Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thủy sản nước ngọt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thủy sản nước ngọt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Kỹ thuật ương cá Sặc Rằn

Kỹ thuật ương cá Sặc Rằn


Kỹ thuật ương cá sặc rằn by KNKG | Ky thuat uong ca sac ran

1. Điều kiện ao ương 
- Nguồn nước: phải dồi dào, có điều kiện cấp thoát nước cho ao khi cần thiết. Ao không bị khô cạn hoặc ngập úng. Nước phải có chất lượng tốt không bị phèn (pH = 7 là tốt nhất, không nên sử dụng ao có pH nhỏ hơn 6). Nước không bị nhiễm bẩn, không bị nhiễm độc (chủ yếu độc do thuốc trừ sâu).

- Diện tích: tùy thuộc qui mô sản xuất, điều kiện sẵn có và khả năng từng gia đình. Có thể tận dụng các kênh mương sẵn có để ương cá. Tuy nhiên, không nên sử dụng những kênh mương quá dài để tiện cho việc chăm sóc quản lý. Nếu kênh quá dài thì có thể chặn ngăn thành từng đoạn ngắn.

- Với phạm vi gia đình và tình hình hiện nay ở khu vực, ao ương cá sặc rằn nên có diện tích vài trăm m2 là thích hợp. Tùy theo yêu cầu lượng cá giống thả mà có thể có ít hay nhiều ao.

- Độ sâu: độ sâu ao dùng ương nuôi cá sặc rằn có thể biến động, nhưng để tiện cho chăm sóc quản lý và hoạt động của cá con, ao có độ sâu 0,8 – 1 m là thích hợp nhất.

- Chất đáy: không sử dụng ao đất phèn để ương cá, đáy ao là bùn hoặc bùn pha cát là tốt nhất. Độ dày bùn đáy ao thích hợp cho ương cá sặc rằn là 20 – 25 cm, không nên dùng ao có đáy quá trơ ít bùn (thường là ao mới đào) hoặc ao có đáy bùn quá dày (thường là ao lâu ngày không sên vét).

- Trường hợp dùng ao có đáy bùn dày thì trước khi thả cá nuôi, ao cần được tát cạn, sên vét bớt bùn đáy, chỉ để lại 20 – 25 cm.

- Điều kiện ánh sáng: Ao ương cá con cần đủ ánh sáng mặt trời. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng. Nếu sử dụng những ao thiếu ánh sáng thì kết quả ương nuôi cá sẽ thấp, ít khi thành công. Vì vậy, không nên để bóng cây che trên mặt ao.

2. Chuẩn bị ao 
- Tát cạn ao.

- Bón vôi: thường dùng là vôi bột, bón 10 kg/100 m2 ao. Những ao hơi bị phèn thì bón tăng hơn có thể tới 15 kg/100 m2 .

- Tu sửa bờ, lấp lỗ mọi, chống ngập úng, chống rò rỉ, mất nước, chống cá khác (đặc biệt là cá lóc) vào ao.

- Phơi đáy ao: nếu gặp trời nắng mà phơi được đáy ao vài ngày thì tốt nhất. Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.

- Bón phân: có thể dùng phân gà, phân heo, hoặc phân xanh (các loại lá xanh, tốt nhất là lá điên điển) để bón lót cho ao từ 15 – 20 kg/100 m2 ao.

- Lấy nước cho ao: nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để tránh tép, cá khác vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết từ 0,8 – 1 m.

- Diệt trừ địch hại trước khi thả cá, nhất là trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trứng ếch nhái cần có sự kiên trì, tỉ mỉ, vào mỗi buổi sáng đi quanh ao vớt bỏ trứng ếch nhái. Để diệt bọ gạo, sử dụng dầu lửa 1 lít/100 m2 ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống ao được một ngày thì có thể thả cá bột.

3. Thả cá bột xuống ao 
 - Tuổi cá thả nuôi: sau khi cá nở 2 - 3 ngày (tức là khi thấy cá bơi lội nhanh nhẹn) thì đem thả xuống ao. Tính từ lúc chích cho cá đẻ thì khoảng 4 ngày sau khi chích. Vấn đề này liên quan đến thời gian chuẩn bị ao.

- Thời gian thả cá: thích hợp nhất là từ 8 – 9 giờ sáng và những lúc trời không có mưa lớn. Tránh thả cá vào những khi nhiệt độ nước quá cao.

- Mật độ thả : 400 – 500 con/m2 là thích hợp.
4. Cho ăn chăm sóc 
- Sau khi bón phân lần đầu tiên (bón lót) lúc ao còn cạn nước, thì sau 1 tuần lấy nước vào ao, cần bón thêm một lần phân. Lần thứ hai này chỉ bón 10 kg/100 m2 tức là chỉ bằng 1/2 lần đầu.

- Cho ăn: sau khi thả cá bột xuống ao, tiến hành cho ăn ngay:
+ Trong tuần lễ đầu tiên: mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 2 lòng đỏ trứng gà (vịt) luộc + 0,5 kg bột đậu nành.
+ Tuần lễ thứ 2: mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 1 kg cám mịn + 0,5 kg bột cá/100 m 2 ao.
+ Từ tuần lễ thứ 3: tùy theo mức độ ăn của cá mà tăng thêm lượng thức ăn cho phù hợp. Thông thường mỗi ngày khoảng 3 kg (bột cá + cám) cho 100 m2 ao là phù hợp.

- Quản lý cá: thường xuyên quan sát ao cá, tránh bị mọi, tràn bờ, kịp thời phát hiện địch hại (ếch nhái, rắn,…) để diệt trừ. Đồng thời quan sát hoạt động của cá (ăn mạnh hay yếu, có bị thiếu oxy hay không,…) để xử lý kịp thời.

- Giảm mật độ cá: sau khi ương cá sặc rằn khoảng 1 tháng, cá đã lớn, ao không còn đủ sức chứa hết lượng cá con. Cần phải san thưa sang ao khác để giảm mật độ. Thông thường từ 1 ao ban đầu cần thêm 1 ao nữa để đưa cá bột qua nuôi. Có như vậy thì cá mới tiếp tục lớn và khoẻ mạnh. Ao thứ hai dùng để san cá qua, cũng cần được chuẩn bị như ao lần đầu tiên để thả cá bột (tát cạn bón vôi).

5. Luyện cá trước khi xuất ao 
Trước khi đưa cá xuất bán ra khỏi ao, cần được luyện trước 1 tuần bằng cách hàng ngày lội xuống ao xua đuổi cá, mỗi ngày 1 lần trong 1 tuần.

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Thông tin về cá Chép V1

Thông tin về cá Chép V1


Thông tin về cá Chép V1 by Sưu tầm | Thong tin ve ca chep v1

1. Nguồn gốc, phân bố 
Cá chép chọn giống V1 là thế hệ chọn lọc thứ 6 của những cá lai 3 máu (hay còn gọi là con lai kép) giữa cá chép Việt nam (V), Hungary (H) và Indonesia (I) tạo ra cá dòng Hung, dòng Việt, dòng Indo được Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 tiến hành từ năm 1984-1995. Hiện nay cá chép V1 được nuôi phổ biến ở Việt nam, được đánh giá rất cao về giá trị kinh tế. Cá chép V1 được tạo chọn lọc theo mô hình sau:


2. Năm nghiên cứu 
Tái tạo quần đàn năm: 1998, 2001, 2004.

3. Mô tả hình thái 
- Cá chép V1 đã tập hợp được những đặc điểm di truyền quý của 3 loại cá thuần chủng: Chất lượng thịt thơm ngon, sức sống cao, khả năng chống chịu bệnh tốt của cá chép Việt nam.

- Thân ngắn và cao, đầu nhỏ, ngoại hình đẹp cùng tốc độ tăng trọng nhanh của cá chép Hungary.

- Đẻ sớm và trứng ít dính của cá chép Indonesia.

- Nói chung, cá có giá trị kinh tế cao, phù hợp với đặc điểm nuôi trồng tại Việt nam.

4. Đặc điểm hình thái 
- Cá chép V1 dòng Việt có ngoại hình thiên về dạng hình cá chép trắng Việt Nam do trong hệ gen của chúng có 50% cơ cấu di truyền của cá chép trắng Việt nam.

- Cá chép V1 dòng Vàng (Indo) có ngoại hình thiên về cá chép Hung thuần vì kiểu gen của chúng mang 50% cơ cấu di truyền của cá chép Indonesia.

- Cá chép V1 dòng Hung có ngoại hình thiên về cá chép Hung thuần vì chúng mang 50% cơ cấu của cá chép dòng Hungary.

- Tuy nhiên khi tái sản xuất trong phạm vi từng dòng chép lai để thu F2, F3... thì sự khác biệt về sinh trưởng và hình thái ở F2, F3 không còn rõ rệt nữa. Cũng không tìm thấy sự khác biệt có tính chất quy luật giữa 3 dòng cá đó về mặt hình thái.

5. Đặc điểm sinh học, sinh trưởng và sinh sản 
- Cá chép V1 là kết quả công trình nghiên cứu lai kinh tế của Phạm Mạnh Tưởng và Trần Mai Thiên (1979), cả lai ngược và lai xuôi ưu thế lai thể hiện rõ nhất ở thế hệ F1 và thể hiện ở các mặt sau:
+ Tỷ lệ sống của cá hương lai từ 44 - 80% ( trung bình là 62%), còn cá chép trắng 49,1 - 51,6% (trung bình 50,35%) và cá chép Hung từ 22,3 - 41,3% (trung bình 31,8%). Tỷ lệ sống của cá giống lai 44,9 - 90% (trung bình 67,45%), cá chép trắng 85,9 - 94% (trung bình 89,95%), cá chép Hung 38,6 - 45,7% (trung bình 42,1%).
+ Ưu thế sinh trưởng của cá chép lai bắt đầu thể hiện rõ ở cuối giai đoạn cá giống và tăng dần theo thời gian nuôi cá thịt. Cá nuôi 4 tháng tuổi, trọng lượng thân bằng 139 - 145% và nuôi 9 tháng bằng 187 - 220% khối lượng thân của cá chép trắng Việt Nam (Phạm Mạnh Tưởng và Trần Mai Thiên, 1979), bằng 183 - 222% trọng lượng thân của cá chép trắng Việt (Nguyễn Công Thắng, 1988).

- Các tác giả cũng lai giữa cá chép vẩy Hung với cá chép trắng Việt, con lai có ưu thế về sức sống và sinh trưởng còn cao hơn cả con lai giữa chép Hung kính và chép trắng Việt.

- Cá có tốc độ tăng trọng gấp 1,5 lần so với cá chép Việt Nam thuần trong cùng điều kiện nuôi. Tỷ lệ thành phần thịt ăn được tăng hơn.

- Tuổi thành thục: 1 năm tuổi (1+).

- Tỷ lệ thành thục: 85 - 95% - Tỷ lệ đẻ: 85 - 90% - Sức sinh sản: 120.000 - 140.000 trứng/kg cá cái.

