Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Gia Vị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cây Gia Vị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

Kỹ thuật trồng Hành Tây thâm canh

Kỹ thuật trồng Hành Tây thâm canh


Kỹ thuật trồng hành tây thâm canh by Báo NN | Ky thuat trong hanh tay tham canh

1. Thời vụ trồng
Vụ chính gieo tháng 9 - 10, thu hoạch tháng giêng, tháng 2; vụ trái gieo cuối tháng 3, đầu tháng 4, thu hoạch tháng 8, tháng 9, vụ này bán được giá cao.

2. Giống
Nên dùng các giống lai F1 của Mỹ, Nhật Bản (Grano, Granex, Red, Crown) mới nhập nội hiện đang có bán tại các công ty giống cây trồng, các đại lý, cửa hàng hạt giống rau trên toàn quốc để trồng.


3. Kỹ thuật ươm cây giống
- Chọn đất tơi xốp, đất cát pha, thịt nhẹ, nơi cao ráo để gieo ươm cây giống. Làm nhỏ đất, lên luống rộng 90 - 100cm. Mặt luống phải phẳng, đất nhỏ mịn, gạt các viên đất to ra 2 bên mép luống. Dùng phân chuồng hoai mục, tro bếp, phân lân trộn rải đều trên mặt luống một lớp dày khoảng 5 - 7cm. Hạt giống nên ngâm nước ấm và ủ cho nứt nanh rồi trộn với đất bột theo tỷ lệ 1/200 để gieo cho đều.

- Lượng hạt cần gieo khoảng 1,5 - 2 gam/m2. Sau khi gieo, phủ kín hạt bằng một lớp đất hạt nhỏ mịn rồi tiếp một lớp rơm, rạ mỏng nhằm giữ ẩm cho mặt luống và hạn chế bị xô hạt do mưa hoặc khi tưới nước. Trong 3 ngày đầu, mỗi ngày tưới 2 - 3 lần, sau đó tưới 1 - 2 lần/ngày cho đến khi trồng được. Sau gieo 5 - 6 ngày thì dỡ bỏ rơm, rạ và dùng trấu trộn với đất bột rải đều để phủ kín chân cây giống và tiếp tục chăm sóc cho cây con cứng cáp. Sau khi gieo ươm khoảng 30 - 35 ngày, cây giống có 2 - 3 lá thật, cứng đanh cây, mập mạp, xanh đậm là có thể nhổ đem trồng được.

4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
- Để củ hành đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (yêu cầu phải to, chắc, đều đẹp, bảo quản được lâu) thì cần phải trồng cây con đúng tuổi. Khi cây đạt từ 50 - 60 ngày tuổi, có 5 - 6 lá thật, mới nhổ trồng. Nếu trồng sớm, cây nhanh bén rễ, sớm cho thu hoạch nhưng củ nhiều nước, hàm lượng nước trên 90%, củ dễ thối, khó bảo quản, chất lượng kém, không xuất khẩu được. Lên luống rộng 120cm, rãnh rộng 30cm. Trên mỗi luống trồng 4 hàng ngang cách nhau 20cm, cây cách cây 15cm, mật độ trồng hợp lý là khoảng 150 - 170 ngàn cây/ha.

- Lượng phân bón cho hành tây được tính cho 1 sào Bắc bộ (360 m2) là 900 - 1.000 kg phân chuồng hoai mục + 15 - 20 kg đạm urê + 30 - 35 kg lân + 5 - 7 kg kali. Ngoài ra có thể bón thêm các loại phân bón khác như bột đỗ tương đã được ngâm ủ, tro bếp tùy khả năng thâm canh của mỗi gia đình.

- Căn cứ theo từng chân đất, thời vụ để tăng hay giảm lượng phân cho phù hợp. Bón lót 300 - 350 kg phân chuồng + 20 - 25 kg lân trộn đều với đất mặt khi lên luống hoặc xẻ rãnh rồi bón phân vào rồi lấp đất kín. Dện nhẹ cho chặt gốc, tủ rạ đã được cắt ngắn khoảng 7 - 10cm rồi tưới ngay bằng nước sạch. Những ngày đầu nên tưới 2 - 3 lần/ngày, các ngày sau có thể tưới ngày một lần. Nếu nắng to nên che nắng trong 3 - 4 ngày đầu.

- Với hành tây hạn chế tưới rãnh, chỉ cần tưới đủ ẩm, thừa nước hành sẽ chết, độ ẩm đất tốt nhất là khoảng 70 - 80% là vừa. Bón thúc lần 1 sau trồng 7 - 10 ngày bằng cách pha loãng 2kg đạm urê để tưới. Thúc lần 2 sau lần 1 khoảng 10 - 15 ngày bằng cách pha loãng 3 kg đạm urê để tưới. Thúc lần 3 theo rãnh giữa 2 hàng hành với lượng từ 7 - 10kg urê + 700 kg phân chuồng + 3 - 4 kg kali và số lân còn lại. Tiếp tục bón thúc lần 4, lần 5 mỗi lần cách nhau 10 - 12 ngày bằng cách pha loãng 1 - 2 kg urê + 1 - 2kg kali để tưới. Trước khi thu hoạch khoảng 2 - 3 tuần ngừng tưới nước để giảm lượng nước trong củ.

5. Phòng trừ sâu bệnh
Cần chú ý 2 loại bệnh chính (sương mai và thối củ) thường xuyên xuất hiện và gây hại làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hành củ. Bệnh sương mai do nấm Peronospora sp gây ra khi độ ẩm không khí và đất cao (trên 90%), nhiệt độ thấp (dưới 20 độ C). Phun phòng bằng dung dịch Boócđô 1% định kỳ tuần/lần. Bệnh thối củ do vi khuẩn Ervinia sp hoặc nấm Botrytis gây hại bắt đầu từ khi củ vào chắc cho đến khi thu hoạch và trong thời gian bảo quản. Nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết quá ẩm ướt và bón quá nhiều đạm, bón mất cân đối. Biện pháp phòng bệnh hữu hiệu là xử lý hạt giống bằng granosan (3g/kg hạt giống), hoặc Benomyl (2g/ kg hạt giống). Phun trừ bằng Zineb hoặc Benomyl (0,2 - 0,3%).

6. Thu hoạch
Khi thấy lá hành đã chuyển sang màu vàng, có 70 - 80% cây tự đổ nghiêng, rủ xuống thì tiến hành thu hoạch. Nhổ cả cây, làm sạch đất cát, phơi nắng 1 - 2 giờ rồi buộc túm treo trên dây trong nhà kho nơi thoáng mát. Khi thấy vỏ ngoài của củ đã khô, mỏng chuyển màu vàng nâu sáng thì cắt bỏ thân lá, chỉ để đoạn thân dài khoảng 3 - 4cm. Bảo quản trong kho có giàn mát, thoáng. Thường xuyên kiểm tra để loại bỏ các củ có triệu chứng hư thối tránh lây nhiễm.

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Hành Tây

Kỹ thuật trồng Hành Tây


Kỹ thuật trồng hành tây by BVCT | Ky thuat trong hanh tay

1. Giống hành tây
- Các giống hành tây trồng ở nước ta đều phải nhập hạt giống từ nước ngoài và là các giống lai F1. Có 2 giống chính:
+ Granex, thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày, củ dẹt màu vàng nhạt, năng suất cao bình quân 30 - 35 tấn/Ha.


+ Grano, có thời gian sinh trưởng tương tự, củ tròn màu vàng đậm năng suất thấp hơn Granex, đạt trung bình 25 - 27 tấn/Ha.

- Ngoài ra các tỉnh miền núi phía Bắc còn trồng giống hành tím của Trung Quốc. Tại Đà Lạt trồng giống hành đỏ Red Greole. Các giống này năng suất không cao nhưng dễ trồng và có thể để giống tại chỗ.

