Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm
Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012
Kỹ thuật ương cá Sặc Rằn
Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012
Thông tin về cá Chép V1
Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012
Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc
Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.
Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012
Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa
Kỹ thuật phòng bệnh cho cá giai đoạn chuyển mùa by ST Báo AB | Ky thuat phong benh cho ca giai doan chuyen mua
Hiện nay, với xu hướng thâm canh hóa trong nghề nuôi thủy sản thì bệnh cá xảy ra trong quá trình nuôi - nhất là vào giai đoạn chuyển mùa – là điều khó tránh khỏi và nó cũng đã gây ra nhiều tổn thất cho người nuôi. Tuy nhiên, nếu người nuôi tuân thủ tốt một số yêu cầu kỹ thuật sau đây sẽ góp phần hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra do các bệnh.
1. Những nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh cá
- Chất lượng nước bị thay đổi: Nhiệt độ nước thay đổi đột ngột vào tháng 12 đến tháng 2 (có thể xuống thấp đến 18 – 22 độ C) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 3 đến tháng 5 (lên đến 30 – 35 độ C) đều làm cho cá bị sốc bỏ ăn, suy yếu, tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh cá phát triển, làm cho cá dễ bệnh. Nước ao kém chất lượng do quản lý không đúng kỹ thuật hoặc nguồn nước cấp bị ô nhiễm hóa chất độc, vi khuẩn, vi rút.
- Chất lượng thức ăn kém: Chất lượng thức ăn kém, không đủ dinh dưỡng cho cá sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển và làm ô nhiễm nước ao.
- Thiếu cẩn thận khi chăm sóc: Các dụng cụ cho ăn không được vệ sinh thường xuyên là nơi ẩn chứa mầm bệnh. Các dụng cụ vận chuyển, bắt cá như lưới vợt, thùng... có thể làm xây xát cá trong quá trình thao tác và vì thế mầm bệnh có điều kiện xâm nhập vào cá nuôi.
- Nguồn giống thả kém chất luợng: Cá có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống thả nuôi chưa được kiểm tra chất luợng, mang sẵn mầm bệnh mà chưa được xử lý diệt trùng, khi cá thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ thuận lợi cho mầm bệnh phát triển.
2. Phòng bệnh cho cá
Trong giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi đột ngột dễ làm cho cá bị sốc, tác nhân gây bệnh có điều kiện phát triển và xâm nhập vào vật nuôi. Nên điều cơ bản để giữ sức khỏe và phòng bệnh cho đàn cá là việc tránh sốc bằng cách duy trì chất lượng môi trường nước tốt qua việc chăm sóc đúng kỹ thuật.
a) Vệ sinh ao đìa sạch sẽ trước mỗi vụ nuôi
Dọn sạch cỏ; vét bùn đáy ao; lắp hết các lỗ mọi hang hóc xung quanh bờ ao; bón vôi để tiêu diệt mầm bệnh, ổn định pH và diệt tạp.
b) Chọn loài cá nuôi phù hợp
- Hiện nay có rất nhiều loài cá nuôi. Để chọn được loài cá nuôi thích hợp với điều kiện từng nông hộ cần phải xem xét 3 vấn đề sau:
+ Thức ăn: Khả năng cung cấp thức ăn là tự có hay mua.
+ Mục đích sử dụng: Nuôi để bán hay nuôi để ăn.
+ Tùy từng vùng sinh thái khác nhau mà chọn loại cá nuôi cho phù hợp. Ví dụ vùng khó thay nước hay mô hình VAC có thể nuôi cá trê, tra...; vùng phèn có thể nuôi cá rô đồng, sặt rằn, trê...
- Từ cơ sở đó mà nông hộ có thể chọn loài cá nuôi phù hợp với điều kiện thực tế của mình để có thể tận dụng hết những tiềm năng sẵn có tại nông hộ.
3.Chất lượng con giống
Chọn giống tốt, không mang mầm bệnh, cá tương đối đều cỡ, màu sắc sáng đẹp, bơi lội nhanh nhẹn, phản ứng nhanh, không bị dị hình, trầy sướt, nên mua giống ở những nơi có uy tín... Trước khi thả giống nên tắm cá giống qua nước muối 2 - 3% trong 5 - 10 phút và phải theo dõi cá trong quá trình tắm.
4. Mật độ thả thích hợp
Nên thả đúng mật độ tùy theo từng loài cá: Nhóm cá không có cơ quan hô hấp phụ (rô phi, mè hoa, trắm cỏ, chép, mè vinh...) thả với mật độ dưới 5 con/m2; nhóm cá có cơ quan hô hấp phụ (tra, trê, tai tượng, rô đồng, sặt rằn...) thả với mật độ 5 - 10 con/m2. Thả cá đúng mật độ để cá lớn nhanh lớn đều, ít bệnh, rút ngắn được thời gian nuôi, đạt cỡ thương phẩm lớn bán được giá cao, không phải tốn tiền nhiều để mua con giống và thức ăn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.
5. Nuôi ghép
- Trong cùng một ao có thể nuôi ghép các loài cá với nhau để tận dụng không gian mặt nước và tất cả các loại thức ăn có trong ao vì mỗi một loài cá sống ở một tầng nước và có loại thức ăn riêng. Khi nuôi ghép cần lưu ý:
+ Số loài cá thả ghép dưới 4 loài.
+ Đối tượng nuôi chính trên 50% tổng các loại cá, còn lại là các đối tượng ghép thêm.
+ Các loại cá thả ghép phải tương đối đều cỡ nhau và thả cùng thời gian.
+ Các loài cá ghép phải không cùng tính ăn và không gian sống.
+ Thời gian nuôi và giá cá thương phẩm các loài cá gần bằng nhau để dễ bán.
- Một số đối tượng thường kết hợp nuôi ghép và tỷ lệ nuôi ghép: Cá tai tương 80% ghép sặt rằn 20%; hoặc cá tra 80% ghép rô phi 20% hoặc cá rô đồng 70% ghép sặt rằn 30%...
6. Chăm sóc đúng kỹ thuật, cho ăn phải đạt 4 yêu cầu
Định lượng, định chất, định vị trí, định thời gian để đảm bảo cho cá khỏe mạnh, ít nhiễm bệnh. Nếu thức ăn là tấm cám nấu thì nên để vô sàng cho cá ăn để dễ quản lý được thức ăn.