6. Các nghiên cứu về di truyền 
Kiểu di truyền của Transpherine gồm: AA, AB, AC, AD, BB, BC, CC, AE; của Esteraza là FS; của Prealbumine là FS và SS.

7. Giá trị bảo tồn, lưu giữ 
Cá V1 đã được chọn lọc và chúng mang các tính trạng tốt của 3 dòng cá thuần dòng Việt, dòng Hung, dòng Indo thể hiện ra đó là thích nghi được với điều kiện Việt Nam, lớn nhanh, chống chịu bệnh tốt, ngoại hình đẹp, dễ đánh bắt hơn. Ngày nay, Việc ứng dụng ưu thế lai giữa cá chép Việt với chép Hung và chép Indonesia đã được thực hiện và nuôi dưỡng khắp trong cả nước. Nuôi đơn cá chép lai có thể cho năng suất 2tấn/ha và nuôi ghép trong các ao với mật độ thưa 35 - 50m2/con như ở Bạch Trữ (Vĩnh Phú), Lạng Giang (Hà Bắc) một năm cá có thể đạt 2 - 3kg/con (Nguyễn Công Thắng, 1988). Cần được lưu giữ bảo tồn, bên cạnh đó cần phát triển rộng phạm vi, vùng nuôi và khuyến kích phát triển.

8. Tài liệu tham khảo 
- Trần Mai Thiên, Nguyễn Công Thắng và ctv., 1990. Tóm tắt báo cáo chọn giống cá chép.

- Nguyễn Mạnh Tưởng (1972-1976). Lai kinh tế cá chép. 

- Phạm Anh Tuấn,1990. Danh mục những dẫn liệu chủ yếu một số dạng hình cá chép nuôi ở Việt Nam.

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc

Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc


Để giúp người nuôi có thêm thông tin về kỹ thuật nuôi cá lóc chúng tôi giới thiệu độc giả  Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc chúng tôi giới thiều với độc giả Video kỹ thuật nuôi cá lóc.



Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa

Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa


Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa by ST Báo AB | Ky thuat phong benh cho ca giai doan chuyen mua

Hiện nay, với xu hướng thâm canh hóa trong nghề nuôi thủy sản thì bệnh cá xảy ra trong quá trình nuôi - nhất là vào giai đoạn chuyển mùa – là điều khó tránh khỏi và nó cũng đã gây ra nhiều tổn thất cho người nuôi. Tuy nhiên, nếu người nuôi tuân thủ tốt một số yêu cầu kỹ thuật sau đây sẽ góp phần hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra do các bệnh.
1. Những nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh cá
- Chất lượng nước bị thay đổi: Nhiệt độ nước thay đổi đột ngột vào tháng 12 đến tháng 2 (có thể xuống thấp đến 18 – 22 độ C) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 3 đến tháng 5 (lên đến 30 – 35 độ C) đều làm cho cá bị sốc bỏ ăn, suy yếu, tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh cá phát triển, làm cho cá dễ bệnh. Nước ao kém chất lượng do quản lý không đúng kỹ thuật hoặc nguồn nước cấp bị ô nhiễm hóa chất độc, vi khuẩn, vi rút.

- Chất lượng thức ăn kém: Chất lượng thức ăn kém, không đủ dinh dưỡng cho cá sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển và làm ô nhiễm nước ao.

- Thiếu cẩn thận khi chăm sóc: Các dụng cụ cho ăn không được vệ sinh thường xuyên là nơi ẩn chứa mầm bệnh. Các dụng cụ vận chuyển, bắt cá như lưới vợt, thùng... có thể làm xây xát cá trong quá trình thao tác và vì thế mầm bệnh có điều kiện xâm nhập vào cá nuôi.

- Nguồn giống thả kém chất luợng: Cá có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống thả nuôi chưa được kiểm tra chất luợng, mang sẵn mầm bệnh mà chưa được xử lý diệt trùng, khi cá thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ thuận lợi cho mầm bệnh phát triển.

2. Phòng bệnh cho cá
Trong giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi đột ngột dễ làm cho cá bị sốc, tác nhân gây bệnh có điều kiện phát triển và xâm nhập vào vật nuôi. Nên điều cơ bản để giữ sức khỏe và phòng bệnh cho đàn cá là việc tránh sốc bằng cách duy trì chất lượng môi trường nước tốt qua việc chăm sóc đúng kỹ thuật.
a) Vệ sinh ao đìa sạch sẽ trước mỗi vụ nuôi
Dọn sạch cỏ; vét bùn đáy ao; lắp hết các lỗ mọi hang hóc xung quanh bờ ao; bón vôi để tiêu diệt mầm bệnh, ổn định pH và diệt tạp.

b) Chọn loài cá nuôi phù hợp
- Hiện nay có rất nhiều loài cá nuôi. Để chọn được loài cá nuôi thích hợp với điều kiện từng nông hộ cần phải xem xét 3 vấn đề sau:
+ Thức ăn: Khả năng cung cấp thức ăn là tự có hay mua.
+ Mục đích sử dụng: Nuôi để bán hay nuôi để ăn.
+ Tùy từng vùng sinh thái khác nhau mà chọn loại cá nuôi cho phù hợp. Ví dụ vùng khó thay nước hay mô hình VAC có thể nuôi cá trê, tra...; vùng phèn có thể nuôi cá rô đồng, sặt rằn, trê...

- Từ cơ sở đó mà nông hộ có thể chọn loài cá nuôi phù hợp với điều kiện thực tế của mình để có thể tận dụng hết những tiềm năng sẵn có tại nông hộ.

3.Chất lượng con giống
Chọn giống tốt, không mang mầm bệnh, cá tương đối đều cỡ, màu sắc sáng đẹp, bơi lội nhanh nhẹn, phản ứng nhanh, không bị dị hình, trầy sướt, nên mua giống ở những nơi có uy tín... Trước khi thả giống nên tắm cá giống qua nước muối 2 - 3% trong 5 - 10 phút và phải theo dõi cá trong quá trình tắm.

4. Mật độ thả thích hợp
Nên thả đúng mật độ tùy theo từng loài cá: Nhóm cá không có cơ quan hô hấp phụ (rô phi, mè hoa, trắm cỏ, chép, mè vinh...) thả với mật độ dưới 5 con/m2; nhóm cá có cơ quan hô hấp phụ (tra, trê, tai tượng, rô đồng, sặt rằn...) thả với mật độ 5 - 10 con/m2. Thả cá đúng mật độ để cá lớn nhanh lớn đều, ít bệnh, rút ngắn được thời gian nuôi, đạt cỡ thương phẩm lớn bán được giá cao, không phải tốn tiền nhiều để mua con giống và thức ăn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.

5. Nuôi ghép
- Trong cùng một ao có thể nuôi ghép các loài cá với nhau để tận dụng không gian mặt nước và tất cả các loại thức ăn có trong ao vì mỗi một loài cá sống ở một tầng nước và có loại thức ăn riêng. Khi nuôi ghép cần lưu ý:
+ Số loài cá thả ghép dưới 4 loài.
+ Đối tượng nuôi chính trên 50% tổng các loại cá, còn lại là các đối tượng ghép thêm.
+ Các loại cá thả ghép phải tương đối đều cỡ nhau và thả cùng thời gian.
+ Các loài cá ghép phải không cùng tính ăn và không gian sống.
+ Thời gian nuôi và giá cá thương phẩm các loài cá gần bằng nhau để dễ bán.

- Một số đối tượng thường kết hợp nuôi ghép và tỷ lệ nuôi ghép: Cá tai tương 80% ghép sặt rằn 20%; hoặc cá tra 80% ghép rô phi 20% hoặc cá rô đồng 70% ghép sặt rằn 30%...

6. Chăm sóc đúng kỹ thuật, cho ăn phải đạt 4 yêu cầu
Định lượng, định chất, định vị trí, định thời gian để đảm bảo cho cá khỏe mạnh, ít nhiễm bệnh. Nếu thức ăn là tấm cám nấu thì nên để vô sàng cho cá ăn để dễ quản lý được thức ăn.

7. Quản lý chất lượng nước ao nuôi
Ao phải thông thoáng, độ sâu ao nuôi cá thịt 1,2 - 2m, độ sâu ao ương cá giống: 0,5 – 1,2m, pH ổn định từ 6,5 – 8,5 tức là nước ao nuôi cá có màu xanh vỏ đậu hoặc xanh lá chuối non là tốt, hàm lượng oxy hòa tan 3 - 8mg/l, nhiệt độ nước: 28 – 30 độ C.

8. Đối với ao khó thay nước hoặc không thay nước được
Khi nuôi cá vào các tháng cuối gần thu hoạch, nước ao và nền đáy ao rất dơ do thức ăn dư thừa và phân cá thải ra trong suốt quá trình nuôi nên cá có nguy cơ phát sinh bệnh rất cao, do đó có thể xử lý bằng cách dùng các chế phẩm sinh học.

9. Phòng bệnh cho cá lúc giao mùa
Vào mùa mưa, nhất là giai đoạn chuyển muà nắng sang mưa, ao rất dễ bị xì phèn làm pH nước ao giảm thấp; pH thay đổi đột ngột như vậy làm cá bị sốc sẽ giảm sức đề kháng và mầm bệnh dễ dàng có cơ hội xâm nhập vào cơ thể cá. Nên phòng bằng cách: Định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ bẩn từ trên bờ ao xuống. Đồng thời, ngâm vôi vào nước để nguội, lấy phần nước vôi tạt đều khắp ao lượng 1 - 3 kg/100m3 nước, có tác dụng ổn định pH nước và phòng bệnh cho cá.