2. Kỹ thuật trồng hành tây
a) Thời vụ
- Ở các tỉnh miền núi phía Bắc gieo hạt từ 25/8-15/9, trồng 20/9-5/11 và thu hoạch từ tháng giêng đến tháng 2.

- Ở các tỉnh ven biển miền Trung thời vụ rộng hơn: gieo cuối tháng 3, đầu tháng tư (vụ nghịch), thu hoạch tháng 8 - 9. Vụ chính gieo tháng 9 – 10 và thu hoạch tháng giêng đến tháng 2.

b) Vườn ươm
Đất làm vườn ươm chọn nơi cao, thoáng, dễ thoát nước. Đất làm kỹ lên luống cao, luống rộng 1,2m. Mỗi mét vuông gieo 3 - 4 gam hạt. Lượng hạt cần để trồng 1 Ha là 2,5 - 3 kg (100 gam hành tây được 8.000 – 12.000 cây), với lượng giống có thể trồng được đạt 40% sẽ có 3.000 – 5.000 cây. Sau khi gieo xong dùng rơm rạ băm nhỏ rắc lên trên và tưới đẫm. Sau 7 - 12 ngày hạt nẩy mầm. Lúc này cần tưới hàng ngày với lượng nước đủ thấm. Khi cây cao 3 - 5 cm, bốc dần lớp rơm rạ phủ luống. Tỉa bỏ bớt những cây yếu cây xấu.

c) Kỹ thuật trồng và chăm sóc
- Khi cây con 45 - 60 ngày tuổi lúc có 5 - 6 lá thật mới nhổ trồng. Trồng sớm hành mau bén rễ và sớm cho thu hoạch nhưng củ nhiều nước, củ dễ hỏng không bảo quản được lâu.

- Lên luống rộng 1,2m, rãnh 0,3cm, trồng 4 hàng dọc luống, khoảng cách mỗi hàng 20cm, khỏang cách cây 15cm. Mật độ trồng 160 - 170 nghìn cây/Ha.

- Lượng phân bón cho hành tây tính trên 1 Ha như sau: Phân chuồng 15 - 20 tấn/Ha; đạm Urê 180 - 200 kg; Super lân 400 kg; Kali Sulfat 200 kg.

- Phân chuồng, vôi bột (Nếu đất chua cần bón cho có độ pH thích hợp) và phân lân bón lót toàn bộ cùng 1/3 số phân đạm và kali lượng còn lại chia làm 3 - 4 lần bón thúc. Tuỳ theo chân đất, phân kali và lân có thể tăng nhưng lượng đạm không vượt quá 100 kg nguyên chất (không quá 220 kg urê/Ha).

d) Phòng trừ sâu bệnh
- Bệnh sương mai (Peronospora sp) xuất hiện vào lúc có nhiệt độ < 20 độ C, độ ẩm không khí cao trên 90%, dùng Boócđô 1% phun định kỳ. - Bệnh thối củ do vi khuẩn Ervinia sp hoặc nấm loài Botrytis gây hại từ lúc củ chắc đến thu hoạch bảo quản. Nguyên nhân gây bệnh do thời tiết ẩm ướt và bón đạm nhiều, mất cân đối. Phòng bệnh bằng cách xử lý hạt giống trước khi gieo bằng Granozan với 3 gam/1 kg hạt, hoặc Benomil 2 gam/1kg hạt. Phun trừ bằng Zineb 0,2 - 0,3% hoặc Captan, Benomil 0,2 - 0,3 %. e) Thu hoạch
Lúc lá hành chuyển màu vàng là có thể thu hoạch. Chỉ nên thu hoạch vào ngày khô ráo. Nhổ củ, giũ sạch đất và xếp vào sọt, thúng vận chuyển nhẹ nhàng về nơi bảo quản.

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Ớt Chỉ Thiên

Kỹ thuật trồng Ớt Chỉ Thiên


Kỹ thuật trồng ớt chỉ thiên by BVCT | Ky thuat trong ot chi thien

Ớt chỉ thiên là giống ớt rất cay. Được những người nghiền ớt ưa chuộng. Nhìn chung tất cả các loại ớt cay trong đó có ớt chỉ thiên đều dễ chồng không kén đất có thể trồng trên đất bãi, đất đồi, đất ruộng. Nhưng trồng ớt tốt nhất là trên đất bãi hàng năm có ngập phù sa hoặt đất trong đồng có độ màu mỡ khá, thoát nước, giãi nắng.


1. Thời vụ gieo
- Gieo tháng 11 - 12, trồng tháng 1 - 2. Vụ hè tháng 6 - 7 trồng tháng 8 - 9.

- Ươm cây giống: Hạt ngâm nước 2 đêm, đem bọc vào vải trộn với mùn, ủ 3 - 4 ngày cho hạt mọc mầm. Gieo vãi hạt trên luống, phủ một lớp đất bột mỏng, phủ một lớp trấu hay rơm rạ, tưới nước giữ ẩm. Sau khi gieo 8 - 10 ngày thì cây mọc. Nếu gặp rét thì che phiên hoặc phủ nilon chống rét cho cây con. Cây 25 - 30 ngày tuổi có thể đánh đi trồng.

- Luống rộng, 1 - 1,2m, cao 20 - 25cm, rãnh luống 25 - 30cm. Bổ hốc hàng cách hàng 50cm. Cây cách cây 50cm. Bón phân cho 1ha như sau: Phân chuồng 30 tấn+ 368 kgN+ 368kg P2O5 + 184kg K2O. Nếu đất chưa bón vôi 500 - 1000kg/ha. Kết hợp phân chuồng, phân lân, phân kali trộn đều để bón lót. Phân đạm dùng để bón thúc.

2. Chăm sóc
- Tưới nước đủ ẩm sau khi trồng suốt thời gian sinh trưởng.

- Bón thúc: 3 lần lúc cây hồi xanh, trước lúc ra hoa và thu quả lứa đầu. Dùng phân đạm pha loãng để tưới cho cây. Có điều kiện bón thêm nước phân chuồng ủ mục pha loãng.

* Lưu ý: phòng trừ sâu bệnh như: sâu khoang, bệnh thán thư.

3. Thu hoạch
Sau khi trồng khoảng 2 tháng thì ớt ra hoa. Đến tháng 3 thì thu được lứa quả đầu tiên. Trên cây ớt có nhiều lứa hoa. Có quả đang chín, có quả già và đang có hoa. Nếu nơi tiêu thụ gần thì khi xuất quả thật chín. Tránh không làm ảnh hưởng đến chùm hao trên cây. Sau đó cứ 3 ngày thu quả 1 lần. Nếu không bị sâu bệnh phá hại, chăm sóc tốt, cây khoẻ có thể thu liên tiếp trên chục đợt và kéo dài đến 2 tháng.

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Ngò Gai

Kỹ thuật trồng Ngò Gai


Kỹ thuật trồng ngò gai by C.ty CH | Ky thuat trong ngo gai

1. Đặc tính thực vật học
- Cây ngò gai thuộc cây thân thảo, họ hoa tán: Apiaceae có tên khoa học: Eryngium foetidum (L), là một loại cây tương đối dễ trồng, thích hợp trên nhiều chân đất khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là đất tốt, nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt.


- Cây cao trung bình khoảng 15 – 25 cm.

- Lá ngò gai rộng, 2 bên mép của phiến lá có nhiều răng cưa, có xu hướng rộng dần về phía ngọn lá.

- Cuống lá mọc trực tiếp từ gốc cây, ngò gai phát triển phân thành nhiều tầng lá khác nhau.

- Hoa của ngò gai mọc từ trục thân, hoa hình bầu dục hay hình trụ.