7. Quản lý chất lượng nước ao nuôi
Ao phải thông thoáng, độ sâu ao nuôi cá thịt 1,2 - 2m, độ sâu ao ương cá giống: 0,5 – 1,2m, pH ổn định từ 6,5 – 8,5 tức là nước ao nuôi cá có màu xanh vỏ đậu hoặc xanh lá chuối non là tốt, hàm lượng oxy hòa tan 3 - 8mg/l, nhiệt độ nước: 28 – 30 độ C.
8. Đối với ao khó thay nước hoặc không thay nước được
Khi nuôi cá vào các tháng cuối gần thu hoạch, nước ao và nền đáy ao rất dơ do thức ăn dư thừa và phân cá thải ra trong suốt quá trình nuôi nên cá có nguy cơ phát sinh bệnh rất cao, do đó có thể xử lý bằng cách dùng các chế phẩm sinh học.
9. Phòng bệnh cho cá lúc giao mùa
Vào mùa mưa, nhất là giai đoạn chuyển muà nắng sang mưa, ao rất dễ bị xì phèn làm pH nước ao giảm thấp; pH thay đổi đột ngột như vậy làm cá bị sốc sẽ giảm sức đề kháng và mầm bệnh dễ dàng có cơ hội xâm nhập vào cơ thể cá. Nên phòng bằng cách: Định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ bẩn từ trên bờ ao xuống. Đồng thời, ngâm vôi vào nước để nguội, lấy phần nước vôi tạt đều khắp ao lượng 1 - 3 kg/100m3 nước, có tác dụng ổn định pH nước và phòng bệnh cho cá.
10. Một số lưu ý
Trong suốt quá trình nuôi nên phòng bệnh cho cá là tốt nhất, vì khi các bị bệnh việc điều trị rất khó khăn, tốn kém và hiệu quả không cao. Vì vậy định kỳ 2 lần/tuần, trộn Vitamin C vào thức ăn cho cá ăn để tăng sức đề kháng cho cá. Lưu ý: Vitamin C rất dễ tan trong nước nên khi trộn Vitamin C vào thức ăn phải dùng chất kết dính như dầu mực, bột gòn... để tăng hiệu quả sử dụng. Hoặc có thể sử dụng những cây thuốc Nam sẵn có tại chỗ để phòng bệnh cho cá như: Lá giác, lá xoan, cỏ mực…
Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012
Cách phòng bệnh cho tôm cá trong mùa lũ
Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012
Đặc điểm sinh học cá Mè Vinh
Đặc điểm sinh học cá mè vinh by ST | Dac diem sinh hoc ca me vinh 1. Phân loại và hình thái - Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993). Cá mè vinh (Barbodes gonionotus) là loài cá kinh tế nước ngọt thuộc:
+ Bộ: Cypriniformes
+ Họ: Cyprinidae
+ Giống: Barbodes
+ Loài: Barbodes gonionotus (Bleeker, 1850)
+ Tên gọi:
. Tên tiếng Việt: cá mè vinh
. Tên tiếng Anh: Silver barb
- Cá mè vinh thuộc loại cá cỡ nhỏ, chiều dài tối đa chừng 35 cm. Thân có dẹp 2 bên, có dáng hình thoi cao. Đầu nhỏ, mõm tù. Miệng cá nhỏ nằm ở đầu mõm, có 2 đôi râu (mõm và hàm) dài bằng nhau. Mắt cá to lệch về nữa trên của đầu. Thân trắng bạc, lưng xám đen, bụng xám bạc, đôi khi ánh vàng. Vây bụng và vây hậu môn có màu vàng da cam phớt đỏ ở phía ngoài.
2. Phân bố
Cá mè vinh thường phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonexia….Ở Việt Nam cá phân bố rộng rãi trong các kênh rạch, sông ngòi, đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long và sông Đồng Nai. Cá được di nhập ra nuôi ở các tỉnh phía Bắc.
3. Dinh dưỡng
Lúc còn nhỏ (cá giống nhỏ) ăn các loại thực vật thủy sinh mềm như các loại rong nước, bèo cám... Khi lớn cá có thể ăn các loại cỏ trên cạn. Ngoài ra cá cũng có thể ăn được thức ăn chế biến từ các lọai phụ phế phẩm nông nghịêp sẳn có tại địa phương (Dương Nhựt Long, 2003).
4. Sinh trưởng
Theo Lê Như Xuân và ctv (1994), cá mè vinh có tốc độ lớn tương đối thực tế nhanh, nuôi trong ruộng lúa với mật độ vừa phải (1 - 2 con/m2) cá có thể đạt 0,3 - 0,35 kg/con/ sau 6 – 8 tháng. Trong hệ thống mương vườn kết hợp, mật độ cá mè vinh thả 3 con/m2, sau 6 tháng nuôi, trọng lượng cá có thể đạt 150 – 240 gam/con.
5. Sinh sản
- Theo Phạm Minh Thành (2009), cá mè vinh tham gia sinh sản lần đầu sau 1 năm tuổi. Ngoài tự nhiên, mùa vụ sinh sản của cá thường kéo dài từ tháng 5 – 9. Do vậy, trong hoạt động sinh sản nhân tạo, có thể cho cá mè vinh sinh sản gần như quanh năm, chỉ trừ một vài tháng cuối năm như (tháng 11 và tháng 12). Một cá mẹ có thể tham gia sinh sản 4 – 5 lần/năm. Sức sinh sản của cá mè vinh dao động từ 200.000 – 300.000 trứng/kg. Trứng cá mè vinh thuộc lọai bán trôi nổi như cá mè trắng, cá trôi Ấn độ. Trong điều kiện nhiệt độ nước dao động từ 27 – 29 độ C, trứng cá mè vinh sẽ nở sau 12 giờ.
- Cá mè vinh là loài di cư sinh sản, nuôi trong ao ruộng mương vườn mặc dù cá có trứng nhưng cá không đẻ đó là do thiếu các điều kiện thích hợp cho cá sinh sản.
Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012
Cách hạn chế bệnh gan thận mủ lây lan trên cá Tra
Cách hạn chế bệnh gan thận mủ lây lan trên cá tra by C.ty UVVN | Cach han che benh gan than mu lay lan tren ca tra
1. Tình hình xuất hiện bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
- Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính gây ra bệnh gan thận mủ trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi thâm canh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Đây là loại vi khuẩn đặc thù gây bệnh chủ yếu trên cá da trơn nuôi công nghiệp. Vi khuẩn E. ictaluri đầu tiên đã phân lập được trên cá nheo Mỹ (Ictalurus furcatus) gây bệnh nhiễm trùng máu, trên cá trê trắng (Clarias batrachus) ở Thái Lan và trên một số loài cá da trơn khác.