10. Một số lưu ý
Trong suốt quá trình nuôi nên phòng bệnh cho cá là tốt nhất, vì khi các bị bệnh việc điều trị rất khó khăn, tốn kém và hiệu quả không cao. Vì vậy định kỳ 2 lần/tuần, trộn Vitamin C vào thức ăn cho cá ăn để tăng sức đề kháng cho cá. Lưu ý: Vitamin C rất dễ tan trong nước nên khi trộn Vitamin C vào thức ăn phải dùng chất kết dính như dầu mực, bột gòn... để tăng hiệu quả sử dụng. Hoặc có thể sử dụng những cây thuốc Nam sẵn có tại chỗ để phòng bệnh cho cá như: Lá giác, lá xoan, cỏ mực…

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

Cách phòng bệnh cho tôm cá trong mùa lũ

Cách phòng bệnh cho tôm cá trong mùa lũ


Cách phòng bệnh cho tôm cá trong mùa lũ by Báo BN | Cach phong benh cho tom ca mua lu

Mùa mưa, bão thường gây lũ lụt, dịch bệnh… và tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản. Để hạn chế dịch, bệnh cho thủy sản, nông dân cần quan tâm một số biện pháp sau:

1. Cách phòng bệnh
Trong mùa mưa lũ, do những biến đổi bất thường về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa… là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển và phát tán, đồng thời gây nên các hiện tượng “sốc môi trường” cho động vật thủy sản, mầm bệnh có nhiều cơ hội xâm nhập vào cơ thể động vật thủy sản để gây bệnh. Khi có sự trao đổi nước giữa các thủy vực tự nhiên và vùng nuôi thủy sản do con người hoặc nước lũ tràn về là nguyên nhân lây lan các chứng bệnh phổ biến cho cá nuôi như các bệnh do ký sinh trùng (bệnh trùng bánh xe, trùng quả dưa, nấm thủy mi, rận cá, bệnh đóng rong ở tôm…), các bệnh do vi khuẩn, vi rút như bệnh ghẻ hay còn gọi là bệnh đốm đỏ, bệnh viêm ruột... Do đó cần phải tiến hành các biện pháp quản lý ao, chăm sóc động vật thủy sản như sau:
- Thường xuyên quan sát tình trạng cá, tôm bơi lội trong ao. Khi có hiện tượng cá, tôm nổi đầu cần xác định nguyên nhân là do đâu, nếu là do thiếu ô xy, cần tăng quạt nước hoặc phun nước, giảm lượng thức ăn, thay một phần nước ao, hoặc cấp thêm nước mới vào ao, tiến hành san thưa để giảm bớt mật độ. Đối với ao nuôi sau mỗi lần thay nước người nuôi phải xử lý nước bằng cách tạt vôi bột (vôi nông nghiệp) với liều lượng 3kg/m3 nước để làm cho nước trong sạch.

- Thường xuyên theo dõi mức nước, màu nước trong ao để kịp thời điều chỉnh; theo dõi thời tiết nhất là những tháng chuyển mùa và những ngày chuyển trời để kịp thời điều chỉnh lượng thức ăn.

- Bảo đảm môi trường ao nuôi cho cá, tôm trong sạch bằng các biện pháp hóa dược như sử dụng bột đá, vôi bột, vôi nước bón định kỳ cho ao nuôi, liều lượng tùy theo đối tượng nuôi. Ví dụ: nuôi cá rô phi định kỳ 7 - 10 ngày/lần bón 1 - 2kg/100m3 nước. Có thể sử dụng hóa chất khác như Zeolite bón vào 3 tháng cuối chu kỳ nuôi để chúng hấp thu các độc tố (NH3, H2S) và kim loại nặng, liều dùng 1 - 2kg/100m3, định kỳ 10 ngày/lần. Hoặc sử dụng các chất có chứa Tricloisoxianuric axit định kỳ 7 - 10 ngày/lần phun xuống ao để khử trùng và diệt bớt tảo phát triển trong ao nuôi thâm canh. Liều dùng 0,3 - 0,5g/m3 nước.

- Tăng cường sức đề kháng cho động vật thủy sản như bổ sung vitamin C trộn vào thức ăn cho cá ăn hàng ngày. Liều lượng sử dụng tùy theo đối tượng nuôi, ví dụ như rô phi là 50 - 60mg/kg cá/ngày. Hoặc sử dụng chế phẩm sinh học probiotic và enzyme tổng hợp để tăng cường tiêu hóa và bảo vệ đường ruột. Liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc sử dụng dầu mực nhằm bao bọc thức ăn và thuốc, tránh tan rữa nhanh trong môi trường nước. Tạo mùi hấp dẫn cho cá, tôm bắt mồi nhiều. Liều dùng 10g/kg thức ăn.

2. Cách trị bệnh
Ngoài các biện pháp phòng bệnh nêu trên, người nuôi cần chú ý cách trị một số bệnh như sau:
- Bệnh trùng bánh xe ở cá: Bệnh này do các loại trùng có hình dạng như bánh xe phát triển cao điểm vào các mùa mưa, lũ. Chúng ký sinh trên da, mang, khoang mũi của cá, ở dưới nước thấy rõ hơn so với khi cá ở trên cạn. Khi cá mới mắc bệnh, mình cá có lớp nhớt màu hơi trắng đục, cá bệnh thường nổi đầu và thích tập trung nơi nước chảy, thích cọ mình vào thành bể hoặc cây cỏ và có cảm giác ngứa ngáy. Đôi khi cá nhô đầu lên khỏi mặt nước và lắc mạnh đầu. Cá bệnh nặng mang cá sưng to (kênh to), da cá chuyển màu xám, trông lờ đờ, đảo lộn vài vòng rồi chìm xuống đáy ao và chết. Để trị bệnh, dùng nước muối NaCl 2 - 3% tắm cho cá 5 - 15 phút, hoặc dùng CuSO4 nồng độ 3 - 5 ml/m3 tắm cho cá 5 - 15 phút hoặc phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,5 - 0,7g cho 1m3 nước. Dùng formalin nồng độ 200 - 250 ml/m3 tắm trong 30 - 60 phút hoặc nồng độ 20 - 25 ml/m3 phun xuống ao, tắm vào buổi sáng sớm hoặc vào chiều tối.

- Bệnh rận cá: Rận cá thường bám vào toàn thân cá, hút các chất nhờn làm bị đau, ngứa và cá chạy rần liên tục, nếu bám từ hai con trở lên cá sẽ bị chết. Để trị bệnh, dùng Iodine với liều lượng 2g/m3 nước, tắm cho cá liên tục 3-5 ngày kết hợp dùng Oxytetracyline 5g trộn vào 1kg thức ăn cho cá ăn liên tục trong 5 - 7 ngày.

- Bệnh đốm đỏ (còn gọi bệnh ghẻ): Nguyên nhân chính của bệnh này là do cá bị các ký sinh trùng bám vào làm cho cá bị trầy xước, chạy rong vèo, cá bị sây sát miệng và đuôi, tạo điều kiện thuận lợi để các vi-rút, vi khuẩn tấn công vào cơ thể cá. Cá bệnh thường xuất hiện những vết màu trắng xám ở phần đuôi sau đó lan dần lên đến thân là những vết ghẻ lở, cá bơi lội lờ đờ, toàn thân bị đen, cá chết. Cách trị bệnh, người nuôi dùng Formol với liều lượng 25ml/m3 nước, tắm cho cá liên tục 3 - 5 ngày, kết hợp dùng Oxytetracyline 5g trộn vào 1kg thức ăn cho cá ăn liên tục trong 5 - 7 ngày. Ngoài ra, nên bổ sung vitamin C 5g/kg thức ăn, cho ăn liên tục 7 - 10 ngày để tăng cường sức đề kháng, kích thích cá ăn mạnh, tăng cường tiêu hóa thức ăn.

- Bệnh do vi khuẩn: Do vi khuẩn thường tấn công vào hệ thần kinh trung ương nên cá bị bệnh có biểu hiện bên ngoài như hôn mê, mất phương hướng, có thể tổn thương mắt: Viêm mắt, lồi mắt, chảy máu mắt, có các vết áp-xe (có thể có mủ), xuất huyết ở quanh miệng, gốc vây hoặc quanh hậu môn, lỗ sinh dục. Ở giai đoạn nặng, trong bụng cá có dịch (chảy ra hậu môn), cá thường bỏ ăn. Đối với các bệnh do vi khuẩn có thể dùng một số loài kháng sinh như Erythromyxin hoặc Oxytetramyxin trộn vào thức ăn từ 3 - 7 ngày, dùng 2 - 5 g/100kg cá/ngày. Có thể phun xuống ao nồng độ 1 - 2 ppm, sau đó sang ngày thứ 2 trộn vào thức ăn 4g/100kg cá, từ ngày thứ 3 - 5 giảm còn một nửa.

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

Đặc điểm sinh học cá Mè Vinh

Đặc điểm sinh học cá Mè Vinh


Đặc điểm sinh học cá mè vinh by ST | Dac diem sinh hoc ca me vinh 1. Phân loại và hình thái - Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993). Cá mè vinh (Barbodes gonionotus) là loài cá kinh tế nước ngọt thuộc:
+ Bộ: Cypriniformes
+ Họ: Cyprinidae
+ Giống: Barbodes
+ Loài: Barbodes gonionotus (Bleeker, 1850)
+ Tên gọi:
. Tên tiếng Việt: cá mè vinh
. Tên tiếng Anh: Silver barb

- Cá mè vinh thuộc loại cá cỡ nhỏ, chiều dài tối đa chừng 35 cm. Thân có dẹp 2 bên, có dáng hình thoi cao. Đầu nhỏ, mõm tù. Miệng cá nhỏ nằm ở đầu mõm, có 2 đôi râu (mõm và hàm) dài bằng nhau. Mắt cá to lệch về nữa trên của đầu. Thân trắng bạc, lưng xám đen, bụng xám bạc, đôi khi ánh vàng. Vây bụng và vây hậu môn có màu vàng da cam phớt đỏ ở phía ngoài.

2. Phân bố
Cá mè vinh thường phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonexia….Ở Việt Nam cá phân bố rộng rãi trong các kênh rạch, sông ngòi, đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long và sông Đồng Nai. Cá được di nhập ra nuôi ở các tỉnh phía Bắc.

3. Dinh dưỡng
Lúc còn nhỏ (cá giống nhỏ) ăn các loại thực vật thủy sinh mềm như các loại rong nước, bèo cám... Khi lớn cá có thể ăn các loại cỏ trên cạn. Ngoài ra cá cũng có thể ăn được thức ăn chế biến từ các lọai phụ phế phẩm nông nghịêp sẳn có tại địa phương (Dương Nhựt Long, 2003).

4. Sinh trưởng
Theo Lê Như Xuân và ctv (1994), cá mè vinh có tốc độ lớn tương đối thực tế nhanh, nuôi trong ruộng lúa với mật độ vừa phải (1 - 2 con/m2) cá có thể đạt 0,3 - 0,35 kg/con/ sau 6 – 8 tháng. Trong hệ thống mương vườn kết hợp, mật độ cá mè vinh thả 3 con/m2, sau 6 tháng nuôi, trọng lượng cá có thể đạt 150 – 240 gam/con.

5. Sinh sản
- Theo Phạm Minh Thành (2009), cá mè vinh tham gia sinh sản lần đầu sau 1 năm tuổi. Ngoài tự nhiên, mùa vụ sinh sản của cá thường kéo dài từ tháng 5 – 9. Do vậy, trong hoạt động sinh sản nhân tạo, có thể cho cá mè vinh sinh sản gần như quanh năm, chỉ trừ một vài tháng cuối năm như (tháng 11 và tháng 12). Một cá mẹ có thể tham gia sinh sản 4 – 5 lần/năm. Sức sinh sản của cá mè vinh dao động từ 200.000 – 300.000 trứng/kg. Trứng cá mè vinh thuộc lọai bán trôi nổi như cá mè trắng, cá trôi Ấn độ. Trong điều kiện nhiệt độ nước dao động từ 27 – 29 độ C, trứng cá mè vinh sẽ nở sau 12 giờ.

