nở hoặc ao cung cấp giống, giống nở cần được xan thưa, đóng oxy và hạ nhiệt độ của môi trường vận chuyển để giãm thấp tỉ lệ hao hụt.

+ Nơi thả giống: Thích hợp nhất là bờ ao phía trên hướng gió, hoặc đầu nguồn nước cấp nhằm đãm bảo cho giống được phân bố đều trong ao.

+ Nơi thu mẫu để đánh giá: Đối với giống lớn thì dể dàng quan sát sự tồn tại của chúng trong ao vừa cấy thả, ngược lại nếu cấy giống ấp nở thì rất khó phát hiện chúng trong hai ba ngày đầu; tuy nhiên chúng có tập tính phân bố ở nơi trên hướng gió, hoặc góc bờ. Dùng vợt bằng lưới mịn để thu và quan sát mẫu.

+ Quan sát mẫu: Ấu thể Artemia có màu trắng sữa hoặc trắng hồng, chúng bơi lội theo đường zig-zăg nhưng đường di chuyển ngắn hơn của Copepod, có tập tính hướng quang dương (tập trung nơi có nhiều ánh sáng).

+ Những dấu hiệu xấu cho ao nuôi: Với sự xuất hiện riêng lẻ hoặc kết hợp của các yếu tố sau đây: fabrea, copepod, cá dữ, lab-lab, độ trong thấp, nhiệt độ cao, chim xuất hiện...các biện pháp khắc phục như đã nêu trên.
6. Những biện pháp chính trong quản lý ao nuôi:

+ Cấp - tháo nước: Nhằm bù đắp sự thất thoát cột nước do thẩm lậu hoặc bốc hơi, mặt khác để cung cấp tảo thức ăn (nước xanh), lượng nước cấp vào ao phải thoả mãn việc duy trì độ muối (90 đến 120 phần ngàn) và độ đục (25 đến 35 cm) trong phạm vi tối hảo.

Tương tự, để đãm bảo chất lượng nước trong ao, thường thì sau một tháng rưỡi đến hai tháng tính từ lúc xuống giống, nên tiến hành thay từ 30% đến 50% lượng nước trong ao.

+ Bón phân - cho ăn:

Bón phân (phân ga)ì 500 đến 1000 kg/ha/tháng
Uréa 50 đến 100 kg/ha/tháng

Phân gà (hữu cơ) được bón trực tiếp vào ao Artemia (chúng lọc các chất dinh dưỡng hoặc vi khuẩn có trong phân) hoặc ao bón phân để kích thích tảo phát triển trước khi đưa vào ao nuôi; đối với Uréa (vô cơ) chỉ nên bón ở ao bón phân. Để đơn giản trong việc đánh giá cơ ở thức ăn tự nhiên của ao bón phân và ao nuôi, ngoài độ đục cần thiết như đã nêu trên, thang màu đề nghị dưới đây dùng để đánh giá thành phần tảo trong ao:


--------------------------------------------------------------------------------

Màu nước
Thành phần tảo

Vàng nâu
Khuê tảo (Diatom) thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao cho Artemia

Xanh lá cây nhạt
Tảo lục (Chlorophyta) đặc biệt là Chlamydomonas, không tốt cho Artemia

Xanh lá cây đậm
Tảo lam (Cyanophyta), nhiều độc tố lại kích thước lớn nên Artemia không thể sử dụng được

--------------------------------------------------------------------------------

.Cho ăn: thỉnh thoảng cám gạo được bổ xung (từ 10 đến 20 kg/ha/ngày) khi ao nuôi thiếu thức ăn, tuy nhiên hiệu quả sử dụng cám gạo của Artemia rất thấp (từ 10 đến 20%), nên phần lớn cám gạo kết lắng xuống đáy gây ô nhiễm môi trường (có thể khắc phục bằng cách sàng lọc kỹ trước khi đưa xuống ao), vì giá đắt nên việc dùng cám gạo không kinh tế lắm.