- Quả ngò gai hình cầu, hơi dẹt, chứa nhiều hạt để làm giống.

2. Công dụng
- Ngò gai là loại rau gia vị thường được dùng để ăn sống hoặc chế biến với những loại thực phẩm khác để kích thích ăn ngon miệng vì mùi thơm nhẹ nhàng của chúng.

- Ngoài ra, ngò gai còn được dùng để làm thuốc như chữa sổ mũi, đau tức ngực, chữa rối loạn tiêu hoá, viêm ruột…

3. Kỹ thuật trồng ngò gai
3.1. Giống
- Trồng ngò gai chủ yếu bằng hạt. Hạt ngò gai dễ mọc nên gieo thẳng trực tiếp trên luống, liếp. Lượng hạt giống gieo cho 1.000 m2 từ 3 – 5 kg. Muốn gieo đều nên chia hạt giống thành 2 lần gieo, mỗi lần gieo trộn hạt với phân, đất rồi tiến hành vãi đều trên mặt luống.


- Gieo xong rải thuốc chống kiến, dế, mối trong đất ( sử dụng Vibasu 10 H) và phủ lên trên một lớp rơm mỏng để giúp tạo ẩm độ cho hạt nhanh nẩy mầm và không bị mất trôi hạt. Tưới nước để giữ ẩm độ, một tuần sau là hạt nẩy mầm.

3.2. Đất trồng
- Ngò gai là một loại cây tương đối dễ trồng, thích hợp trên nhiều chân đất khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là đất tốt, nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt.

- Trước khi gieo hạt nên cày bừa làm đất thật nhỏ.

- Lên liếp hình mai rùa, chiều dài liếp tuỳ theo kích thước vườn, rộng 1 – 1,2 m, cao mặt liếp 15 – 20 cm.

- Các liếp cách nhau 0,3 – 0,4m. Có hệ thống thoát nước để có thể thoát nước mỗi khi có mưa to và kéo dài.

3.3. Bón phân: (lượng phân tính cho 1.000 mét vuông):
- Bón lót:
+ Phân chuồng 400 - 500 kg.
+ 20 – 30 kg phân NPK ( loại 20 – 20 - 15) sau khi bón xới xáo để trộn phân vào đất.

- Bón thúc: sau khi gieo hạt khoảng 2 tuần, nên bón bổ sung khoảng 5 kg Urê và 10 kg super lân kết hợp với việc tỉa cây. Bón phân bằng cách hịa phân trong nước rồi tưới bằng bình hoa sen trên mặt liếp rau, sau khi tưới phân phải tưới lại một lần bằng nước lã để rửa sạch phân bám dính trên lá rau. Do đọt non của cây ngị gai nằm sát với mặt đất, vì thế khơng đượnc để cho đất cát, bùn rơi bao phủ trên đọt non dễ làm cho đọt bị thối chết.

3.4. Tưới nước
- Ngò gai dễ sống, ít sâu bệnh hại nên việc chăm sóc chủ yếu là tưới nước và bón phân.

- Cây ngị gai ưa ẩm ướt vì thế phải thường xuyên tưới nước cho cây, đảm bảo cho đất luơn đủ ẩm, nếu đất bị khơ hạn sẽ làm cho cây cịi cọc, sinh trưởng phát triển kém.

3.5. Thu hoạch
Tuỳ mục đích sử dụng (dùng ăn sống hoặc làm thuốc). Nếu dùng ngò gai để ăn sống thì sau khi trồng khoảng 2 tháng là có thể nhổ để sử dụng.

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Kỹ thuật trồng Hẹ

Kỹ thuật trồng Hẹ


Kỹ thuật trồng hẹ by ST | Ky thuat trong he

1. Tổng quan
Hẹ là một loại rau ăn lá phổ biến, được nông dân trồng nhiều vì vốn đầu tư thấp nhưng hiệu quả kinh tế cao hơn các loại rau ăn lá khác. Cây hẹ được dùng làm gia vị trong các bửa ăn hàng ngày. Lá hẹ có thể dùng thay thế lá hành, thường để muối chua với giá đậu, ăn sống...

2. Đặc điểm thực vật
- Cây hẹ là cây thân thảo, cây giống một loại cỏ, thường có chiều cao khoảng 20 - 50 cm tùy đất và mùa vụ. Cây hẹ có mùi đặc biệt, giò hẹ nhỏ hơn giò hành, dài, mọc thành túm và có rất nhiều rễ con.


- Lá hình dẹp, dài, bản lá hẹp, nhưng dày. Cây hẹ thường có 4 - 5 lá, dài 10 - 30 cm, rộng 1,5 - 10 mm, đầu lá nhọn. Hoa hẹ mọc trên 1 cọng hoa kéo dài hơn. Các hoa tụ lại thành hình xim nhưng co ngắn lại thành một tán giả. Cọng hoa có hình gần giống 3 cạnh. Hoa màu trắng, cuống hoa dài trên 10 mm. Trái hẹ khi khô dài 4 - 5 mm có đường kính trái khoảng 3 - 4 mm. Hạt nhỏ, màu đen, cây hẹ thường ra hoa vào tháng 6 - 8, cho trái từ tháng 8 - 10.

- Cây hẹ cũng thuộc họ hành tỏi (Liliaceae), có các đặc tính sinh học giống như hành và tỏi. Ưa nhiệt độ mát (20 – 25 độ C), ánh sáng mạnh. Bộ rễ ăn nông, khả năng chịu hạn và chịu úng kém. Bộ phận sử dụng gồm cả củ, lá và hoa.

3. Giống
- Đặc tính của cây hẹ là hay bị chết nhát là trong giai đoạn mới trồng. Để hạn chế hiện tượng này, trước khi trồng cần cắt bớt rễ của cây giống. Làm như vậy thì khả năng tái sinh của rễ sẽ tốt hơn và cây sẽ tạo chồi nhánh nhanh, khỏe giúp hạn chế hiện tượng chết nhát.

- Hẹ có thể trồng bằng thân (căn hành) hoặc bằng hạt, tuy nhiên đa số là sử dụng giống địa phương và trồng bằng thân.

- Giống lá lớn: là giống được trồng nhiều với diện tích lớn vì năng suất cao nhưng phẩm chất kém.

- Giống lá nhỏ: chất lượng cao nhưng năng suất thấp, diện tích trồng ít.

4. Kỹ thuật trồng hẹ
a) Thời vụ
Cây hẹ trồng được quanh năm, tuy vậy thường được trồng nhiều vào tháng 10 - 11 để thu hoạch vào dịp tết âm lịch.

b) Đất trồng
- Chọn đất: đất tơi xốp, thoáng khí, màu mỡ, tốt nhất là đất thịt, thịt pha cát, đất phải chủ động được hệ thống tưới và tiêu nước tốt. Sau khi trồng được 10 - 12 tháng phá bỏ gốc, thay đổi đất bằng cách lấy đất tầng sâu đưa lên tầng trên.

- Làm đất: đất sau khi cày xới, lượm sạch cỏ, xử lý vôi 50 - 100 kg/1.000 m2, đất được phơi khô 15 - 20 ngày, để cây sinh trưởng tốt và hạn chế sâu bệnh.

- Lên liếp: cao 0,2 - 0,3 m, ngang 0,8 - 1 m, rãnh sâu 20 - 30 cm, nhầm hạn chế úng và thoát nước tốt trong mùa mưa.

c) Cách trồng:
- Trồng bằng thân: hẹ được tách ra từng tép, trồng mỗi bụi từ 3 - 4 tép, khoảng cách 15x15 cm, lấy tay ấn mạnh đất cho chặt, sau đó phủ liếp bằng rơm rạ mục mỏng, tưới nước đủ ẩm.