- Ở nước ta, bệnh này xuất hiện đầu tiên vào mùa lũ năm 1998 ở các tỉnh nuôi cá tra thâm canh phát triển mạnh như: An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Sau đó, bệnh lan dần đến các vùng có nuôi cá tra lân cận. Bệnh gan thận mủ thường xuất hiện vào mùa lũ và cao điểm vào tháng 6, 7 và 9 (Sơ đồ 1). Trong 1 chu kỳ nuôi, bệnh mủ gan có thể xuất hiện ít nhất 3 - 5 lần. Đặc biệt, những năm gần đây bệnh này đã xuất hiện hầu như quanh năm và đã lây lan khắp các tỉnh có nuôi cá tra ở Việt Nam. Bệnh xuất hiện trên tất cả các giai đoạn phát triển của cá tra, trong đó tỉ lệ hao hụt lớn nhất ở giai đoạn giống, có thể lên đến 50 - 90%.

2. Quản lý các yếu tố bộc phát bệnh
a) Kiểm tra phát hiện bệnh
- Trong quá trình nuôi, việc thường xuyên kiểm tra và theo dõi đàn cá nuôi có thể giúp cho người nuôi phát hiện bệnh sớm trước khi cá chết hàng loạt. Một vài dấu hiệu bất thường cần chú ý như: hoạt động của cá thay đổi do bị sốc, cá nổi đầu hay tập trung ở khu vực nước chảy, giảm ăn hoặc bỏ ăn, nhảy lên khỏi mặt nước.
- Khi cá tra nhiễm bệnh gan thận mủ, người nuôi có thể dựa vào dấu hiệu bệnh lý là những đốm trắng xuất hiện trên gan, thận và tỳ tạng.

b) Theo dõi sự biến động của các yếu tố môi trường
- Mật độ nuôi cao trong các hệ thống nuôi thâm canh làm cho cá bị sốc và gây nên những biến đổi về môi trường tạo điều kiện cho bệnh bộc phát. Sự tích tụ chất thải từ thức ăn dư thừa đều sinh ra độc tố khi phân hủy làm ảnh hưởng trực tiếp đến cá và tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Do vậy, người nuôi cần phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như oxy, pH, nhiệt độ, NH3, độ mặn, ... Mỗi hộ nuôi cần có bộ kít đo môi trường và kiểm tra ít nhất 1 lần trong 1 tuần. Nên ghi nhận sự thay đổi của các yếu tố môi trường vào thời điểm giống nhau. Đo các chỉ tiêu môi trường 2 lần trong ngày một lần vào sáng (7 - 8h) và vào chiều mát (5 - 6h).
- Người nuôi cần theo dõi hoạt động, biểu hiện của cá trong điều kiện nhiệt độ mà bệnh gan thận mủ dễ bùng phát (28 – 30 độ C). Khi điều kiện môi trường xấu cần đưa ra biện pháp điều chỉnh thích hợp bằng các biện pháp như thay nước mới, kiểm tra độ sâu mực nước, cấp thêm nước vào ao.
c) Thức ăn cho cá
Chế độ ăn đóng vai trò rất quan trọng làm thay đổi tính mẫn cảm của cá đối với vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh gan thận mủ. Cho cá ăn vừa phải, không có cá ăn quá nhiều vì lượng thức ăn dư thải ra môi trường bên ngoài làm tích tụ chất cặn bã gây nên ô nhiễm cho ao nuôi làm cho cá dễ mẫn cảm với sự bộc phát bệnh. Khi cá ở giai đoạn nhỏ (50 - 80g) cho ăn tối đa khoảng 5% trọng lượng cơ thể, cá lớn khoảng 2% trọng lượng cơ thể. Không cho ăn quá 3 lần trên ngày vào thời điểm nhiệt độ nước thấp nhất, không nên cho ăn vào giữa trưa khi mặt trời lên cao. Khi thấy cá nuôi có những dấu hiệu bất thường, ngưng cho cá ăn hoặc giảm lượng thức ăn có thể là một biện pháp tốt để hạn chế bệnh.
d) Cách phòng bệnh lây lan
- Cá giống cần được quan sát cẩn thận, mỗi biểu hiện bất thường hoặc triệu chứng bệnh ở cá phải được xử lý kịp thời. Cá giống mua về cần được kiểm tra cẩn thận để loại bỏ những con cá bị xây xát nhiều, nên tắm nước muối 0,5% trong 5 - 10 phút trước khi thả nuôi. Không nên chọn cá giống đã nhiễm bệnh gan thận mủ.
- Khi dịch bệnh xảy ra, việc vứt cá ra sông, chôn hoặc bán cá chết cho những hộ nuôi cá khác đã tạo điều kiện cho bệnh lan tràn từ vùng nuôi này đến vùng nuôi khác ở ĐBSCL. Do vậy, người nuôi cần phải tuyệt đối thực hiện các biện pháp khử trùng ao, các dụng cụ và xử lý cá chết như: (1) Tiệt trùng các dụng cụ (lưới, vợt, sọt, ống dây) bằng Chlorine 10-15 g/m3 trong 30 phút; (2) Cá chết phải vớt ra khỏi ao, bè càng sớm càng tốt, và chôn vào hố cách ly có rải vôi sống (CaO) để tiệt trùng; (3) Nước thải từ ao cá bệnh cần được xử lý diệt khuẩn trước khi xả ra ngoài.
- Cá tra nhiễm bệnh gan thận mủ sẽ mẫn cảm với các bệnh khác như: bệnh do ký sinh trùng, bệnh xuất huyết và bệnh trắng gan, trắng mang, ... do vậy cần tích cực phát hiện bệnh và điều trị càng sớm càng tốt để giảm thiệt hại. Dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh. Lựa chọn loại kháng sinh mà vi khuẩn gây bệnh này còn nhạy (dựa vào kết quả kháng sinh đồ).
- Tóm lại, việc phòng bệnh ở cá tra phải kết hợp với nguồn cá giống sạch bệnh, quản lý tốt môi trường nuôi và đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp. Cần sớm nghiên cứu Vaccine phòng bệnh gan thận mủ trên cá tra một cách tích cực và hiệu quả hơn.
Bài viết đã được mua tác quyền, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Thạc Sỹ T.T.Dung, Khoa TS, ĐHCT.
Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012
Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng



Kỹ thuật nuôi cá Bống tượng – Kỹ thuật sản xuất giống

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012
Kỹ thuật chuẩn bị ao ương
Kỹ thuật chuẩn bị ao ương by C.ty UV-VN | Ky thuat chuan bi ao uong
Trong ương nuôi cá, ngoài những vấn đề như chất lượng cá giống, thức ăn, chăm sóc… người nuôi cá cũng cần chú trọng việc chuẩn bị ao. Chuẩn bị ao tốt sẽ tạo được một môi trường nước có chất lượng tốt, ổn định và hạn chế bớt mầm bệnh cho cá nuôi. Đối với ao ương nuôi cá cần phải chuẩn bị trước khi thả cá theo các bước sau:

1. Dọn sạch cỏ và cây lớn xung quanh ao
Việc này quan trọng đối với những ao ương cá con. Vì ao ương cần đầy đủ ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật thủy sinh quang hợp giúp ổn định môi trường và tạo ra nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá. Ao nuôi cá thoáng, không có cây lớn che xung quanh thì việc khuếch tán oxy từ không khí vào nước được dễ dàng hơn, hạn chế bớt tình trạng thiếu oxy cho cá nuôi. Ngoài ra, dọn sạch cây cỏ xung quanh bờ ao cũng góp phần hạn chế sinh vật địch hại gây hại cho cá con.
2. Bơm cạn nước và vét bùn đáy ao
Đối với những ao đã được ương nuôi ở vụ trước thì vật chất hữu cơ từ thức ăn dư thừa, chất thải của cá và phù sa được tích tụ ở đáy ao. Vì vậy, việc bơm cạn nước và vét bùn đáy ao là rất cần thiết để nhằm giảm bớt sự ô nhiễm và mầm bệnh tích tụ ở đáy ao. Thông thường ở ao nuôi cá người ta thường dọn đáy ao bằng cách sử dụng máy hút bùn đối với các ao lớn hoặc vét bùn bằng phương pháp thủ công đối với các ao có diện tích nhỏ.
3. Bón vôi và diệt tạp
- Sau khi bơm cạn nước và vét bùn, đáy ao cần được bón vôi nhằm tạo điều kiện để các chất hữu cơ được phân hủy, cải tạo phèn và ổn định pH. Sau một vụ nuôi, vật chất hữu cơ tích tụ ở đáy ao bị phân hủy yếm khí sinh ra nhiều axít hữu cơ làm cho pH của đất đáy ao bị giảm thấp do các ion H+ bị hấp thụ trên bề mặt keo đất. pH thấp sẽ làm ức chế sự phát triển của vi sinh vật phân hủy, pH tăng sau khi bón vôi sẽ kích thích vi sinh vật phát triển và khoáng hóa nhanh các chất hữu cơ còn lại ở đáy ao. Đối với những ao nuôi trên vùng đất nhiễm phèn các cation axít (Al3+ và Fe3+) cũng bị hấp thụ trên bề mặt keo đất gây pH thấp, trường hợp này cũng cần bón vôi để cải tạo nền đáy. Vôi được sử dụng để bón cho ao nuôi cá thường là vôi sống (CaO) hoặc đá vôi nghiền (CaCO¬3). Tốt nhất nên dùng vôi sống khi chuẩn bị ao vì vôi này có hoạt tính trung hòa cao và diệt mầm bệnh tốt hơn những loại vôi khác. Vôi được rải đều ở đáy ao và cả bờ ao, cần tập trung bón nhiều vôi ở những bãi cho ăn hoặc những nơi đáy ao còn đọng nước. Liều lượng vôi bón khi chuẩn bị ao như sau:

- Sau khi bón vôi, đáy ao cần được phơi từ 2-3 ngày để các phản ứng hóa học được xảy ra dễ dàng và nhanh hơn. Phản ứng hóa học của vôi khi được bón vào ao như sau:

- Nhờ sự thay thế của cation Ca2+ trên bề mặt hạt keo nên độ pH của đáy ao tăng lên đáng kể (có thể lớn hơn 12). Ở pH cao (pH>12), toàn bộ mầm bệnh và sinh vật địch hại trong lớp bùn đáy ao bị tiêu diệt. Như vậy, bón vôi vừa có tác dụng cải tạo phèn, vừa có tác dụng diệt tạp và mầm bệnh trong ao. Ngoài ra, các xác hữu cơ bị phân hủy nhanh (sau khi pH giảm dần và ổn định sau 2 - 3 ngày) sẽ là nguồn phân hữu cơ tốt cho sự phát triển các vi sinh vật có lợi cho ao cá về sau.
- Đối với các ao không thể bơm cạn nước thì có thể sử dụng dây thuốc cá (1 - 2 kg/100 m3) hoặc saponin (0,2 - 0,3 kg/100 m3) để diệt tạp trong quá trình chuẩn bị ao nuôi cá, tốt nhất nên sử dụng vào lúc trời nắng nóng sẽ tăng tác dụng của hóa chất.
4) Cấp nước vào ao và gây nuôi thức ăn tự nhiên
- Cấp nước vào ao qua túi lọc mịn để ngăn không cho trứng, ấu trùng và con non của các động vật gây hại theo nước vào ao nuôi. Các sinh vật này có thể là vật chủ trung gian lây truyền mầm bệnh cho cá nuôi, cạnh tranh thức ăn hoặc chúng có thể tấn công và ăn cả cá nuôi. Khâu lọc nước vào ao cần đặc biệt chú ý đối với những ao ương từ cá bột lên cá giống. Vì cá bột có khả năng tự vệ, thích ứng với điều kiện môi trường và sức đề kháng rất kém.
- Việc gây màu nước nhằm làm ổn định điều kiện môi trường nước ao nuôi, ngăn chặn sự phát triển của tảo đáy, tảo độc và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài sinh vật làm thức ăn tự nhiên nhằm cung cấp một phần nguồn dinh dưỡng cho cá (đặc biệt là đối với ao ương từ cá bột lên cá giống). Thông thường người nuôi sử dụng phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ dùng trong sản xuất nông nghiệp (NPK) hoặc các loại phân bón gây màu nước chuyên dùng cho thủy sản. Phân hữu cơ được dùng phổ biến trong ương nuôi cá là thức ăn công nghiệp với hàm lượng protein cao hoặc bột cá, bột đậu nành. Việc bón phân hữu cơ gây màu nước có thể được thực hiện đồng thời với việc bón vôi trong quá trình chuẩn bị ao, riêng đối với phân vô cơ thì được bón sau khi đã cấp nước vào ao. Liều lượng phân hữu cơ bón gây màu là 0,3 – 0,4kg/100m2 kết hợp với phân vô cơ là 0,2 – 0,3kg/100m2. Nước sau khi được cấp vào ao và bón phân gây màu khoảng 2 - 3 ngày là có thể thả cá để ương nuôi.
“Bài viết đã được UV-Việt Nam mua tác quyền từ tác giả. Bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn từ UV-Việt Nam”.
Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012
Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa
Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa ST | Cach phong benh cho ca khi chuyen mua
Nhằm hạn chế khả năng dịch bệnh xảy ra, ngoài việc tuân thủ quy trình phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao, chọn giống...từ đầu vụ, thì vào giai đoạn này người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật.