+ Chế độ bừa trục: Vừa có tác dụng đão trộn phân bón trong ao, vừa có tác dụng diệt các mầm rong đáy (lab-lab), khi độ đục thích hợp có thể giãm chế độ bừa trục để hạ giá thành trong chi phí sản xuất.

+ Gia cố công trình: Hàng ngày bên cạnh các hoạt động nêu trên, trong quản lý ao cần phải thường xuyên chăm sóc bờ bọng tránh rò gỉ thẩm lậu, kiểm tra lưới lọc để tránh sự xâm nhập của cá dữ...

7. Thu Hoạch và sơ chế sản phẩm

Tuỳ theo yêu cầu mà sản phẩm thu hoạch từ ao Artemia có thể là trứng bào xác hoặc sinh khối.

+ Trứng bào xác (cyst): Tuỳ theo cách quản lý ao và tình hình phát triển của quần thể, thường sau 2 tuần hoặc hơn tính từ lúc xuống giống, con cái bắt đầu mang trứng: trứng trắng (đẻ con), hoặc trứng nâu (trứng bào xác). Sau vài ngày ở ao có con cái mang trứng bào xác, ta có thể quan sát trứng nổi trên mặt của góc ao cuối gió có màu vàng sậm đến vàng nâu.

Dùng vợt lưới mịn hoặc ca để vớt trứng, do trứng có lẩn rác bẩn nên cần tách trứng bằng các lưới có các cở khác nhau:

- Lưới I: 1000 um (1mm)
- Lưới II: 400 um (0.4mm)
- Lưới III: 100 - 150 um (0.1-0.15mm)

Sau đó rữa sạch lại nhiều lần bằng nước trong ao, đoạn ngâm trứng trong nước muối bảo hoà (300 ppt = 25 đến 30 chữ), hàng ngày nên đảo trộn trứng và rút bỏ cặn dưới đáy vật chứa. Định kỳ hàng tuần nên chuyển trứng cho sấy khô và bảo quản.

+ Sinh khối (biomass): Được dùng làm thức ăn phổ biến trong các trại giống và trại ương tôm cá. Để duy trì quần thể Artemia, một phần sinh khối trong ao nuôi được thu hoạch theo định kỳ (hàng tuần hoặc hàng tháng).

Sinh khối được thu bằng cách kéo lưới trực tiếp trong ao nuôi hoặc tháo một phần nước trong ao nuôi và dùng lưới để chặn sinh khối lại.

Trong sử dụng có thể dùng sinh khối tươi trực tiếp hoặc chế biến hay đông lạnh để dùng dần về sau.

8. Một số hiện tượng thường gặp trong ao nuôi và cách phòng ngừa:

+ Địch hại: cá, tôm, copepoda, chim (xem thêm phần địch hại trong phần chuẩn bị ao)
+ Một số hiện tượng khác:
  • Đốm đen (Leucotrix / black spots)
  • Đốm trắng
  • Đuôi dài ("thả diều" = long tail pellet)
  • Chậm lớn: Môi trường sống không thích hợp (thiếu thức ăn, nhiệt độ, độ muối không phù hợp...)
  • Không tham gia sinh sản (không đẻ hoặc túi ấp rổng): Thiếu ăn không đủ năng lượng cho tái phát dục hoặc để phóng trứng.
  • Chết hàng loạt do chênh lệch độ muối hoặc nhiệt độ: Hiện tượng này dể thấy, đặc biệt khi cấy thả sinh khối cở lớn vào ao mới.
  • Hiện tượng co cụm (boiling effect): Quần thể khoẻ mạnh, đặc biệt là những ngày nắng nhiều.
  • Nổi đầu vào sáng sớm: Khi ao bẩn, hoặc tảo phát triển dày đặc và ngày hôm trước có mây hậu quả làm thiếu oxy về đêm nên Artemia nổi đầu vào sáng sớm hôm sau.
Kỹ thuật nuôi Artemia by kythuatnuoitrong.com st