- Trồng bằng hạt: phương pháp này áp dụng khi có hạt giống, đất cũng được lên liếp như trường hợp trồng bằng củ nhưng đất mặt cần tơi mịn hơn. Có thể gieo vãi đều trên mặt liếp hoặc rãi theo hàng như trồng bằng thân, gieo xong trộn nhẹ với lớp đất mặt. Để bảo đảm nảy mầm đều, hạt hẹ ngâm vào nước ấm 35 – 37 độ C trong 4 - 6 giờ, sau đó trộn với tro bếp, vò hạt giống cho tơi rồi gieo. Tưới nước đủ ẩm để hạt hẹ mọc đều.

* Lưu ý: Sau khi hẹ lên được 7 - 10 ngày cần tưới thêm urea 3 - 5 kg/1.000 m2 đất, đến khi hẹ được 10 - 15 cm nhổ cả đất, cấy ra liếp khác. Hẹ dễ sống, dễ nảy chồi, nên khi trồng thân, hẹ mọc tốt, ta vẫn tỉa trồng ra liếp khác như hẹ gieo bằng hạt.

d) Nhu cầu phân bón (tính trên diện tích 1.000 m2)
- Lượng phân: phân chuồng 2 - 3 tấn (hoặc phân hữu cơ vi sinh 20 - 30 kg), phân urê 25 kg, DAP 10 kg, KCl 5 kg, Super lân 20 kg.

- Cách bón:
+ Bón lót: toàn bộ phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh + 20 kg Super lân + 5 kg Urê + 5 kg KCl.
+ Bón thúc:
Lần 1: 7 - 10 ngày sau khi trồng 10 kg Urê+5 kg DAP
Lần 2: 15 - 20 ngày sau trồng 10 kg Urê+5 kg DAP.

e) Kỹ thuật chăm sóc
- Hẹ được trồng hoặc gieo dày nên rất có khả năng cạnh tranh với cỏ dại. Vì vậy việc làm cỏ cho hẹ không tốn công lắm. Mỗi lần tưới phân cho hẹ kết hợp nhổ bỏ các cây cỏ mọc giữa liếp hoặc xung quanh liếp. Ta thường gặp các loại cỏ chát, cỏ gấu và các loại cỏ lá rộng nên cần nhổ tận gốc phơi cho chết hoặc đào hố lấp xuống đất.

- Tưới nước mỗi ngày 3 lần, đến khi cây hẹ đã bén rễ và phát triển tốt thì chỉ cần tưới mỗi ngày 2 lần, tránh tưới vào buổi trưa.

- Công việc chăm sóc chính là bón phân, vun gốc, nhổ tỉa và trồng dặm. Hẹ thường ít bị các loại sâu bệnh phá như những cây trồng khác. Vì vậy công tác phòng trừ sâu bệnh hại trên hẹ cũng đơn giản. Trước mỗi lần tưới phân chỉ cần bón một ít tro bếp quanh gốc hẹ, sau đó hòa phân tưới chỗ gần gốc, dùng cào nhỏ xới giữa hai hàng hẹ, vun nhẹ vào gốc làm cho đất tơi xốp, hẹ phát triển nhanh.

- Ngoài ra, trồng hẹ còn có thể áp dụng phủ liếp bằng màng phủ nông nghiệp để hạn chế côn trùng và bệnh gây hại, ngăn ngừa cỏ dại, điều hòa độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất, giữ phân bón, tăng nhiệt độ đất, hạn chế độ phèn, mặn

f) Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu đục gân lá: làm cho lá có màu trắng, sọc, dùng thuốc Match 50ND, Success 25SC...

- Bệnh vàng lá: lá vàng từng chòm: giảm phân, giảm nước, rải tro bếp + vôi theo tỷ lệ 1:5

- Bệnh thối nhũn, tiêm lửa: nhổ bỏ cây bệnh

5. Thu hoạch
- Do khả năng tái sinh của hẹ rất dễ dàng nên ta cắt lá hẹ, chừa lại 2 đến 3 cm trên mặt đất, đến chiều tưới nước đủ ẩm, hôm sau hẹ mọc lá non lên, sau đó lại tưới phân để hẹ mọc nhanh.
+ Đợt 1: 55 - 60 ngày sau khi trồng
+ Đợt 2: 30 - 35 ngày sau khi thu hoạch đợt 1
+ Đợt 3, 4, 5, 6: cách nhau 30 - 35 ngày.

6. Cách lưu giữ giống
Tùy theo tập quán trồng hẹ bằng thân hay trồng hạt mà ta có các cách để giống khác nhau.
- Để giống bằng thân: luống hẹ được nhổ tỉa cây để ăn hoặc bán, chừa lại cây khỏe mọc đều theo khoảng cách cây cách cây 12 - 15 cm, sau đó bón thêm phan lân, tro bếp, bánh dầu, vun nhẹ gốc, tưới nước, chăm sóc để hẹ có củ to, mập. Khi cần trồng hẹ gấp có thể nhổ cây, vặt bớt lá đem trồng như đã nói ở trên. Hoặc chờ hẹ có củ chắc, lá tàn bớt, nhổ cả cây buộc túm, treo trên dây, phơi trong bóng râm, sau phơi ngoài nắng, rồi đem bảo quản để trồng vụ sau. Cần kiểm tra củ thường xuyên vì hẹ có thể bị thối củ trong quá trình bảo quản. Trường hợp phát hiện có thối củ, cần loại bỏ, đem hẹ phơi ngoài nắng 5 đến 6 giờ lại đem vào bảo quản, chú ý không để thành đống to, nhiệt độ cao dễ thối.


- Để giống bằng hạt: cũng để cây hẹ tốt trên liếp, chăm sóc cho hẹ ra hoa, kết trái, thu trái về, chà lấy hạt (chỉ chà nhẹ bỏ bớt vỏ ngoài) phơi khô ở nhiệt độ 35 – 40 độ C, để nguội, cho vào chai lọ, đậy kín để gieo vụ sau. Trong thực tế nhu cầu trồng hẹ chỉ có trên diện tích nhỏ, từ khi trồng đến lúc thu hoạch hạt chiếm nhiều thời gian nên phương pháp trồng bằng hạt ít được áp dụng vì nông dân cần giải phóng đất quay vòng vụ khác, cây khác.


Nguồn: ThS. Trần Thị Ba - Bộ môn Khoa Học Cây Trồng - Khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng - Trường ĐHCT.

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Kỹ thuật trồng Gấc

Kỹ thuật trồng Gấc


Kỹ thuật trồng Gấc by C.ty CPNNĐP | Ky thuat trong gac

1. Tổng quan
- Hiện nay trên thị trường có 02 loại gấc cần phân biệt: gấc nếp và gấc tẻ.

- Gấc nếp: Trái to, nhiều hạt, gai to, ít gai, khi chín chuyển sang màu đỏ cam rất đẹp. Bổ trái ra bên trong cuồi (cơm) vàng tươi, màng đỏ bao bọc hạt có màu đỏ tươi rất đậm và dày thớ.


- Gấc tẻ: Trái nhỏ hoặc trung bình vỏ dày tương đối có ít hạt, gai nhọn, trái chín bổ ra bên trong cơm có màu vàng nhạt và màng đỏ bao bọc hạt thường có màu đỏ nhạt hoặc màu hồng không được đỏ tươi như gấc nếp, nên chọn giống gấc nếp để có trái to nhiều nạc bao quanh và chất lượng màu cũng tốt hơn.