Điều kiện thời tiết khí hậu giai đoạn chuyển mùa thường làm cho môi trường ao nuôi có nhiều biến động bất lợi đối với sức khoẻ của cá. Nhiệt độ nước có thể thay đổi đột ngột, tăng cao, khoảng dao động ngày đêm lớn vào mùa hè và những cơn dông ảnh hưởng đến PH môi trường ao nuôi làm cho cá bị stress, bỏ ăn, suy yếu tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh lấn át.
- Để hạn chế khả năng dịch bệnh xảy ra, ngoài việc tuân thủ quy trình phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao, chọn giống...từ đầu vụ, thì vào giai đoạn này người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật sau đây:
1. Quản lý tốt môi trường ao nuôi
- Nhiệt độ nước ao: Cá là động vật biến nhiệt, chúng không có khả năng sinh lý duy trì sự ổn định của nhiệt độ cơ thể, do vậy khi nhiệt độ nước thay đổi lớn sẽ gây stress, thậm chí gây chết cá. Để đảm bảo nước ao ít bị dao động quá lớn vào mùa hè cần giữ mức nước đủ sâu (thường từ 1,2 - 2m) để nước ao không bị nóng.
- Độ trong nước ao: Thông qua chỉ tiêu của độ trong mà người nuôi có thể đánh giá được tình trạng của hệ sinh vật phù du trong ao để có biện pháp xử lý. Độ trong thích hợp cho việc nuôi cá khoảng 30 - 45 cm.
- Vào giai đoạn chuyển mùa xuân sang hè, giờ nắng trong ngày nhiều hơn, nhiệt độ không khí cao hơn dẫn đến tình trạng tảo phát triển mạnh gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường ao nuôi. do đó cần thay nước định kỳ nửa tháng 1 lần, mỗi lần thay khoảng 30% lượng nước trong ao, duy trì màu nước ao nuôi có màu xanh vỏ đậu xanh hoặc màu xanh nõn chuối trong suốt quá trình nuôi; đối với những ao không thể thay được nước thì nên sử dụng các loại chế phẩm sinh học để cải thiện môi trường;
- Ổn định PH: PH nước ao nuôi cá thích hợp nhất từ 7,5 - 8,0; khi PH quá cao hoặc quá thấp sẽ làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối - nước giữa cơ thể cá và môi trường bên ngoài. Khi PH xuống thấp (< 5,5) sẽ giảm khả năng vận chuyển ôxy của Hemoglobin làm mang cá tiết ra nhiều chất nhầy dẫn đến giảm khả năng đề kháng đối với bệnh, nhất là bệnh cá do vi khuẩn. Khi PH cao (> 9) sẽ làm cho các tế bào ở mang cá và các mô của cá bị phá huỷ, dẫn đến cá bị chết. Vì vậy, việc duy trì ổn định PH môi trường ao nuôi cực kỳ quan trọng. Để làm được điều này cần bón vôi bột định kỳ 15 ngày/ lần với liều lượng 2 - 3kg/100m3 nước ao; khi trời mưa to cần rải vôi bột quanh bờ ao với lượng 1,5 - 2kg/10m2 bờ ao (tính theo phần mặt bờ phía trong ao).
2. Chăm sóc
- Cá chỉ bị bệnh khi có sự tác động qua lại đồng thời giữa 3 yếu tố: tác nhân gây bệnh đủ nhiều và đủ mạnh; môi trường nuôi kém dẫn đến tăng sự nhạy cảm của vật chủ hoặc tăng tính độc của tác nhân gây bệnh và ngay chính bản thân cá bị yếu. Điều đó có nghĩa rằng bệnh cá không chỉ là những yếu tố lây nhiễm, môi trường sống mà gồm cả vấn đề dinh dưỡng của cá. Do đó, cần tăng cường sức khoẻ nhằm tăng khả năng kháng bệnh cho cá bằng cách cho cá ăn những thức ăn có chất lượng tốt, đủ lượng, đúng thời gian.
- Ngoài ra, cá nuôi thiếu vitamin C cũng giảm sinh trưởng và khả năng chống chịu sốc và sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh. Để phòng bệnh, cần cho ăn bổ sung với lượng 30 g vitamin C/100 kg cá mỗi ngày, cho ăn liên tục trong 5 - 7 ngày.
Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012
Kỹ thuật ương cá tra bột
1. Thức ăn cho cá tra bột
- Cá tra bột thích ăn mồi tươi sống như luân trùng, trứng nước và các loại động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước. Đến ngày thứ 8 cá ăn được lăng quăng, ấu trùng muỗi, trùn chỉ và mùn bả hữu cơ.
Ao ương có diện tích từ 1000 m2 trở lên, độ sâu nước khoảng 1,5 - 2,0 m, điều kiện cấp thoát nước dễ dàng. (28TCN 213: 2001). Bờ ao phải chắc chắn, không bị rò rỉ, xung quanh bờ ao cần thoáng mát không bị cây cối che khuất.
Khi khâu chuẩn bị ao tốt, cá bột sẽ có sẵn một lượng thức ăn tự nhiên trong ao.
- Trong tuần thứ nhất thức ăn cho cá bột là thức ăn dạng bột đậm đặc chuyên dùng cho ương cá trong giai đoạn cá bột.
- Khi cho cá ăn cần tập trung cá lại một chỗ bằng cách tạo tiếng động (gõ vào thành cầu hay thùng chứa thức ăn ...) dần dần sẽ tạo thành phản xạ cho cá, chỉ cần tạo tiếng động là cá sẽ tập trung về nơi cho ăn. Đối với những ao ương có diện tích rộng có thể thiết kế nhiều sàn ăn dọc theo ao.Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012
Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đồng
Hiện nay cá lóc cá lóc được nuôi phổ biến trong các ao và bè gồm các loài sau: cá Lóc bông Channa micropletes, cá Lóc đen C. striata và cá Lóc môi trề Channa sp. Cá lóc là đối tượng nuôi quan trọng và là nguồn thực phẩm tốt cho người dân.
I. Đặc điểm sinh học
1. Phân bố và thích nghi

- Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông, thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nươc lợ, cóthể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 30 độ C. Cá thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dể ẩn mình rình mồi. Vào mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt. Mùa đông cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn.
- Cá lóc là loài cá dữ có kích thước tròn dài. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày to hình chử Y. Cá là loài cá dữ, ăn động vật điển hình. Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94 %, ếch nhái 1,03 % và 0,02 % là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ.
2. Đặc điểm sinh sản
- Cá lóc 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 - 8, tập trung vào tháng 4 - 5. Cá thườngf đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tỉnh có nhiều thực vật thủy sinh. Ở nhiệt độ 20 – 35 độ C sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bất đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.
- Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột. Ngoài ra chó thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột. Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muổi đỏ. Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá. Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào.
- Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu. Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125µm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính. Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên. Cá lớn nhanh vào mùa xuân - hè.
II. Kỹ thuật sản xuất giống cá Lóc
Cá Lóc bố mẹ sau khi nuôi vỗ thành thục, có thể dung hormone HCG hay não thuỳ thể cá Chép để kích thích cá sinh sản. Thông thường liều dung cho cá Lóc sinh sản hiệu quả là HCG với lượng dao động từ 3.000 – 4.000 UI/kg cá sinh sản.
III. Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá lóc
1. Ương cá giống
- Ương trong giai: Cá lóc đẻ tự nhiên trong ao hồ, đầm lầy. Mùa vớt cá giống từ tháng 5 - 7. Dùng vợt , te xúc trong thời gian cá con tập trung thành đàn. Cá con bắt đem về ương trong giai rộng 4 x 2 x 2 m, mật độ thả 70 con /m2. Cho ăn bằng cách nấu cháo thật nhừ trộn một ít cá tươi xay nhuyển và lòng đỏ trứng vịt luộc chín cho cá ăn ngày 3 - 4 lần. Trước khi cho ăn phải kiểm tra thức còn thừa hay thiếu để điều chỉnh cho phù hợp, cứ hai tuần trộn thêm Vitamin C và kháng sinh vào thức ăn để phòng bệnh cho cá, 1 - 2 tuần phải vệ sinh giai ương 1 lần. Sau hai tháng cá sẻ đạt trọng lượng 20g/con.

- Ương cá Lóc trong ao đất: Diện tích ao: 100 - 300 m2, ao sâu 0,8 - 1m. Ao cần tẩy dọn sạch, bón lót phân gây màu nước trước khi ương để gây động vật phù du làm thức ăn ban đầu, mỗi tuần cần bón thúc 1 lần phân ủ mục. Mật độ ương từ 30 - 40 con/m2. Từ ngày thứ 20 trở đi cho cá ăn bằng cá tạp, tép băm nhỏ là chính. Cần cho cá ăn đều, no, đủ, cứ 10 - 15 ngày san thưa và lọc cá một lần.
2. Nuôi cá lóc thương phẩm
2.1 Nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất
- Mùa vụ nuôi: Do nguồn cá giống còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nên mùa vụ thả nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết hàng năm. Thông thường mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.
- Giống nuôi: Giống cá lóc chọn thả nuôi phải có kích cở đồng đều, khỏe mạnh, nhiều nhớt, không bị thương tích hay bệnh tật. Cở cá giống phải đạt từ 20 - 30g/con, trong giai đặt ở ao đất mật độ thả từ 60 - 90 con/m3 là tốt nhất.
- Thức ăn: Thành phần thức ăn: Cá lóc là loài cá ăn động vật, thành phần thức ăn bao gồm nhiều loại động vật tươi sống như: cá, tép, ếch nhái... Trong quá trình nuôi, có thể tập luyện cá giống quen dần với loại thức ăn chế biến từ cá nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp tấm cám, bắp, và VitaminC...có hàm lượng protein cao hơn 20 % hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế biến để nuôi cá.
- Khẩu phần ăn: Khẩu phần thức ăn cho cá hàng ngày sẽ được định lượng cho phù hợp với các nhu cầu dinh dưỡng và tình hình sức khỏe ở các giai đoạn phát triển của cá có thể tóm tắt ở bảng sau:

- Cách cho cá Lóc ăn: Thông thường ở thời điểm đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn; đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp vào bè nuôi. Việc dùng sàn cho cá ăn được kẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi.
- Chăm sóc và quản lý: Hoạt động chăm sóc và quản lý cá lóc cần phải được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động này bao gồm: kiểm tra giai ( hệ thống dây, lưới...) và tình hình sức khỏe của cá nuôi, vệ sinh giai tránh rong bám nhiều gây mùi hôi thối.
- Thu hoạch: Để đạt kích thước thương phẩm, thời gian nuôi cá Lóc thường ít nhất là 6 tháng, thông thường là 7 - 8 tháng. Trọng lượng cá khi thu hoạch có thể đạt kích cở trung bình 1,2 - 1,5 kg/con. Trước khi thu hoạch 1-2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá bị chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt nhằm hạn chế cá bị sây sát. Vợt thu hoạch cá phải không có gút, các phương tiện khác phải nhẳn. Sau khi thu hoạch có thể dùng ghe đục hoặc thùng chứa để vận chuyển.
2.2 Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất
- Kỹ thuật nuôi cá lóc ở ao đất chưa được phổ biến nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên ở một số nước Châu Á khác nghề nuôi cá lóc trở thành một hoạt động thông thường đối với nghề nuôi thủy sản nước ngọt.
- Trong quá trình nuôi, để góp phần nâng cao năng suất, các giải pháp kỹ thuật thông thường cần chuẩn bị tốt ao nuôi tránh cá thất thoát.
- Chuẩn bị ao
+ Diện tích ao: 100 - 1000 m2, độ sâu: 1,5 - 2 m, nhiệt độ 23 – 32 độ C, pH
6.5 - 8.
+ Ao được cải tạo, dọn dẹp môi trường xung quanh, xãm lổ mọi, cống bọng chắc chắn. Bờ bao phải cao hơn đỉnh lủ cao nhất 0,5m. Dùng lưới chắn hoặc đăng tre cao 0,8 - 1m để tránh cá nhảy ra ngoài.
+ Mật độ thả nuôi: Mật độ nuôi trung bình 30 - 50 con/m2, không nên nuôi quá dày ảnh hưởng đến sức lớn của cá. Mật độ nuôi tùy thuộc vào kích cở cá giống thả, có thể thực hiện theo bảng đề nghị sau:

- Cho ăn và quản lý chăm sóc
+ Thức ăn giống như ở nuôi cá bè, khẩu phần ăn 5 - 7 % trọng lượng cá.
+ Dùng sàng để cho cá ăn và dể theo dõi cá. Ngày cho ăn hai lần vào buổi sáng và buổi chiều.
+ Thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động của cá. Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ 2-3 tuần thay nước một lần. Nếu có điều kiện thì cho nước lưu thông nhẹ thường xuyên.
2.3 Phòng và trị bệnh cho cá nuôi
- Cần định kỳ 15 ngày/lần sát trùng ao nuôi bằng vôi bột với liều lượng 2 - 4 kg/100m2, vôi được hoà tan và lấy nước trong tạt đều khắp ao để phòng bệnh cho cá.
- Một số bệnh thường gặp
+ Bệnh gió: Triệu chứng cá lồi mắt, bơi lờ đờ ở ven bờ. Dùng khoảng 200g lá trầu ăn, 200g cỏ mần trầu giã lấy nướctrộn với 150 ml dầu lửa và trộn đều vào thức ăn để cho cá ăn, xác bã rãi đều xuống ao.
+ Bệnh đỏ xoang miệng: Dùng cỏ mực giã nát vắt lấy nước trộn thức ăn cho cá ăn, xác bã rãi xuống ao.
+ Bệnh ghẻ lở: Dùng Tetracyline trộn vào thức ăn cho cá ăn.2.4
2.4 Thu hoạch
Hạ mực nước ao còn khoảng 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Khi thu hoạch toàn bộ thì phải tát cạn. Chu kỳ nuôi kéo dài, ít nhất là 5 - 6 tháng, trọng lượng trung bình 0,8 – 1 kg/con.
Kỹ thuật nuôi cá lóc đồng, Nguồn: Ts. Dương Nhựt Long - Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ.
Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012
Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh trong ao
Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao by CCTS | Ky thuat nuoi ca tra tham canh trong ao
1. Thiết kế ao nuôi

- Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500m2 trở lên.
- Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắc chắn và phải thiết kế lưới bao quanh ao.
- Độ sâu của ao từ 2 - 3m (28 TCN 213 : 2004). Ao phải có cống cấp và thoát nước.
- Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều ngang.
- Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.
- Trong ao nuôi nên thiết kế 1 hay nhiều sàn cho cá ăn, sẽ giúp ích cho
việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.
- Sàn ăn có thể được làm bằng tre, tràm hay bằng các loại gỗ ...
2. Chuẩn bị ao nuôi