- Cá mè vinh là loài di cư sinh sản, nuôi trong ao ruộng mương vườn mặc dù cá có trứng nhưng cá không đẻ đó là do thiếu các điều kiện thích hợp cho cá sinh sản.

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Cách hạn chế bệnh gan thận mủ lây lan trên cá Tra

Cách hạn chế bệnh gan thận mủ lây lan trên cá Tra


Cách hạn chế bệnh gan thận mủ lây lan trên cá tra by C.ty UVVN | Cach han che benh gan than mu lay lan tren ca tra

1. Tình hình xuất hiện bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
- Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính gây ra bệnh gan thận mủ trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi thâm canh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Đây là loại vi khuẩn đặc thù gây bệnh chủ yếu trên cá da trơn nuôi công nghiệp. Vi khuẩn E. ictaluri đầu tiên đã phân lập được trên cá nheo Mỹ (Ictalurus furcatus) gây bệnh nhiễm trùng máu, trên cá trê trắng (Clarias batrachus) ở Thái Lan và trên một số loài cá da trơn khác.


- Ở nước ta, bệnh này xuất hiện đầu tiên vào mùa lũ năm 1998 ở các tỉnh nuôi cá tra thâm canh phát triển mạnh như: An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Sau đó, bệnh lan dần đến các vùng có nuôi cá tra lân cận. Bệnh gan thận mủ thường xuất hiện vào mùa lũ và cao điểm vào tháng 6, 7 và 9 (Sơ đồ 1). Trong 1 chu kỳ nuôi, bệnh mủ gan có thể xuất hiện ít nhất 3 - 5 lần. Đặc biệt, những năm gần đây bệnh này đã xuất hiện hầu như quanh năm và đã lây lan khắp các tỉnh có nuôi cá tra ở Việt Nam. Bệnh xuất hiện trên tất cả các giai đoạn phát triển của cá tra, trong đó tỉ lệ hao hụt lớn nhất ở giai đoạn giống, có thể lên đến 50 - 90%.


2. Quản lý các yếu tố bộc phát bệnh
a) Kiểm tra phát hiện bệnh
- Trong quá trình nuôi, việc thường xuyên kiểm tra và theo dõi đàn cá nuôi có thể giúp cho người nuôi phát hiện bệnh sớm trước khi cá chết hàng loạt. Một vài dấu hiệu bất thường cần chú ý như: hoạt động của cá thay đổi do bị sốc, cá nổi đầu hay tập trung ở khu vực nước chảy, giảm ăn hoặc bỏ ăn, nhảy lên khỏi mặt nước.

- Khi cá tra nhiễm bệnh gan thận mủ, người nuôi có thể dựa vào dấu hiệu bệnh lý là những đốm trắng xuất hiện trên gan, thận và tỳ tạng.


b) Theo dõi sự biến động của các yếu tố môi trường
- Mật độ nuôi cao trong các hệ thống nuôi thâm canh làm cho cá bị sốc và gây nên những biến đổi về môi trường tạo điều kiện cho bệnh bộc phát. Sự tích tụ chất thải từ thức ăn dư thừa đều sinh ra độc tố khi phân hủy làm ảnh hưởng trực tiếp đến cá và tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Do vậy, người nuôi cần phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như oxy, pH, nhiệt độ, NH3, độ mặn, ... Mỗi hộ nuôi cần có bộ kít đo môi trường và kiểm tra ít nhất 1 lần trong 1 tuần. Nên ghi nhận sự thay đổi của các yếu tố môi trường vào thời điểm giống nhau. Đo các chỉ tiêu môi trường 2 lần trong ngày một lần vào sáng (7 - 8h) và vào chiều mát (5 - 6h).

- Người nuôi cần theo dõi hoạt động, biểu hiện của cá trong điều kiện nhiệt độ mà bệnh gan thận mủ dễ bùng phát (28 – 30 độ C). Khi điều kiện môi trường xấu cần đưa ra biện pháp điều chỉnh thích hợp bằng các biện pháp như thay nước mới, kiểm tra độ sâu mực nước, cấp thêm nước vào ao.

c) Thức ăn cho cá
Chế độ ăn đóng vai trò rất quan trọng làm thay đổi tính mẫn cảm của cá đối với vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh gan thận mủ. Cho cá ăn vừa phải, không có cá ăn quá nhiều vì lượng thức ăn dư thải ra môi trường bên ngoài làm tích tụ chất cặn bã gây nên ô nhiễm cho ao nuôi làm cho cá dễ mẫn cảm với sự bộc phát bệnh. Khi cá ở giai đoạn nhỏ (50 - 80g) cho ăn tối đa khoảng 5% trọng lượng cơ thể, cá lớn khoảng 2% trọng lượng cơ thể. Không cho ăn quá 3 lần trên ngày vào thời điểm nhiệt độ nước thấp nhất, không nên cho ăn vào giữa trưa khi mặt trời lên cao. Khi thấy cá nuôi có những dấu hiệu bất thường, ngưng cho cá ăn hoặc giảm lượng thức ăn có thể là một biện pháp tốt để hạn chế bệnh.

d) Cách phòng bệnh lây lan
- Cá giống cần được quan sát cẩn thận, mỗi biểu hiện bất thường hoặc triệu chứng bệnh ở cá phải được xử lý kịp thời. Cá giống mua về cần được kiểm tra cẩn thận để loại bỏ những con cá bị xây xát nhiều, nên tắm nước muối 0,5% trong 5 - 10 phút trước khi thả nuôi. Không nên chọn cá giống đã nhiễm bệnh gan thận mủ.

- Khi dịch bệnh xảy ra, việc vứt cá ra sông, chôn hoặc bán cá chết cho những hộ nuôi cá khác đã tạo điều kiện cho bệnh lan tràn từ vùng nuôi này đến vùng nuôi khác ở ĐBSCL. Do vậy, người nuôi cần phải tuyệt đối thực hiện các biện pháp khử trùng ao, các dụng cụ và xử lý cá chết như: (1) Tiệt trùng các dụng cụ (lưới, vợt, sọt, ống dây) bằng Chlorine 10-15 g/m3 trong 30 phút; (2) Cá chết phải vớt ra khỏi ao, bè càng sớm càng tốt, và chôn vào hố cách ly có rải vôi sống (CaO) để tiệt trùng; (3) Nước thải từ ao cá bệnh cần được xử lý diệt khuẩn trước khi xả ra ngoài.

- Cá tra nhiễm bệnh gan thận mủ sẽ mẫn cảm với các bệnh khác như: bệnh do ký sinh trùng, bệnh xuất huyết và bệnh trắng gan, trắng mang, ... do vậy cần tích cực phát hiện bệnh và điều trị càng sớm càng tốt để giảm thiệt hại. Dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh. Lựa chọn loại kháng sinh mà vi khuẩn gây bệnh này còn nhạy (dựa vào kết quả kháng sinh đồ).

- Tóm lại, việc phòng bệnh ở cá tra phải kết hợp với nguồn cá giống sạch bệnh, quản lý tốt môi trường nuôi và đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp. Cần sớm nghiên cứu Vaccine phòng bệnh gan thận mủ trên cá tra một cách tích cực và hiệu quả hơn.

Bài viết đã được mua tác quyền, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Thạc Sỹ T.T.Dung, Khoa TS, ĐHCT.

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng

Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng


1. Chọn địa điểm nuôi
- Nguồn nước sạch, chủ động cấp và thay nước.

- Không bị ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt, hóa chất từ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.

- Đất không bị nhiễm phèn nặng.

- Tiện chăm sóc và quản lý.

- Diện tích nuôi thích hợp 200 – 500 m2.

2. Chuẩn bị ao nuôi
- Ao được tát cạn, sên vét bùn đáy ao, lấp các lỗ mọi.

- Ao được phơi khô và bón vôi với liều lượng 7 - 10kg/100m2.

- Dùng bột đậu nành 1kg/100m2, DAP 1kg/100m2 nhằm gây màu nước, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá.

3. Chọn giống và thả giống
3.1. Chọn giống


- Kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh.

- Kích cỡ con giống thả tốt nhất: 80-100g/con hoặc 160-200g/con.

- Đuôi xoè rộng, các tia vây còn nguyên vẹn, nhiều nhớt, mang phùng to, không bị xây xát.

- Hiện nay có thể mua giống từ hai nguồn: từ các cơ sở sản xuất giống và tự nhiên qua các điểm thu gom. Đặc tính của hai nguồn giống như sau:


3.2 Thả giống
- Mật độ thả thích hợp 2con/m2.

- Thả giống: vận chuyển giống vào lúc sáng sớm và trời mát, trước khi thả vào phải ngâm bao trong nước 15 phút để tránh sốc nhiệt do chênh lệch nhiệt độ giữa bao đựng cá và môi trường nước ao nuôi. Trước khi thả cá được tắm bằng nước muối 3-5% trong 5-10 phút.

4. Chăm sóc quản lý


- Phân cỡ: cá thả nuôi tốt nhất phải đồng cỡ.

- Cho cá ăn thức ăn tươi sống như tôm, tép, cá nhỏ, trùng đất, ... Thức ăn đảm bảo còn tươi sống, được cắt nhỏ, vừa miệng cá, bỏ ruột, vây, đầu và được rửa sạch.

- Lượng thức ăn hằng ngày bằng 3 - 5% trọng lượng đàn cá. Cho ăn vào buổi chiều mát là chủ yếu. Nên bố trí sàn ăn để kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, trung bình 2 sàn ăn cho 100 m2. Ngoài ra, sàn ăn còn dùng để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của cá.

- Định kỳ thay nước 2 lần/tháng để đảm bảo chất lượng nước tốt , mỗi lần thay 20 - 30% lượng nước trong ao.

- Trong quá trình nuôi có thể định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học để làm sạch môi trường.

- Thường xuyên theo dõi biến động của môi trường để có biện pháp xử lý kịp thời.

5. Thu hoạch
- Sau 9 - 10 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 400 - 600g/con thì tiến hành thu hoạch toàn bộ. Cá thường có kích cỡ không đều vì vậy những con chưa đủ kích cỡ có thể nuôi tiếp cho đến khi cá đạt kích cỡ thương phẩm.

- Cá bống tượng nuôi trong ao đất thường chui rúc vào đáy bùn có khi đến 1m, khó bắt. Cần tát cạn vào chiều mát, mò bắt sơ bộ, sau đó dùng chuối cây trang ao cho bằng, cho nước vào 5cm, nửa đêm và gần sáng cá bống tượng ngôi lên trên mặt bùn dùng đèn soi bắt. Có nơi còn dùng dòng nước chảy bắt cá vào đêm.

Kỹ thuật nuôi cá bống tượng, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng – Kỹ thuật sản xuất giống

Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng – Kỹ thuật sản xuất giống


1. Chuẩn bị ao nuôi vỗ
- Diện tích: 200 - 1.000m2, độ sâu mức nước 1,2 - 1,5m.

- Ao phải có cống cấp và thoát nước chủ động.