- Những yếu tố cần thiết cho quá trình canh tác cây gấc mà bà con nông dân cần lưu ý:
+ Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho cây gấc phất triển là 23,3 0C (đối với miền nam, tây nguyên).
+ Độ ẩm: cây gấc cần độ ẩm theo từng giai đoạn phát triển của cây nhưng độ ẩm tối đa cho cây gấc là từ 70-80%.
+ Thời gian chiếu nắng: thời gian chiếu sáng cần thiết cho cây gấc là 8 tiếng mỗi ngày.

2. Kỹ thuật trồng gấc
a) Thời Vụ Trồng
- Miền Bắc: Nên trồng vào tháng 2 - 3 dương lịch.

- Miền Nam và Tây Nguyên: Trồng vào đầu mùa mưa, nơi đất ẩm, sẳn nước tưới.

b) Kỹ thuật trồng
- Để có năng suất cao nên chọn đất tốt (đất phù sa), thoát nước. Cuốc xới để ủ nơi định trồng với khoảnh đất khoảng 1m2, sâu độ khoảng 40 - 60 cm.

- Bón lót
+ GV-Hữu cơ vi sinh: 2 kg/hố
+ Hữu cơ GV-ORGANIC : 500 gr/hố
+ Phân chuồng hoai : 10 kg/hố
+ Super Lân : 500 – 600 gr/hố
+ Thuốc trừ sâu Vibasu 10H : 50 gr (ngừa sâu bọ phá hại rể)/hố
Tất cả được trộn chung với đất mặt để bón cho một hố
+ Vôi: 0,3 – 1 kg (tùy độ chua của đất): lưu ý vôi phải trộn đều với đất ở đáy hố trước khi bón phân lót.
+ Sau khi cây con có 4 - 5 lá thật, phun phân bón lá GV 16-16-8 để cây phát triển nhanh. Định kỳ 7 - 10 ngày/lần. Nên kết hợp tưới gốc bằng GV601S K.HUMAT: pha 50cc/5 lít nước, tưới quanh vùng rể cho thấm xuống đất để kích thích bộ rể phát triển, định kỳ 10 ngày/1 lần .

- Quy mô hộ gia đình: Tân dụng đất, trồng gấc sát cạnh rào, bên gốc cây đa, ở bờ ao hay gốc bờ tre… hoặc các cây nào đó làm cộc cho gấc leo cao.

- Quy mô lớn: Chọn địa điểm, chọn đất có điều kiện thuận tiện và làm cho giàn gấc leo. Gấc ưa đất mát, bằng phẳng, tiện sông suối để tưới nước. Gấc trồng thành từng hàng thẳng , mỗi cây cách nhau khoảng 3-4m và hàng nọ cách hàng kia khoảng 4 - 5m.

c) Thiết kế giàn leo
- Trồng gấc cũng như trồng mướp, trồng bầu, cần phải đào hố hoặc đào rãnh trồng và làm giàn cho dây gấc leo mới có nhiều trái. Trong sản xuất gia đình nào cũng có thể cho gấc bò lên các cây thân gổ trong vườn đã bị chết khô hoặc bò phủ tán các cây thân mọc còn sống nhưng năng suất không cao, dây gấc leo càng cao thì càng ít qủa,…cho leo ngang quả nhiều hơn.

- Trồng tập trung cần chú ý: Tìm hướng cho hàng gấc để tránh gió bão làm đỗ. Tùy từng địa phương và địa hình, địa vật. Làm giàn hoặc làm giậu làm sao để hướng gió đi vào giữa hai giậu gấc.

- Cách làm giậu (đối với vùng đất đồi núi): trên một đường thẳng theo hướng gió đã chọn, trồng những cây để làm cọc (như cây gạo, phượng tre, bưởi..) cách 3m trồng 1 cây. Năm đầu và năm thứ hai có thể đóng cọc xen những cây đó để làm giậu. Năm thứ ba những cây kia lớn sẽ thay thế cho cọc. Khi cây gấc phát triển mạnh phải chặt ngọn các cây trồng làm cọc chỉ để phần thân cây cao bằng với tay người lớn (Nếu có điều kiện thì nên dùng trụ bê tông thì tuổi thọ vĩnh viễn và năng suất cao).

- Làm giàn: Giàn có thể dựng bằng các cây tạp, tre nứa hoặc cột bêtông. Bên trên gác các cành tre hoặc đan bằng dây thép hoặc dùng dây cước một sợi (đường kính dây khoảng 2mm) đan thành lưới (kích thước mắt lưới: 40x40cm), sau đó căng lên giàn. Giàn bằng lưới cước chi phí thấp và có thể giữ được từ 3 - 5 năm. Cách làm này đang đươc triển khai rộng rãi ở các tỉnh như Hải Dương, Thái Bình … cho hiệu quả kinh tế cao.

3. Kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh
a) Chăm sóc cây gấc
- Khi cây mọc dài khoảng 30 - 40 cm. Theo dõi bắt ngọn leo vào giậu hoặc lên giàn và thường xuyên bắt các ngọn phân tán đều trên giàn; kiểm tra các gốc xem gốc nào có nhiều quả để sau năm thứ nhất giử lại.

- Cuối mùa hoa, cắt bớt các giậu con cụt không có hoa để giậu được nhẹ bớt và nhựa cây tập trung nuôi quả. Thường xuyên làm cỏ, xới nhẹ đất quanh gốc cách gốc 25-30cm để kích thích rễ phát triễn.
-Bón phân thúc: Ngoài lượng phân bón lót, mỗi năm vào đầu, giữa và cuối mùa mưa nên bón thúc thêm mỗi hố để cây sinh trưởng mạnh cho nhiều trái, trái to:
+ NPK (20-20-15) : 30 – 50 gr./ hố
+ Hữu cơ vi lượng GV-ORGANIC : 50 gr/ hố.
+ Cách bón : đào rãnh rộng 10cm sâu 10cm, hình vành khăn cách gốc 25 – 30cm bón phân vào rãnh rồi lấp đất lại hoặc rải đều phân lên mặt đất cách gốc 25 cm rồi dùng cuốc xới nhẹ lấp phân. Xếp cỏ khô, rơm rạ lên mặt để giữ ẩm và chống rửa trôi.
+ Tưới GV 601S K.HUMAT: pha 50cc/ 5lít nước ,tưới quanh vùng rể cho thấm xuống đất để kích thích bộ rể phát triển và ra rể mới.
+ Đầu mưa, phun phân bón lá GV 16-16-8 để thân lá phát triển mạnh.
+ Trước khi cây chuẩn bị ra hoa 1 tháng, phun phân bón lá GV 20-20-15 để hình thành nhiều hoa.
+ Sau khi đã đậu trái, phun phân bón lá GV-603 S SIÊU TO TRÁI để trái to..Trong giai đoạn trái đang phát triển mạnh, nên phun GV SIÊU CANXI-SIÊU BO để trái chắc, tránh nứt trái, chất lượng cao.

- Tưới và thoát nước: Cây gấc cần đất đủ ẩm nhưng rất sợ úng do đó phải tưới đủ nước và thoát nước ở gốc cây cho tốt.

- Cây rất cần nước nhiều nhất ở giai đoạn ra hoa và phát trển trái. Thiếu nước trong giai đoạn này sẽ làm hoa rụng, trái phát triển kém, năng suất thấp. Độ ẩm thích hợp để trồng gấc là 70-80% độ ẩm tối đa.

- Ngoài các biện pháp chăm sóc bón phân, tưới đủ nước trong gia đoạn cây ra hoa phát triển trái, kỹ thuật phun một số chất kích thích tốt trong giai đoạn cây còn nhỏ có 1 - 2 lá thật cũng làm tăng số hoa cái trên cây. Các hóa chất thường dùng là NAA ( Naphthalen acetic acid) phun ở nồng độ 25 – 100 ppm cho kết quả tốt. Phun GV- KÍCH RA RỂ (có chứa NAA) lên cây gấc lúc có 2 lá thật giúp bộ rể mau phát triển đồng thời làm tăng số hoa cái trên cây.