Trước khi thả cá, ao cần được chuẩn bị kỹ theo các bước sau:
- Vét hết lớp bùn đáy ao, kiểm tra kỹ bờ ao, cống bộng, gia cố bờ ao, làm sàn ăn cho cá.
- Bón vôi bột với liều lượng 7 - 10kg/100m2.
- Nếu có điều kiện phơi ao 3 - 5 ngày, sau đó cấp nước vào với mức nước ban đầu là 1 - 1,2m.
3. Thời vụ thả giống
Thời vụ thả nuôi thích hợp nhất từ tháng 6 - 7 hàng năm, vì đây là mùa sinh sản của cá tra nên chất lượng con giống sẽ tốt hơn so với các thời điểm khác trong năm.
4. Kích cỡ và mật độ thả nuôi
Cá giống thả nuôi phải đều cỡ. Kích cỡ cá thả nuôi tốt nhất là 10 - 14cm, mật độ từ 15 - 20 con/m2 (TCN 28 TCN 213 : 2004).
5. Chọn cá giống
- Cá không bị dị tật, màu sắc tươi sáng: lưng xanh đen, bụng màu trắng bạc, các sọc dọc theo thân phải rõ ràng.
- Cá nhanh nhẹn, bơi lội khoẻ và chạy thành đàn. Cá không bị xây xát, các vi không bị rách.
6. Vận chuyển và thả giống
- Có thể vận chuyển theo 2 cách:
+ Vận chuyển hở bằng các dụng cụ như xô nhựa, chậu hay thuyền thông thuỷ (ghe đục).
+ Vận chuyển kín bằng cách đóng trong bao có oxy.
- Vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất vào sáng sớm hay chiều tối.
- Thả giống: Trước khi thả cá xuống ao cần tắm cá bằng nước muối 2 - 3% trong 5-6 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ được ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Khi thả cá vào ao, cần thả từ từ để cá quen dần với điều kiện mới. Nếu vận chuyển bằng bao nylon bơm oxy nên ngâm bao chứa cá giống trong nước ao 15-20 phút mới thả cá ra. Nếu vận chuyển bằng thuyền thông thủy (ghe đục) thì dùng lưới mắt nhỏ để kéo cá, thao tác nhẹ nhàng tránh làm cá xây xát.
7. Thức ăn cho cá
- Thức ăn cho cá thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của cá. Thức ăn cho cá nuôi thịt có hàm lượng đạm (protein) thích hợp từ 20 - 30%.
- Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, đây là một nguồn thức ăn tốt cho việc nuôi cá tra thâm canh trong ao. Chúng có những ưu điểm như hàm lượng các chất dinh dưỡng đầy đủ và ổn định, dễ kiểm soát do viên nổi nên dễ kiểm tra được lượng thức ăn dư thừa, ngoài ra còn dễ bảo quản và giảm chi phí nhân công.
- Có thể phối chế bằng các nguyên liệu có sẵn tại địa phương theo các công thức thức ăn trong bảng 2 và 3 (phụ lục). Tấm, cá tạp được nấu chín sau đó trộn đều với các thành phần thức ăn khác và ép thành viên. Kích thước của viên thức ăn tùy thuộc vào cỡ cá. Hạn chế sử dụng các loại nguyên liệu thực vật có nhiều sắc tố (carotenoid) như bột bắp vàng, rau muống vì các loại sắc tố này sẽ tích trữ lại trong thịt cá và làm cho thịt cá tra có màu vàng, bên cạnh đó cần bổ sung khoảng 2% các loại vitamin, premix khoáng vào thức ăn, 2 lần/tuần để giúp cá có sức đề kháng tốt với các loại bệnh.
- Nếu không có điều kiện ép viên thức ăn, có thể trộn và vắt thức ăn thành từng viên bằng tay để cho cá ăn. Có thể sử dụng bột keo hoặc bột mì (không nên sử dụng bột gòn vì sẽ làm cho thịt cá có màu vàng) làm chất kết dính để hạn chế sự tan rã của thức ăn trong nước.
8. Cho cá ăn
- Thức ăn chế biến sau khi ép thành viên nhỏ, rải từ từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn. Thức ăn viên công nghiệp cũng rải từ từ để cá sử dụng triệt để.
- Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6-10 giờ, chiều từ 16-18 giờ. Khẩu phần thức ăn tuỳ vào từng giai đoạn phát triển của cá. Trong 2 - 3 tháng đầu nuôi, thức ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm 25 - 28%. Giai đoạn tiếp theo cho đến khi thu hoạch, hàm lượng đạm của thức ăn giảm xuống còn 18 - 22%.
- Yêu cầu quản lý, sử dụng các loại thức ăn đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn để nuôi theo đúng quy định của tiêu chuẩn Ngành 28TCN 176:2002.
- Khi cho cá ăn cần chú ý các điểm sau:
+ Khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp phải chú ý đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn không được nhiễm Salmonella, nấm mốc độc (A spergillus flavus), độc tố Aflatoxin.
+ Nguyên liệu chế biến thức ăn chế biến có nguồn gốc động vật như cá tạp phải tươi, không bị ươn thối, bột cá có mùi thơm đặc trưng, không pha lẫn tạp chất, cá tạp khô không bị sâu mọt, không bị nhiễm Salmonella.
+ Không cho cá ăn thức ăn quá hạn sử dụng, thức ăn kém chất lượng hoặc thức ăn đã bị ôi thiu, nhiễm nấm mốc.
- Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên hàng ngày nơi chế biến thức ăn và các thiết bị, dụng cụ chế biến thức ăn.
- Nên tập cho cá ăn tập trung tại các sàn ăn. Rải thức ăn ít và chậm cho cá ăn hết thức ăn mới rải tiếp. Khi cá không còn tập trung lại sàn ăn là dấu hiệu cá đã no, thì ngừng cho ăn.

9. Quản lý ao nuôi
- Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, điều này rất dễ quan sát vì cá tra ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá.
- Mặc dù cá tra có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh với mật độ rất cao việc tuần tra, theo dõi hoạt động của cá nuôi phải được thực hiện thường xuyên.
- Những biểu hiện không tốt của cá trong ao nuôi như: cá nổi đầu, bơi lờ đờ, cá bỏ ăn hay cá có biểu hiện bệnh và chết phải được xử lý với những biện pháp thích hợp. Luôn giữ nguồn nước ao sạch và ổn định.
- Cần hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành sản phẩm, tăng chi phí đầu tư.
10. Thu hoạch
Cá tra nuôi trong ao sau 6 - 8 tháng thì có thể thu hoạch. Trọng lượng cá tra nuôi có thể đạt từ 0,7 - 1,5kg/con. Phương thức thu hoạch tốt nhất là đánh bắt bằng lưới và thu hoạch một lần, sau đó tát cạn ao để chuẩn bị cho vụ nuôi sau.
Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.
Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012
Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh

- Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500m2 trở lên.
- Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắc chắn và phải thiết kế lưới bao quanh ao.
- Độ sâu của ao từ 2 - 3m (28 TCN 213 : 2004). Ao phải có cống cấp và thoát nước.
- Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều ngang.
- Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.
- Trong ao nuôi nên thiết kế 1 hay nhiều sàn cho cá ăn, sẽ giúp ích cho
việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.
- Sàn ăn có thể được làm bằng tre, tràm hay bằng các loại gỗ ...
2. Chuẩn bị ao nuôi


9. Quản lý ao nuôi
- Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, điều này rất dễ quan sát vì cá tra ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá.
- Mặc dù cá tra có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh với mật độ rất cao việc tuần tra, theo dõi hoạt động của cá nuôi phải được thực hiện thường xuyên.
- Những biểu hiện không tốt của cá trong ao nuôi như: cá nổi đầu, bơi lờ đờ, cá bỏ ăn hay cá có biểu hiện bệnh và chết phải được xử lý với những biện pháp thích hợp. Luôn giữ nguồn nước ao sạch và ổn định.
- Cần hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành sản phẩm, tăng chi phí đầu tư.
10. Thu hoạch
Cá tra nuôi trong ao sau 6 - 8 tháng thì có thể thu hoạch. Trọng lượng cá tra nuôi có thể đạt từ 0,7 - 1,5kg/con. Phương thức thu hoạch tốt nhất là đánh bắt bằng lưới và thu hoạch một lần, sau đó tát cạn ao để chuẩn bị cho vụ nuôi sau.
Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.