- Nguồn nước phải sạch, không bị ô nhiễm.

- Đất không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.

- Trước khi thả cá, ao được tát cạn, sên vét bùn đáy, bón vôi 7 - 10kg/100 m2, phơi đáy ao 2 -3 ngày. Sau đó cấp nước qua lưới lọc.

2. Tuyển chọn cá bố mẹ


- Cá bố mẹ phải khỏe mạnh, không bị dị tật, không bị xây xát và đảm bảo đạt những tiêu chuẩn sau:
+ Cá trên 1 năm tuổi.
+ Trọng lượng 250 - 600g/con.
+ Kích cỡ đều, khoẻ.

- Trước khi thả cá bố mẹ vào ao, nên tắm bằng nước muối 2 -3 % trong 5 - 10 phút.

3. Nuôi vỗ cá bố mẹ
3.1. Thời gian nuôi vỗ
Thích hợp là cuối tháng 12 hay đầu tháng 1, cá có thể đẻ tự nhiên trong ao với tỷ lệ: 1 đực - 2 cái.

3.2. Mật độ nuôi vỗ: 0,2 - 0,3kg cá bố mẹ/m2.
3.3. Chăm sóc quản lý
- Thức ăn là các loại cá con, tôm, tép nhỏ còn tươi hay sống. Khi cho ăn phải rửa sạch, cắt nhỏ cho vừa miệng cá.

- Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát, lượng thức ăn chiếm 3 - 5% trọng lượng thân cá.

- Thức ăn được cho vào sàn ăn được đặt ở những nơi cố định trong ao. Hằng ngày kiểm tra lượng thức ăn dư hay thiếu.

- Các kết quả nghiên cứu cho thấy cho ăn thức ăn có nguồn gốc động vật đều cho kết quả thành thục tốt, phù hợp tính ăn của cá trong tự nhiên.

- Định kỳ thay nước 1 tuần/lần, mỗi lần thay 20 - 30% lượng nước trong ao nuôi.

3.4. Kiểm tra độ thành thục của cá
- Kiểm tra độ phát dục của cá để xác định thời gian đẻ trứng, cá khi chưa thành thục khó phân biệt đực cái. Khi nuôi vỗ 1 - 2 tháng, cá phát dục thì có thể phân biệt đực, cái dễ dàng.

- Cá đực: Gai sinh dục ngắn, nhỏ, đầu nhọn hình tam giác.

- Cá cái: Có gai sinh dục lớn, nhưng không nhọn đầu như gai sinh dục cá đực. Cá sắp đẻ mấu sinh dục lồi ra, đầu mút của mấu này dài gần đến vây hậu môn, bụng to mềm, khi vuốt nhẹ trên thân thấy có 1 số trứng chảy ra.

3.4. Kỹ thuật sinh sản
a) Chuẩn bị giá thể
Cá bình thường đẻ trứng dính trên giá thể có trong ao như: gốc cây, cọc, thành cống, ... Nên cần chuẩn bị giá thể cho cá đẻ để việc thu trứng đạt kết quả tốt. Giá thể thường sử dụng là gạch tàu, ngói máy, ... Thông thường đặt giá thể làm tổ cho cá bằng 1/3 số cá cái nuôi vỗ trong ao. Vị trí đặt tổ phải cố định để dễ kiểm tra, theo dõi.

b) Cho đẻ tự nhiên
- Mùa vụ đẻ tự nhiên của cá bắt đầu vào trong tuần tháng 3, kéo dài đến tháng 11, trong thời gian này cần kiểm tra độ thành thục, xác định thời gian đẻ của cá để đặt tổ thu trứng.

- Phương pháp đẻ tự nhiên này sẽ giảm chi phí, thao tác không phức tạp. Hằng ngày tiến hành thăm giá thể để lấy trứng, thao tát lấy trứng nhanh, nhẹ nhàng tránh khuấy động nhiều làm cá sợ không đẻ.

- Để cho cá đẻ đồng loạt, thu trứng cùng lúc, tiến hành tiêm kích dục tố rồi để cá bắt cặp trong ao đẻ tự nhiên. Kích dục tố thường dùng là HCG và não thùy. Liều lượng 1 - 2mg não/kg cá cái và 250 - 500 UI HCG/kg. Sau khi tiêm kích dục tố, thả cá vào ao đã đặt sẵn giá thể. Sau khi thả cá từ 10 - 12 giờ cá sẽ sinh sản.

c) Ấp trứng
- Khi phát hiện có trứng dính trên giá thể, đưa giá thể có trứng vào thau ấp (50 lít), mỗi thau ấp 2 -3 tổ trứng. Trong quá trình ấp bố trí mỗi thau có 1 - 2 cục sục khí. Nhiệt độ nước ấp trứng giữ ổn định 20 – 30 độ C, pH 6,5 - 7,5.

- Sau 30 - 40 giờ, trứng bắt đầu nở, khi trứng nở chậm cá con thường yếu dễ chết sau khi nở.

- Cá bột nở đến đâu vớt cá bột đem vào bể ương. Thời gian nở hết kéo dài 3 ngày. Cá mới nở rất yếu, có màu sắc trong suốt. Cá mới nở có chiều dài 0,3 - 0,4mm. Sau khi nở 3 ngày, cá bột sẽ tiêu hết noãn hoàn, lúc này cá có khả năng bắt mồi.

Kỹ thuật nuôi cá bống tượng, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Kỹ thuật chuẩn bị ao ương

Kỹ thuật chuẩn bị ao ương


Kỹ thuật chuẩn bị ao ương by C.ty UV-VN | Ky thuat chuan bi ao uong

Trong ương nuôi cá, ngoài những vấn đề như chất lượng cá giống, thức ăn, chăm sóc… người nuôi cá cũng cần chú trọng việc chuẩn bị ao. Chuẩn bị ao tốt sẽ tạo được một môi trường nước có chất lượng tốt, ổn định và hạn chế bớt mầm bệnh cho cá nuôi. Đối với ao ương nuôi cá cần phải chuẩn bị trước khi thả cá theo các bước sau:


1. Dọn sạch cỏ và cây lớn xung quanh ao
Việc này quan trọng đối với những ao ương cá con. Vì ao ương cần đầy đủ ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật thủy sinh quang hợp giúp ổn định môi trường và tạo ra nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá. Ao nuôi cá thoáng, không có cây lớn che xung quanh thì việc khuếch tán oxy từ không khí vào nước được dễ dàng hơn, hạn chế bớt tình trạng thiếu oxy cho cá nuôi. Ngoài ra, dọn sạch cây cỏ xung quanh bờ ao cũng góp phần hạn chế sinh vật địch hại gây hại cho cá con.

2. Bơm cạn nước và vét bùn đáy ao
Đối với những ao đã được ương nuôi ở vụ trước thì vật chất hữu cơ từ thức ăn dư thừa, chất thải của cá và phù sa được tích tụ ở đáy ao. Vì vậy, việc bơm cạn nước và vét bùn đáy ao là rất cần thiết để nhằm giảm bớt sự ô nhiễm và mầm bệnh tích tụ ở đáy ao. Thông thường ở ao nuôi cá người ta thường dọn đáy ao bằng cách sử dụng máy hút bùn đối với các ao lớn hoặc vét bùn bằng phương pháp thủ công đối với các ao có diện tích nhỏ.

3. Bón vôi và diệt tạp
- Sau khi bơm cạn nước và vét bùn, đáy ao cần được bón vôi nhằm tạo điều kiện để các chất hữu cơ được phân hủy, cải tạo phèn và ổn định pH. Sau một vụ nuôi, vật chất hữu cơ tích tụ ở đáy ao bị phân hủy yếm khí sinh ra nhiều axít hữu cơ làm cho pH của đất đáy ao bị giảm thấp do các ion H+ bị hấp thụ trên bề mặt keo đất. pH thấp sẽ làm ức chế sự phát triển của vi sinh vật phân hủy, pH tăng sau khi bón vôi sẽ kích thích vi sinh vật phát triển và khoáng hóa nhanh các chất hữu cơ còn lại ở đáy ao. Đối với những ao nuôi trên vùng đất nhiễm phèn các cation axít (Al3+ và Fe3+) cũng bị hấp thụ trên bề mặt keo đất gây pH thấp, trường hợp này cũng cần bón vôi để cải tạo nền đáy. Vôi được sử dụng để bón cho ao nuôi cá thường là vôi sống (CaO) hoặc đá vôi nghiền (CaCO¬3). Tốt nhất nên dùng vôi sống khi chuẩn bị ao vì vôi này có hoạt tính trung hòa cao và diệt mầm bệnh tốt hơn những loại vôi khác. Vôi được rải đều ở đáy ao và cả bờ ao, cần tập trung bón nhiều vôi ở những bãi cho ăn hoặc những nơi đáy ao còn đọng nước. Liều lượng vôi bón khi chuẩn bị ao như sau:


- Sau khi bón vôi, đáy ao cần được phơi từ 2-3 ngày để các phản ứng hóa học được xảy ra dễ dàng và nhanh hơn. Phản ứng hóa học của vôi khi được bón vào ao như sau:


- Nhờ sự thay thế của cation Ca2+ trên bề mặt hạt keo nên độ pH của đáy ao tăng lên đáng kể (có thể lớn hơn 12). Ở pH cao (pH>12), toàn bộ mầm bệnh và sinh vật địch hại trong lớp bùn đáy ao bị tiêu diệt. Như vậy, bón vôi vừa có tác dụng cải tạo phèn, vừa có tác dụng diệt tạp và mầm bệnh trong ao. Ngoài ra, các xác hữu cơ bị phân hủy nhanh (sau khi pH giảm dần và ổn định sau 2 - 3 ngày) sẽ là nguồn phân hữu cơ tốt cho sự phát triển các vi sinh vật có lợi cho ao cá về sau.

- Đối với các ao không thể bơm cạn nước thì có thể sử dụng dây thuốc cá (1 - 2 kg/100 m3) hoặc saponin (0,2 - 0,3 kg/100 m3) để diệt tạp trong quá trình chuẩn bị ao nuôi cá, tốt nhất nên sử dụng vào lúc trời nắng nóng sẽ tăng tác dụng của hóa chất.

4) Cấp nước vào ao và gây nuôi thức ăn tự nhiên
- Cấp nước vào ao qua túi lọc mịn để ngăn không cho trứng, ấu trùng và con non của các động vật gây hại theo nước vào ao nuôi. Các sinh vật này có thể là vật chủ trung gian lây truyền mầm bệnh cho cá nuôi, cạnh tranh thức ăn hoặc chúng có thể tấn công và ăn cả cá nuôi. Khâu lọc nước vào ao cần đặc biệt chú ý đối với những ao ương từ cá bột lên cá giống. Vì cá bột có khả năng tự vệ, thích ứng với điều kiện môi trường và sức đề kháng rất kém.