- Thụ phấn nhân tạo: Gấc là cây lưỡng tính: hoa đực và hoa cái cùng trên một dây, hoặc trên các dây của cùng một gốc. Việc thụ phấn chủ yếu nhờ gió, sâu bọ, ong bướm,... Để tăng năng xuất, người ta tiến hành thụ phấn nhân tạo. Một trong những cách làm hiệu quả đó là dùng bông ướt lấy phấn trên đầu nhị của hoa đực bôi đều lên đầu nhuỵ của hoa cái vào thời điểm hoa đực và hoa cái đã nở đều.

- Xử lý để gốc gấc và dây gấc: Trong điều kiện thời tiết bình thường sau khi hái trái gần xong vào khoảng cuối tháng 2 dương lịch ở Miền Bắc cây gấc đã rụng lá gần hết, dùng dao hay kéo cắt cành để chặt hoặc cắt dây gấc đi chừa một đoạn gốc dài 40 - 60cm trên mặt đất, sau đó đào hố hình vành khăn rộng 20 cm sâu 10 cm cách gốc 25 - 30 cm bón phân rồi lấp đất lại và tưới nước để gốc tái sinh chồi mới. Mỗi năm cắt dây 1 lần; sau 3-4 năm gốc gấc rất to sẽ cho nhiều trái nếu chăm sóc tốt. Còn ở khu vực Tây Nguyên, Miền Nam: Do đặc điểm khí hậu, các yếu tố chất đất tạo nên, Gấc có trái quanh năm. Để có năng suất cao và trái to, trong quá trình chăm bón chọn những dây Gấc không có hoa, nhỏ, sợi dài cắt tỉa hoặc dây Gấc trái quá nhỏ, ít trái cắt tỉa để dây Gấc ra dây mới có khả năng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn và cho năng suất cao hơn. Sau mỗi lần tỉa cánh thì tưới nước và phun thêm một lượng phân bón lá GV 16-16-8 để thân và lá phát triển mạnh và tăng khả năng ra hoa, ra trái nhiều (phun vào buổi chiều khi mặt trời lặn) và phải duy trì được độ ẩm của đất 80 – 85%.
b) Các loại sâu hại gấc: Hiện nay đã phát hiện nhiều loại sâu bệnh phá hoại cây gấc cần phòng trừ.
- Về sâu hại:
+ Bọ dừa (ceratia similis) bọ cánh cứng dài 8mm cánh màu vàng ăn phá hoại lá gấc. Phòng trừ bằng cách xịt các loại thuốc như Tata 25WG xịt đều trên lá.
+ Rầy mềm (Aphid gossypii) bu mặt dưới lá hút nhựa, xịt Decis 50ND hoặc Vicidi-M 50ND 20-30 cc/bình 8 lít.
+ Nhện đỏ (Tetronychidea) tập trung nhiều ở mặt dưới lá thường thấy trong mùa nắng làm úa lá vàng, xoắn lá, dây gấc mọc cằn cỗi phòng trừ bằng cách phun Alfumite 15EC hoặc SK Enpray 99EC xịt đều trên lá.
+ Ruồi trái cây (Dacus cucurbitea) phá hại nặng khi gấc có trái. Ruồi chích trái đẻ trứng ấu trùng phát triển phá vỏ trái làm thối trái, trị bằng cách phun xịt dung dịch Oncol 20EC liều lượng 30ml/8lít, vệ sinh lượm đốt bỏ các trái gấc thối rụng.
+ Sâu xanh ăn hại lá gấc: dùng thuốc Padan 95SP phun vào buổi chiều mát.

- Về bệnh hại:
+ Bệnh Đốm Lá: (Downy mildew) do nấm Pseudope-ronopora cubensis Rostow gây bệnh lá gấc bị bệnh mặt trên có nhiều chấm vàng, mặt dưới có các chất xám sau đó lá chết héo. Dây gấc bị bệnh phát triển kém không cho trái hoặc cho ít trái, trái nhỏ phẩm chất kém, phòng trị bằng cách xịt dung dịch Viben – C hoặc Viroral 50BTN lên lá.
+ Bệnh Cháy Lá :(Anthracnose) do nấm Collectrichum lagenarium Ell and Halst gây bệnh. Lá gấc bị bệnh cháy thành đốm hoặc cháy khô cả lá phòng trị giống như bệnh đốm lá.
+ Bệnh Hoa Lá :( Mosaics) do virus (CMV) gây bệnh lá gấc bị bệnh thường bị đốm vàng xoắn lá dây mọc còi cọc không cho trái, bệnh do siêu vi trùng gây ra không có thuốc trị, phòng trừ bằng cách nhổ bỏ phun thuốc trị bọ dừa và rầy mềm truyền bệnh cũng giảm bớt bệnh.
+ Bệnh sương mai: (Oidium sp.)
. Trên trái: đốm trên lá có vết bệnh hình góc cạnh, xung quanh có viền màu vàng, mặt sau vết bệnh có một lớp sợi nấm màu trắng phát triển. Bệnh nặng làm cho lá khô héo và chết.
. Trên trái: đầu tiên bệnh xuất hiện ngay cuống trái, làm cho cuống biến vàng và khô, sau đó lan dần xuống trái làm thối ngay cuống trái và trái rụng.
Đối với loại bệnh này chúng ta có thể phòng bằng các biện pháp canh tác như trồng với khoảng cách hợp lý, thường xuyên cắt tỉa các cành ốm yếu, cành không cho trái… để tạo cho giàn được thông thoáng… Trong trường hợp gặp điều kiện thời tiết nhiều sương mù và khi bệnh chớm xuất hiện thì chúng ta có thể sử dụng một số loại thuốc BVTV để phun phòng trừ: Ridomil Gold, Viben C, Topsin-M, Score, Anvil, Mataxyl, Aliette, Agri-phos, …
+ Bệnh Tuyến Trùng (Nematode): Tuyến trùng Meloidogyne spp. làm rễ, dây gốc bị tuyến trùng phá hoại trông còi cọc phát triển kém, vàng cho trái hoặc không cho trái. Phòng trừ bằng cách rải một hố 30gram Vifuran 10H hoặc 20gram Vimoca 10G khi gieo hạt hoặc trồng cây con.

4. Quy trình thu hái gấc
Để đảm bảo thời gian thu hoạch quả gấc cần chú ý những điểm sau:
- Chỉ nên thu hái gấc khi quả đã chín đỏ (đỏ đến ½ quả). Màng đỏ bọc ngoài hạt dày và có nhiều chất béo sẽ chiết tách được nhiều dầu Beta-Caroten. Khi hái nên chọn những ngày nắng, dùng dao sắt hoặc kéo bén cắt cuống trái chừa một đoạn dài 8 - 10 cm. Quả được xếp vào trong sọt, một sọt nặng khoảng 10 - 15 kg để tiện vận chuyển. Dưới đáy sọt cứ một lớp quả lại để một lớp rơm rạ giữ cho quả gấc khỏi bị vỡ bẹp, nhất là khi vận chuyển đi xa. Trước khi sử dụng trái gấc cần được tồn trữ nơi thoáng mát.

- Yêu Cầu Thu Mua: Quả gấc phải chín đều về sinh lý, không dập nát, thối hỏng…, không chín ép, không giấm. Trọng lựơng quả từ 0,8kg trở lên.

- Màng gấc sấy khô phải đạt: Độ ẩm 7% - 8% (kiểm tra độ ẩm bằng cách bẻ đôi màng
gấc, nếu gảy đôi là đạt độ ẩm), màng không dị tật, mốc, cháy khét, sâu mọt, …

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

Kỹ thuật trồng Hành Tím

Kỹ thuật trồng Hành Tím


Hành tím thuộc nhóm rau ăn củ, được sử dụng rộng rãi để chế biến thức ăn trong đời sống hằng ngày. Có hai loại: Củ to tròn và củ nhỏ dài. Đa số các loại giống có thời gian sinh trưởng 60 – 65 ngày. Khi trồng nên chọn củ già (củ ngừng tăng trưởng) có màu tím sậm. Lượng giống để sản xuất hành thương phẩm cần 60 – 90 kg/ 1.000 m2, trồng để giữ giống 300 - 400 kg/ 1.000 m2. Thời vụ: Ở Sóc Trăng thời vụ trồng giữ giống vào tháng 4 – 5 âl, vụ mùa trồng hành thương phẩm tháng 9 - 10 – 11âl, thu hoạch tháng 11 - 12 - 1 âl ; ở Bến Tre thường xuống giống vào giữa tháng 9 – 10 ÂL thu hoạch tháng 11 – 12 ÂL.

1. Kỹ thuật trồng hành tím
- Hành tím trồng được trên nhiều loại đất, nhưng đất cần cao ráo, tơi xốp nhiều dinh dưỡng, nếu trồng gần nguồn nước mặn phải tưới nước ngọt. Hành rất sợ ngập úng, vì thế người ta cần bố trí vụ trồng vào thời điểm hết mưa để tránh hiện tượng thối củ. Làm đất : Đất cày ải trước 1 tháng, trước khi lên liếp 3 – 5 ngày tiến hành rải vôi, nếu đất sét cần trộn cát mịn đều trên mặt liếp. Làm liếp: Liếp cao 15 – 20 cm, mặt liếp rộng 0,7 – 0,9 m, khoảng cách mương giữa 2 liếp 20 – 30 cm. Liếp trồng cần bằng phẳng, tưới nhẹ và phủ 1 lớp rơm trước khi trồng, xịt thuốc diệt mầm cỏ bằng Ronstar, Dual.

- Chọn củ tốt có màu tím sậm, đáy tròn, không mọc rễ non, không sâu bệnh. Trước khi trồng lột bỏ vỏ bao chóp củ, nên xử lý thuốc ngừa bệnh thối củ bằng thuốc : Copperzinc, Aliette, Mancozeb hoặc Rampart, Kasuran.Khoảng cách trồng: Hàng cách hàng 12 – 15 cm x cây cách cây 10 – 15 cm. Mật độ 4.000 – 4.500 bụi/1.000 m2, trồng 1 – 2 củ/ hốc, nếu đất sét cắm củ sâu 2/3 lớp mặt, nếu đất cát cắm củ vừa ngập mặt đất. Sau khi trồng xong phủ một lớp rơm mỏng rồi tưới nước.

2. Chăm sóc
- Cho 1.000 m2 đất trồng. Liều lượng phân:Vôi: 50 kg – 60 kg, phân hữu cơ (phân chuồng hoai, phân tôm): 15 – 20 thúng + phân cá, Humix, Komix 40 -50 kg. Phân vô cơ: SA 25 –30 kg; Supper Lân 10 – 15 kg; DAP 30 kg; Kali 12 kg; NPK 27 kg,Thuốc BVTV: Sử dụng thuốc Furadan 2 kg. Cách bón: Bón lót: Toàn bộ vôi + lân + phân hữu cơ ( chuồng hoai ) + 20 kg DAP + 15 kg NPK + 2 kg Furadan. Cách bón: Bấu lỗ hoặc rạch hàng, bón thúc lần 1 (5 -7 NSKT): Tưới 5 – 6 kg S.A, bón thúc lần 2 (15 -20 NSKT): Tưới 6 – 8 kg SA + 3 kg DAP + 2 kg NPK + 3 kg Kali, bón thúc lần 3 (30 NSKT): Toàn bộ phân hữu cơ vi sinh (phân cá, Komix, Humix) + 5 kg NPK + 5 kg DAP + 6 - 7 kg SA + 4 kg Kali, bón thúc lần 4 (40 NSKT): 5 kg NPK + 5 kg Kali + 8 – 10 kg SA + 2 kg DAP.

- Công thức bón phân này có thể thay đổi theo đất đai, thời tiết và màu xanh của hành. Nếu hành xấu nên tưới thêm SA hoặc DAP để lá, rễ củ phát triển, không nên tưới urê lá sẽ vươn dài (hành bò) tạo củ khó. Chăm sóc trong 10 ngày đầu tưới 1 –2 lần/ngày, 11 ngày trở đi 2 ngày/lần, lượng nước tưới thay đổi từ 100 – 150 đôi nước/1.000 m2/ lần tưới (400 – 600 lít/ lần) và ngưng tưới hẳn 1 tuần trước khi thu hoạch. Lượng nước tưới phải tăng đều ổn định, nếu tưới nước bất thường củ sẽ bị xé. Nhổ cỏ 2 lần ở giai đoạn 35 ngày đầu, tránh nhổ trễ hành sẽ bị động rễ, củ. Phun thuốc ngừa định kỳ nhất là khi thời tiết xấu.

3. Thu hoạch
Giai đoạn 55 – 60 ngày, củ chuyển sang màu đỏ, lá đã ngả 80% thì bắt đầu nhổ, thường thì phơi nắng 2 – 3 ngày cho lá mềm lại để dễ vận chuyển xa. Chỉ nên thu hoạch hành vào những ngày khô ráo. Nhổ củ giũ sạch đất cho vào giỏ và chuyển về nơi bảo quản, tránh gây xây xát hoặc làm dập vỏ ngoài sẽ ảnh hưởng đến giai đoạn tồn trữ. Đối với hành sản xuất vụ tháng 4-5âl, để giữ làm giống thì thu hoạch 40 – 45 ngày sau khi trồng (củ đã già ngừng tăng trưởng để lâu dễ hư củ) Bảo quản: Phơi nắng 10 – 15 ngày, rơm thật khô, phải sạch sâu bệnh, chất đống cao 1 – 5 m, cứ một lớp hành phủ một lớp rơm , vị trí cây rơm giữa trời, thoáng hoặc treo nguyên chùm hành ở nơi thoáng gió, tồn trữ thuốc hóa học bằng cách ướp hỗn hợp 40kg bột Tale+Sevin+ Rovral/tấn củ hành.

Kỹ thuật trồng hành tím, Nguồn: Agriviet.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc Kiệu

Kỹ thuật trồng và chăm sóc Kiệu



Kiệu là loại cây trồng ngắn ngày, dễ trồng, ít phải đầu tư, nhanh cho thu hoạch và đem lại giá trị kinh tế khá cao. Mỗi hécta nếu thâm canh tốt có thể cho 35 – 40 tấn củ. Nhu cầu cây kiệu trên thị trường nội địa cũng lớn nên dễ bán, giá lại cao (trung bình 3 - 4 ngàn đồng/1kg vào dịp Tết) nên nhiều bà con nông dân ở các tỉnh vùng ĐBSH, Nam Bộ và nhiều nơi khác trên cả nước đã thoát được nghèo, trở nên khá giá nhờ trồng và thâm canh kiệu.

1. Đất trồng
Chọn loại đất nhẹ, tơi xốp giàu mùn, nhiều cát, dễ thoát nước, độ PH từ 6 - 6,5 như các loại đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất phù sa ven sông để trồng kiệu là tốt nhất. Đất trồng kiệu phải được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, bón đủ lượng phân lót và vôi bột (nếu đất chua) rồi lên luống rộng 0,8 – 1m, cao 25 - 30 cm, rãnh rộng 30 cm.