- Việc gây màu nước nhằm làm ổn định điều kiện môi trường nước ao nuôi, ngăn chặn sự phát triển của tảo đáy, tảo độc và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài sinh vật làm thức ăn tự nhiên nhằm cung cấp một phần nguồn dinh dưỡng cho cá (đặc biệt là đối với ao ương từ cá bột lên cá giống). Thông thường người nuôi sử dụng phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ dùng trong sản xuất nông nghiệp (NPK) hoặc các loại phân bón gây màu nước chuyên dùng cho thủy sản. Phân hữu cơ được dùng phổ biến trong ương nuôi cá là thức ăn công nghiệp với hàm lượng protein cao hoặc bột cá, bột đậu nành. Việc bón phân hữu cơ gây màu nước có thể được thực hiện đồng thời với việc bón vôi trong quá trình chuẩn bị ao, riêng đối với phân vô cơ thì được bón sau khi đã cấp nước vào ao. Liều lượng phân hữu cơ bón gây màu là 0,3 – 0,4kg/100m2 kết hợp với phân vô cơ là 0,2 – 0,3kg/100m2. Nước sau khi được cấp vào ao và bón phân gây màu khoảng 2 - 3 ngày là có thể thả cá để ương nuôi.

“Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả. Bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ UV-Việt Nam”.

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa

Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa


Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa ST | Cach phong benh cho ca khi chuyen mua

Nhằm hạn chế khả năng dịch bệnh xảy ra, ngoài việc tuân thủ quy trình phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao, chọn giống...từ đầu vụ, thì vào giai đoạn này người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật.


Điều kiện thời tiết khí hậu giai đoạn chuyển mùa thường làm cho môi trường ao nuôi có nhiều biến động bất lợi đối với sức khoẻ của cá. Nhiệt độ nước có thể thay đổi đột ngột, tăng cao, khoảng dao động ngày đêm lớn vào mùa hè và những cơn dông ảnh hưởng đến PH môi trường ao nuôi làm cho cá bị stress, bỏ ăn, suy yếu tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh lấn át.

- Để hạn chế khả năng dịch bệnh xảy ra, ngoài việc tuân thủ quy trình phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao, chọn giống...từ đầu vụ, thì vào giai đoạn này người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật sau đây:

1. Quản lý tốt môi trường ao nuôi
- Nhiệt độ nước ao: Cá là động vật biến nhiệt, chúng không có khả năng sinh lý duy trì sự ổn định của nhiệt độ cơ thể, do vậy khi nhiệt độ nước thay đổi lớn sẽ gây stress, thậm chí gây chết cá. Để đảm bảo nước ao ít bị dao động quá lớn vào mùa hè cần giữ mức nước đủ sâu (thường từ 1,2 - 2m) để nước ao không bị nóng.

- Độ trong nước ao: Thông qua chỉ tiêu của độ trong mà người nuôi có thể đánh giá được tình trạng của hệ sinh vật phù du trong ao để có biện pháp xử lý. Độ trong thích hợp cho việc nuôi cá khoảng 30 - 45 cm.

- Vào giai đoạn chuyển mùa xuân sang hè, giờ nắng trong ngày nhiều hơn, nhiệt độ không khí cao hơn dẫn đến tình trạng tảo phát triển mạnh gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường ao nuôi. do đó cần thay nước định kỳ nửa tháng 1 lần, mỗi lần thay khoảng 30% lượng nước trong ao, duy trì màu nước ao nuôi có màu xanh vỏ đậu xanh hoặc màu xanh nõn chuối trong suốt quá trình nuôi; đối với những ao không thể thay được nước thì nên sử dụng các loại chế phẩm sinh học để cải thiện môi trường;

- Ổn định PH: PH nước ao nuôi cá thích hợp nhất từ 7,5 - 8,0; khi PH quá cao hoặc quá thấp sẽ làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối - nước giữa cơ thể cá và môi trường bên ngoài. Khi PH xuống thấp (< 5,5) sẽ giảm khả năng vận chuyển ôxy của Hemoglobin làm mang cá tiết ra nhiều chất nhầy dẫn đến giảm khả năng đề kháng đối với bệnh, nhất là bệnh cá do vi khuẩn. Khi PH cao (> 9) sẽ làm cho các tế bào ở mang cá và các mô của cá bị phá huỷ, dẫn đến cá bị chết. Vì vậy, việc duy trì ổn định PH môi trường ao nuôi cực kỳ quan trọng. Để làm được điều này cần bón vôi bột định kỳ 15 ngày/ lần với liều lượng 2 - 3kg/100m3 nước ao; khi trời mưa to cần rải vôi bột quanh bờ ao với lượng 1,5 - 2kg/10m2 bờ ao (tính theo phần mặt bờ phía trong ao).

2. Chăm sóc
- Cá chỉ bị bệnh khi có sự tác động qua lại đồng thời giữa 3 yếu tố: tác nhân gây bệnh đủ nhiều và đủ mạnh; môi trường nuôi kém dẫn đến tăng sự nhạy cảm của vật chủ hoặc tăng tính độc của tác nhân gây bệnh và ngay chính bản thân cá bị yếu. Điều đó có nghĩa rằng bệnh cá không chỉ là những yếu tố lây nhiễm, môi trường sống mà gồm cả vấn đề dinh dưỡng của cá. Do đó, cần tăng cường sức khoẻ nhằm tăng khả năng kháng bệnh cho cá bằng cách cho cá ăn những thức ăn có chất lượng tốt, đủ lượng, đúng thời gian.

- Ngoài ra, cá nuôi thiếu vitamin C cũng giảm sinh trưởng và khả năng chống chịu sốc và sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh. Để phòng bệnh, cần cho ăn bổ sung với lượng 30 g vitamin C/100 kg cá mỗi ngày, cho ăn liên tục trong 5 - 7 ngày.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Kỹ thuật ương cá tra bột

Kỹ thuật ương cá Tra bột


1. Thức ăn cho cá tra bột
- Cá tra bột thích ăn mồi tươi sống như luân trùng, trứng nước và các loại động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước. Đến ngày thứ 8 cá ăn được lăng quăng, ấu trùng muỗi, trùn chỉ và mùn bả hữu cơ.

- Cá bắt đầu xuống đáy tìm thức ăn từ ngày thứ 11 và từ ngày tuổi thứ 25 cá chuyển sang ăn tạp và tính ăn của cá giống như cá trưởng thành.

2. Chuẩn bị ao ương cá
Ao ương có diện tích từ 1000 m2 trở lên, độ sâu nước khoảng 1,5 - 2,0 m, điều kiện cấp thoát nước dễ dàng. (28TCN 213: 2001). Bờ ao phải chắc chắn, không bị rò rỉ, xung quanh bờ ao cần thoáng mát không bị cây cối che khuất.

3. Cải tạo ao

- Bơm cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ, làm sạch cỏ xung quanh bờ ao.

- Vét bùn đáy ao, chừa lại một lớp bùn khoảng 5cm. Bón vôi bột với liều lượng từ 7 - 10kg/100m2. Phơi ao 2 - 3 ngày.

- Lọc nước lấy vào ao với mức nước 1 - 1,2m trước khi thả cá 4 ngày. Có thể sử dụng bột đậu nành hay bột cá bón từ 2 - 3kg/100m2 để gây nuôi thức ăn tự nhiên.

- Để tăng thêm nguồn thức ăn tự nhiên, có thể cấy thêm trứng nước và trùn chỉ trước khi thả cá 1 - 2 ngày.

- Mật độ ương cá tra là 250-400 con/m2 (theo TCN 28TCN 211: 2004).
Khi khâu chuẩn bị ao tốt, cá bột sẽ có sẵn một lượng thức ăn tự nhiên trong ao.

4. Cho cá ăn
- Trong tuần thứ nhất thức ăn cho cá bột là thức ăn dạng bột đậm đặc chuyên dùng cho ương cá trong giai đoạn cá bột.

- Mỗi ngày cho cá ăn 6 - 8 lần.

- Sau khi cá được 1 tuần tuổi, có thể tập cho cá ăn các loại thức ăn chế biến.

- Khi cho cá ăn cần tập trung cá lại một chỗ bằng cách tạo tiếng động (gõ vào thành cầu hay thùng chứa thức ăn ...) dần dần sẽ tạo thành phản xạ cho cá, chỉ cần tạo tiếng động là cá sẽ tập trung về nơi cho ăn. Đối với những ao ương có diện tích rộng có thể thiết kế nhiều sàn ăn dọc theo ao.

- Thức ăn để ương nuôi cá tra trong giai đoạn 1 tháng tuổi cần phải có hàm lượng đạm (Protein) khoảng 25 - 30% (thành phần thức ăn trong bảng 1). Có thể sử dụng các loại thức ăn công nghiệp dạng đậm đặc. Lượng thức ăn cho cá dao động từ 10 - 20 kg/100 kg cá, cho cá ăn 2 - 3 lần trong ngày.

- Cần theo dõi chất lượng nước thường xuyên và giữ nước sạch, vì cá tra rất mẫn cảm với những biến đổi của điều kiện môi trường. Sau 2 tháng ương, cá đạt kích cỡ 10 - 12cm. Tỉ lệ sống trung bình đạt 20 - 30%.


Kỹ thuật ương cá tra bột trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đồng

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đồng (Channa striata Bloch, 1793)


Hiện nay cá lóc cá lóc được nuôi phổ biến trong các ao và bè gồm các loài sau: cá Lóc bông Channa micropletes, cá Lóc đen C. striata và cá Lóc môi trề Channa sp. Cá lóc là đối tượng nuôi quan trọng và là nguồn thực phẩm tốt cho người dân.

I. Đặc điểm sinh học
1. Phân bố và thích nghi


- Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông, thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nươc lợ, cóthể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 30 độ C. Cá thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dể ẩn mình rình mồi. Vào mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt. Mùa đông cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn.

- Cá lóc là loài cá dữ có kích thước tròn dài. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày to hình chử Y. Cá là loài cá dữ, ăn động vật điển hình. Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94 %, ếch nhái 1,03 % và 0,02 % là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ.

2. Đặc điểm sinh sản
- Cá lóc 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 - 8, tập trung vào tháng 4 - 5. Cá thườngf đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tỉnh có nhiều thực vật thủy sinh. Ở nhiệt độ 20 – 35 độ C sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bất đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.

- Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột. Ngoài ra chó thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột. Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muổi đỏ. Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá. Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào.

- Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu. Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125µm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính. Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên. Cá lớn nhanh vào mùa xuân - hè.

II. Kỹ thuật sản xuất giống cá Lóc
Cá Lóc bố mẹ sau khi nuôi vỗ thành thục, có thể dung hormone HCG hay não thuỳ thể cá Chép để kích thích cá sinh sản. Thông thường liều dung cho cá Lóc sinh sản hiệu quả là HCG với lượng dao động từ 3.000 – 4.000 UI/kg cá sinh sản.

III. Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá lóc
1. Ương cá giống
- Ương trong giai: Cá lóc đẻ tự nhiên trong ao hồ, đầm lầy. Mùa vớt cá giống từ tháng 5 - 7. Dùng vợt , te xúc trong thời gian cá con tập trung thành đàn. Cá con bắt đem về ương trong giai rộng 4 x 2 x 2 m, mật độ thả 70 con /m2. Cho ăn bằng cách nấu cháo thật nhừ trộn một ít cá tươi xay nhuyển và lòng đỏ trứng vịt luộc chín cho cá ăn ngày 3 - 4 lần. Trước khi cho ăn phải kiểm tra thức còn thừa hay thiếu để điều chỉnh cho phù hợp, cứ hai tuần trộn thêm Vitamin C và kháng sinh vào thức ăn để phòng bệnh cho cá, 1 - 2 tuần phải vệ sinh giai ương 1 lần. Sau hai tháng cá sẻ đạt trọng lượng 20g/con.


- Ương cá Lóc trong ao đất: Diện tích ao: 100 - 300 m2, ao sâu 0,8 - 1m. Ao cần tẩy dọn sạch, bón lót phân gây màu nước trước khi ương để gây động vật phù du làm thức ăn ban đầu, mỗi tuần cần bón thúc 1 lần phân ủ mục. Mật độ ương từ 30 - 40 con/m2. Từ ngày thứ 20 trở đi cho cá ăn bằng cá tạp, tép băm nhỏ là chính. Cần cho cá ăn đều, no, đủ, cứ 10 - 15 ngày san thưa và lọc cá một lần.

2. Nuôi cá lóc thương phẩm
2.1 Nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất
- Mùa vụ nuôi: Do nguồn cá giống còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nên mùa vụ thả nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết hàng năm. Thông thường mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.

- Giống nuôi: Giống cá lóc chọn thả nuôi phải có kích cở đồng đều, khỏe mạnh, nhiều nhớt, không bị thương tích hay bệnh tật. Cở cá giống phải đạt từ 20 - 30g/con, trong giai đặt ở ao đất mật độ thả từ 60 - 90 con/m3 là tốt nhất.

- Thức ăn: Thành phần thức ăn: Cá lóc là loài cá ăn động vật, thành phần thức ăn bao gồm nhiều loại động vật tươi sống như: cá, tép, ếch nhái... Trong quá trình nuôi, có thể tập luyện cá giống quen dần với loại thức ăn chế biến từ cá nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp tấm cám, bắp, và VitaminC...có hàm lượng protein cao hơn 20 % hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế biến để nuôi cá.

- Khẩu phần ăn: Khẩu phần thức ăn cho cá hàng ngày sẽ được định lượng cho phù hợp với các nhu cầu dinh dưỡng và tình hình sức khỏe ở các giai đoạn phát triển của cá có thể tóm tắt ở bảng sau:

Khẩu phần thức ăn cho cá Lóc (% so với trọng lượng cá thả nuôi)


- Cách cho cá Lóc ăn: Thông thường ở thời điểm đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn; đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp vào bè nuôi. Việc dùng sàn cho cá ăn được kẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi.

- Chăm sóc và quản lý: Hoạt động chăm sóc và quản lý cá lóc cần phải được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động này bao gồm: kiểm tra giai ( hệ thống dây, lưới...) và tình hình sức khỏe của cá nuôi, vệ sinh giai tránh rong bám nhiều gây mùi hôi thối.

- Thu hoạch: Để đạt kích thước thương phẩm, thời gian nuôi cá Lóc thường ít nhất là 6 tháng, thông thường là 7 - 8 tháng. Trọng lượng cá khi thu hoạch có thể đạt kích cở trung bình 1,2 - 1,5 kg/con. Trước khi thu hoạch 1-2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá bị chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt nhằm hạn chế cá bị sây sát. Vợt thu hoạch cá phải không có gút, các phương tiện khác phải nhẳn. Sau khi thu hoạch có thể dùng ghe đục hoặc thùng chứa để vận chuyển.

2.2 Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất
- Kỹ thuật nuôi cá lóc ở ao đất chưa được phổ biến nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên ở một số nước Châu Á khác nghề nuôi cá lóc trở thành một hoạt động thông thường đối với nghề nuôi thủy sản nước ngọt.

- Trong quá trình nuôi, để góp phần nâng cao năng suất, các giải pháp kỹ thuật thông thường cần chuẩn bị tốt ao nuôi tránh cá thất thoát.

- Chuẩn bị ao
+ Diện tích ao: 100 - 1000 m2, độ sâu: 1,5 - 2 m, nhiệt độ 23 – 32 độ C, pH
6.5 - 8.
+ Ao được cải tạo, dọn dẹp môi trường xung quanh, xãm lổ mọi, cống bọng chắc chắn. Bờ bao phải cao hơn đỉnh lủ cao nhất 0,5m. Dùng lưới chắn hoặc đăng tre cao 0,8 - 1m để tránh cá nhảy ra ngoài.
+ Mật độ thả nuôi: Mật độ nuôi trung bình 30 - 50 con/m2, không nên nuôi quá dày ảnh hưởng đến sức lớn của cá. Mật độ nuôi tùy thuộc vào kích cở cá giống thả, có thể thực hiện theo bảng đề nghị sau:

Mật độ nuôi cá Lóc trong ao đất


- Cho ăn và quản lý chăm sóc
+ Thức ăn giống như ở nuôi cá bè, khẩu phần ăn 5 - 7 % trọng lượng cá.
+ Dùng sàng để cho cá ăn và dể theo dõi cá. Ngày cho ăn hai lần vào buổi sáng và buổi chiều.
+ Thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động của cá. Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ 2-3 tuần thay nước một lần. Nếu có điều kiện thì cho nước lưu thông nhẹ thường xuyên.

2.3 Phòng và trị bệnh cho cá nuôi
- Cần định kỳ 15 ngày/lần sát trùng ao nuôi bằng vôi bột với liều lượng 2 - 4 kg/100m2, vôi được hoà tan và lấy nước trong tạt đều khắp ao để phòng bệnh cho cá.

- Một số bệnh thường gặp
+ Bệnh gió: Triệu chứng cá lồi mắt, bơi lờ đờ ở ven bờ. Dùng khoảng 200g lá trầu ăn, 200g cỏ mần trầu giã lấy nướctrộn với 150 ml dầu lửa và trộn đều vào thức ăn để cho cá ăn, xác bã rãi đều xuống ao.
+ Bệnh đỏ xoang miệng: Dùng cỏ mực giã nát vắt lấy nước trộn thức ăn cho cá ăn, xác bã rãi xuống ao.
+ Bệnh ghẻ lở: Dùng Tetracyline trộn vào thức ăn cho cá ăn.2.4

2.4 Thu hoạch
Hạ mực nước ao còn khoảng 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Khi thu hoạch toàn bộ thì phải tát cạn. Chu kỳ nuôi kéo dài, ít nhất là 5 - 6 tháng, trọng lượng trung bình 0,8 – 1 kg/con.

Kỹ thuật nuôi cá lóc đồng, Nguồn: Ts. Dương Nhựt Long - Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh trong ao

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh trong ao


Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao by CCTS | Ky thuat nuoi ca tra tham canh trong ao

1. Thiết kế ao nuôi


- Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500m2 trở lên.

- Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắc chắn và phải thiết kế lưới bao quanh ao.

- Độ sâu của ao từ 2 - 3m (28 TCN 213 : 2004). Ao phải có cống cấp và thoát nước.

- Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều ngang.

- Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.

- Trong ao nuôi nên thiết kế 1 hay nhiều sàn cho cá ăn, sẽ giúp ích cho
việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.

- Sàn ăn có thể được làm bằng tre, tràm hay bằng các loại gỗ ...

2. Chuẩn bị ao nuôi


Trước khi thả cá, ao cần được chuẩn bị kỹ theo các bước sau:
- Vét hết lớp bùn đáy ao, kiểm tra kỹ bờ ao, cống bộng, gia cố bờ ao, làm sàn ăn cho cá.

- Bón vôi bột với liều lượng 7 - 10kg/100m2.

- Nếu có điều kiện phơi ao 3 - 5 ngày, sau đó cấp nước vào với mức nước ban đầu là 1 - 1,2m.

3. Thời vụ thả giống
Thời vụ thả nuôi thích hợp nhất từ tháng 6 - 7 hàng năm, vì đây là mùa sinh sản của cá tra nên chất lượng con giống sẽ tốt hơn so với các thời điểm khác trong năm.

4. Kích cỡ và mật độ thả nuôi
Cá giống thả nuôi phải đều cỡ. Kích cỡ cá thả nuôi tốt nhất là 10 - 14cm, mật độ từ 15 - 20 con/m2 (TCN 28 TCN 213 : 2004).

5. Chọn cá giống
- Cá không bị dị tật, màu sắc tươi sáng: lưng xanh đen, bụng màu trắng bạc, các sọc dọc theo thân phải rõ ràng.

- Cá nhanh nhẹn, bơi lội khoẻ và chạy thành đàn. Cá không bị xây xát, các vi không bị rách.

6. Vận chuyển và thả giống
- Có thể vận chuyển theo 2 cách:
+ Vận chuyển hở bằng các dụng cụ như xô nhựa, chậu hay thuyền thông thuỷ (ghe đục).
+ Vận chuyển kín bằng cách đóng trong bao có oxy.

- Vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất vào sáng sớm hay chiều tối.

- Thả giống: Trước khi thả cá xuống ao cần tắm cá bằng nước muối 2 - 3% trong 5-6 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ được ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Khi thả cá vào ao, cần thả từ từ để cá quen dần với điều kiện mới. Nếu vận chuyển bằng bao nylon bơm oxy nên ngâm bao chứa cá giống trong nước ao 15-20 phút mới thả cá ra. Nếu vận chuyển bằng thuyền thông thủy (ghe đục) thì dùng lưới mắt nhỏ để kéo cá, thao tác nhẹ nhàng tránh làm cá xây xát.

7. Thức ăn cho cá
- Thức ăn cho cá thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của cá. Thức ăn cho cá nuôi thịt có hàm lượng đạm (protein) thích hợp từ 20 - 30%.

- Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, đây là một nguồn thức ăn tốt cho việc nuôi cá tra thâm canh trong ao. Chúng có những ưu điểm như hàm lượng các chất dinh dưỡng đầy đủ và ổn định, dễ kiểm soát do viên nổi nên dễ kiểm tra được lượng thức ăn dư thừa, ngoài ra còn dễ bảo quản và giảm chi phí nhân công.

- Có thể phối chế bằng các nguyên liệu có sẵn tại địa phương theo các công thức thức ăn trong bảng 2 và 3 (phụ lục). Tấm, cá tạp được nấu chín sau đó trộn đều với các thành phần thức ăn khác và ép thành viên. Kích thước của viên thức ăn tùy thuộc vào cỡ cá. Hạn chế sử dụng các loại nguyên liệu thực vật có nhiều sắc tố (carotenoid) như bột bắp vàng, rau muống vì các loại sắc tố này sẽ tích trữ lại trong thịt cá và làm cho thịt cá tra có màu vàng, bên cạnh đó cần bổ sung khoảng 2% các loại vitamin, premix khoáng vào thức ăn, 2 lần/tuần để giúp cá có sức đề kháng tốt với các loại bệnh.

- Nếu không có điều kiện ép viên thức ăn, có thể trộn và vắt thức ăn thành từng viên bằng tay để cho cá ăn. Có thể sử dụng bột keo hoặc bột mì (không nên sử dụng bột gòn vì sẽ làm cho thịt cá có màu vàng) làm chất kết dính để hạn chế sự tan rã của thức ăn trong nước.

8. Cho cá ăn
- Thức ăn chế biến sau khi ép thành viên nhỏ, rải từ từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn. Thức ăn viên công nghiệp cũng rải từ từ để cá sử dụng triệt để.

- Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6-10 giờ, chiều từ 16-18 giờ. Khẩu phần thức ăn tuỳ vào từng giai đoạn phát triển của cá. Trong 2 - 3 tháng đầu nuôi, thức ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm 25 - 28%. Giai đoạn tiếp theo cho đến khi thu hoạch, hàm lượng đạm của thức ăn giảm xuống còn 18 - 22%.

- Yêu cầu quản lý, sử dụng các loại thức ăn đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn để nuôi theo đúng quy định của tiêu chuẩn Ngành 28TCN 176:2002.

- Khi cho cá ăn cần chú ý các điểm sau:
+ Khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp phải chú ý đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn không được nhiễm Salmonella, nấm mốc độc (A spergillus flavus), độc tố Aflatoxin.
+ Nguyên liệu chế biến thức ăn chế biến có nguồn gốc động vật như cá tạp phải tươi, không bị ươn thối, bột cá có mùi thơm đặc trưng, không pha lẫn tạp chất, cá tạp khô không bị sâu mọt, không bị nhiễm Salmonella.
+ Không cho cá ăn thức ăn quá hạn sử dụng, thức ăn kém chất lượng hoặc thức ăn đã bị ôi thiu, nhiễm nấm mốc.

- Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên hàng ngày nơi chế biến thức ăn và các thiết bị, dụng cụ chế biến thức ăn.

- Nên tập cho cá ăn tập trung tại các sàn ăn. Rải thức ăn ít và chậm cho cá ăn hết thức ăn mới rải tiếp. Khi cá không còn tập trung lại sàn ăn là dấu hiệu cá đã no, thì ngừng cho ăn.


9. Quản lý ao nuôi
- Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, điều này rất dễ quan sát vì cá tra ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá.

- Mặc dù cá tra có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh với mật độ rất cao việc tuần tra, theo dõi hoạt động của cá nuôi phải được thực hiện thường xuyên.

- Những biểu hiện không tốt của cá trong ao nuôi như: cá nổi đầu, bơi lờ đờ, cá bỏ ăn hay cá có biểu hiện bệnh và chết phải được xử lý với những biện pháp thích hợp. Luôn giữ nguồn nước ao sạch và ổn định.

- Cần hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành sản phẩm, tăng chi phí đầu tư.

10. Thu hoạch
Cá tra nuôi trong ao sau 6 - 8 tháng thì có thể thu hoạch. Trọng lượng cá tra nuôi có thể đạt từ 0,7 - 1,5kg/con. Phương thức thu hoạch tốt nhất là đánh bắt bằng lưới và thu hoạch một lần, sau đó tát cạn ao để chuẩn bị cho vụ nuôi sau.



Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh


1. Thiết kế ao nuôi

- Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500m2 trở lên.

- Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắc chắn và phải thiết kế lưới bao quanh ao.

- Độ sâu của ao từ 2 - 3m (28 TCN 213 : 2004). Ao phải có cống cấp và thoát nước.

- Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều ngang.

- Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.

- Trong ao nuôi nên thiết kế 1 hay nhiều sàn cho cá ăn, sẽ giúp ích cho
việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.

- Sàn ăn có thể được làm bằng tre, tràm hay bằng các loại gỗ ...

2. Chuẩn bị ao nuôi

Trước khi thả cá, ao cần được chuẩn bị kỹ theo các bước sau:
- Vét hết lớp bùn đáy ao, kiểm tra kỹ bờ ao, cống bộng, gia cố bờ ao, làm sàn ăn cho cá.

- Bón vôi bột với liều lượng 7 - 10kg/100m2.

- Nếu có điều kiện phơi ao 3 - 5 ngày, sau đó cấp nước vào với mức nước ban đầu là 1 - 1,2m.

3. Thời vụ thả giống
Thời vụ thả nuôi thích hợp nhất từ tháng 6 - 7 hàng năm, vì đây là mùa sinh sản của cá tra nên chất lượng con giống sẽ tốt hơn so với các thời điểm khác trong năm.

4. Kích cỡ và mật độ thả nuôi
Cá giống thả nuôi phải đều cỡ. Kích cỡ cá thả nuôi tốt nhất là 10 - 14cm, mật độ từ 15 - 20 con/m2 (TCN 28 TCN 213 : 2004).

5. Chọn cá giống
- Cá không bị dị tật, màu sắc tươi sáng: lưng xanh đen, bụng màu trắng bạc, các sọc dọc theo thân phải rõ ràng.

- Cá nhanh nhẹn, bơi lội khoẻ và chạy thành đàn. Cá không bị xây xát, các vi không bị rách.

6. Vận chuyển và thả giống
- Có thể vận chuyển theo 2 cách:
+ Vận chuyển hở bằng các dụng cụ như xô nhựa, chậu hay thuyền thông thuỷ (ghe đục).
+ Vận chuyển kín bằng cách đóng trong bao có oxy.

- Vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất vào sáng sớm hay chiều tối.

- Thả giống: Trước khi thả cá xuống ao cần tắm cá bằng nước muối 2 - 3% trong 5-6 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ được ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Khi thả cá vào ao, cần thả từ từ để cá quen dần với điều kiện mới. Nếu vận chuyển bằng bao nylon bơm oxy nên ngâm bao chứa cá giống trong nước ao 15-20 phút mới thả cá ra. Nếu vận chuyển bằng thuyền thông thủy (ghe đục) thì dùng lưới mắt nhỏ để kéo cá, thao tác nhẹ nhàng tránh làm cá xây xát.

7. Thức ăn cho cá
- Thức ăn cho cá thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của cá. Thức ăn cho cá nuôi thịt có hàm lượng đạm (protein) thích hợp từ 20 - 30%.

- Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, đây là một nguồn thức ăn tốt cho việc nuôi cá tra thâm canh trong ao. Chúng có những ưu điểm như hàm lượng các chất dinh dưỡng đầy đủ và ổn định, dễ kiểm soát do viên nổi nên dễ kiểm tra được lượng thức ăn dư thừa, ngoài ra còn dễ bảo quản và giảm chi phí nhân công.

- Có thể phối chế bằng các nguyên liệu có sẵn tại địa phương theo các công thức thức ăn trong bảng 2 và 3 (phụ lục). Tấm, cá tạp được nấu chín sau đó trộn đều với các thành phần thức ăn khác và ép thành viên. Kích thước của viên thức ăn tùy thuộc vào cỡ cá. Hạn chế sử dụng các loại nguyên liệu thực vật có nhiều sắc tố (carotenoid) như bột bắp vàng, rau muống vì các loại sắc tố này sẽ tích trữ lại trong thịt cá và làm cho thịt cá tra có màu vàng, bên cạnh đó cần bổ sung khoảng 2% các loại vitamin, premix khoáng vào thức ăn, 2 lần/tuần để giúp cá có sức đề kháng tốt với các loại bệnh.

- Nếu không có điều kiện ép viên thức ăn, có thể trộn và vắt thức ăn thành từng viên bằng tay để cho cá ăn. Có thể sử dụng bột keo hoặc bột mì (không nên sử dụng bột gòn vì sẽ làm cho thịt cá có màu vàng) làm chất kết dính để hạn chế sự tan rã của thức ăn trong nước.

8. Cho cá ăn
- Thức ăn chế biến sau khi ép thành viên nhỏ, rải từ từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn. Thức ăn viên công nghiệp cũng rải từ từ để cá sử dụng triệt để.

- Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6-10 giờ, chiều từ 16-18 giờ. Khẩu phần thức ăn tuỳ vào từng giai đoạn phát triển của cá. Trong 2 - 3 tháng đầu nuôi, thức ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm 25 - 28%. Giai đoạn tiếp theo cho đến khi thu hoạch, hàm lượng đạm của thức ăn giảm xuống còn 18 - 22%.

- Yêu cầu quản lý, sử dụng các loại thức ăn đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn để nuôi theo đúng quy định của tiêu chuẩn Ngành 28TCN 176:2002.

- Khi cho cá ăn cần chú ý các điểm sau:
+ Khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp phải chú ý đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn không được nhiễm Salmonella, nấm mốc độc (A spergillus flavus), độc tố Aflatoxin.
+ Nguyên liệu chế biến thức ăn chế biến có nguồn gốc động vật như cá tạp phải tươi, không bị ươn thối, bột cá có mùi thơm đặc trưng, không pha lẫn tạp chất, cá tạp khô không bị sâu mọt, không bị nhiễm Salmonella.
+ Không cho cá ăn thức ăn quá hạn sử dụng, thức ăn kém chất lượng hoặc thức ăn đã bị ôi thiu, nhiễm nấm mốc.

- Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên hàng ngày nơi chế biến thức ăn và các thiết bị, dụng cụ chế biến thức ăn.

- Nên tập cho cá ăn tập trung tại các sàn ăn. Rải thức ăn ít và chậm cho cá ăn hết thức ăn mới rải tiếp. Khi cá không còn tập trung lại sàn ăn là dấu hiệu cá đã no, thì ngừng cho ăn.

9. Quản lý ao nuôi
- Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, điều này rất dễ quan sát vì cá tra ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá.

- Mặc dù cá tra có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh với mật độ rất cao việc tuần tra, theo dõi hoạt động của cá nuôi phải được thực hiện thường xuyên.

- Những biểu hiện không tốt của cá trong ao nuôi như: cá nổi đầu, bơi lờ đờ, cá bỏ ăn hay cá có biểu hiện bệnh và chết phải được xử lý với những biện pháp thích hợp. Luôn giữ nguồn nước ao sạch và ổn định.

- Cần hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành sản phẩm, tăng chi phí đầu tư.

10. Thu hoạch
Cá tra nuôi trong ao sau 6 - 8 tháng thì có thể thu hoạch. Trọng lượng cá tra nuôi có thể đạt từ 0,7 - 1,5kg/con. Phương thức thu hoạch tốt nhất là đánh bắt bằng lưới và thu hoạch một lần, sau đó tát cạn ao để chuẩn bị cho vụ nuôi sau.


Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.