2. Thời vụ
Cây kiệu có thể trồng quanh năm nhưng có hai vụ chính, trồng tháng 9 – 1, thu vào tháng 1, tháng 2. Vụ này cây sinh trưởng phát triển tốt nên cho năng suất cao, bán vào dịp tết được giá. Vụ phụ có thể trồng tháng 4 – 5 để thu tháng 7 – 8.

3. Kỹ thuật rồng và chăm sóc kiệu
- Bón lót: Lượng phân cần bót lót cho 1 ha trồng kiệu bao gồm: 25 – 27 tấn phân chuồng hoai mục + 300 kg lân supe + 150 phân Kali Clorua và 100 kg tro bếp. Toàn bộ lượng phân dùng để bón lót nói trên được trải đều trước khi lên luống để trồng.

- Chuẩn bị củ giống: Sau khi thu hoạch chọn các củ to, đều, không có sâu bệnh đem phơi khô cho lá héo rồi bó lại thành từng bó treo trên giàn cất giữ cho đến khi trồng. Trước khi trồng mới tách các tép ra, mỗi hóc chỉ cho một tép.

- Trồng: Dùng ngón tay trỏ hoặc một chiếc dầm gỗ có đường kính 2 – 3 cm chọc lỗ rồi đặt củ kiệu giống xuống sâu 5 –6 cm. Có thể trồng thành các hàng dọc hoặc hàng ngang trên mặt luống với khoảng cách: Hàng cách hàng 20 – 25 cm, cây cách cây 10 – 12 cm. Chú ý : không lấp đất vào lỗ mà chỉ rải một lớp đất mỏng trên mặt luống rồi dùng ra phủ kín và tưới nước đủ ấm.

- Chăm sóc: Thường xuyên làm sạch cỏ trên mặt luống, tưới đủ ẩm cho kiệu mọc nhanh và khoẻ, củ to. Sau trồng một tháng thì dỡ rạ ra xới xáo, vun gốc kết hợp với bón phân thúc cho kiệu rồi lại phủ rạ trở lại như củ nhằm hạn chế cỏ dại mọc, vừa giữ cho đất tơi xốp giúp cho kiệu đẻ nhánh và hình thành củ dễ dàng. Ngoài lượng phân bón lót cần phải bón thúc cho kiệu 2- 3 lần, mỗi lần cách nhau 12 – 15 ngày với lượng phân từ 35 – 40 kg urê + 8 –10 kg kali bằng cách hoà nước tưới vào gốc hoặc kết hợp làm cỏ, rắc phân giữa các hàng rồi vun gốc.

- Phòng trừ sâu bệnh: cũng như các cây hành, tỏi, kiệu thường bị một số đối tượng chính gây hại như: sâu ăn lá thường xuất hiện vào thời kỳ mới trồng, cây kiệu còn non. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như Polytrin 400 SCW, Selecron500 ND, fastac 5EC pha nồng độ từ 0,1 đến 0,15% để phun trừ. Bệnh sương mai phát sinh và gây hại trong điều kiện nhiệt độ thấp dưới 25oC, độ ẩm không khí cao trên 85%. Bệnh có thể gây chết hàng loạt dẫn đến thất thu. Chú ý phun phòng bằng thuốc Boocđô 1%, Oxít Clorua đồng 1 – 1,5 %. Bệnh thối củ do vi khuẩn Ervinia sp. Hoặc nấm Botrytis gây hại từ khi củ bắt đầu vào chắc cho đến khi thu hoạch và trong thời gian bảo quản. Bệnh thối củ thường phát sinh và gây hại trong điều kiện môi trường ẩm thấp, bón phân không cân đối, đặc biệt là bón quá nhiều đạm, thiếu lân và kali. Có thể xử lý củ giống trước khi trồng bằng thuốc trừ nấm Benomyl 50 WP. Khi thấy có triệu trứng bệnh thì dùng Validacyl 50 WP, Rovral 50 WP, rodomil 68 WP hoặc Aliette 80 WP pha nồng độ 0,3% để phun đều trên mặt luống.

4. Thu hoạch
Cây kiệu trồng được 3 – 5 tháng ( tuỳ theo mùa vụ và yêu cầu sản phẩm ăn tươi hay lấy củ già ) là có thể thu hoạch được. Trước khi thu hoạch nên tháo nước vào các rãnh cho thấm hết mặt luống làm đất mềm dễ nhổ. Nhổ đến đâu ta rủa rạch đất tới đó, bó lại từng bó rồi đem đi tiêu thụ.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc kiệu, Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam.

Kỹ thuật trồng Hành Lá

Kỹ thuật trồng Hành Lá


1. Tổng quan
- Hành lá có tên khoa học: Allium fistulosum sp, thuộc họ hành tỏi: Liliaceae.

- Hành lá là loại gia vị, không thể thiếu trong các bửa ăn hàng ngày, mặc dù vốn đầu tư và công lao động cao hơn các loại rau gia vị khác, nhưng vẫn đạt hiệu quả kinh tế cao.

- Hành thân thảo, cây sống lâu năm, có mùi đặc biệt. Có 5 - 6 lá, lá hình trụ rỗng, dài 30 - 50 cm, phía gốc lá phình to, trên đầu thuôn nhọn. Hoa tự mọc trên ống hình trụ, rỗng. Hoa tự dạng hình xim, có ngấn thành hình tán giả trông tựa hình cầu. Quả nang, tròn. Hành được trồng khắp nơi, chủ yếu là làm gia vị. Đồng thời hành cũng là một vị thuốc nam được dùng để chữa nhiều loại bệnh: thuốc ho, trừ đờm, lợi tiểu, sát trùng...

2. Giống trồng


- Sử dụng giống địa phương, có hai loại gốc thân trắng và gốc thân đỏ có đặc điểm sinh trưởng tương đương nhau, thời gian sinh trưởng 42 - 50 ngày.
+ Hành Hương: lá nhỏ, bụi nhỏ, có mùi thơm, năng suất 1 tấn/1.000 m2, dễ nhiễm bệnh vàng lá.
+ Hành Trâu: lá to, bụi lớn, năng suất 1-1,5 tấn/1.000 m2, thị trường rất ưa chuộng.
+ Hành Đá: lá, bụi thuộc dạng trung gian, năng suất 1-1,5 tấn/1.000 m2, trồng phổ biến, thị trường rất ưa chuộng, thích hợp trồng dày.

- Chọn những bụi hành tương đối đồng đều, đúng tuổi, sinh trưởng tốt, không bị nhiễm sâu bệnh.

- Lượng giống: tùy chất lượng cây giống, thường cần khoảng 180 - 240 kg hành giống/1.000 m2

- Xử lý giống: để đảm bảo không còn sâu bệnh lây lan sang vụ tới, trước khi nhổ hành giống 1 - 2 ngày, tiến hành phun Regent 800WP hoặc Map-permethrins 50EC, nếu sâu nhiều có thể xử lý bằng Secure 10EC theo nồng độ khuyến cáo.

3. Kỹ thuật trồng hành lá
a) Thời vụ
Hành lá có thể được trồng quang năm, tuy nhiên năng suất mùa nắng cao hơn vào mùa mưa. Thời gian sinh trưởng 45-50 ngày. Trồng hành trong mùa nắng chú ý sâu xanh da láng, mùa mưa thì bệnh khô đầu lá.

b) Chuẩn bị đất
- Yêu cầu: đất nhiều mùn, thoát nước, ít chua, pH thích hợp từ 6,0 - 6,5, nếu pH thấp hơn 5,0 cần bón thêm vôi và tro bếp.

- Đất trồng hành cần được phơi ải. Kỹ thuật lên liếp hành thay đổi tùy chân đất và tập quán canh tác. Lên liếp vồng cao 35 - 45 cm, chân liếp rộng 1 m, khoảng cách giữa hai liếp là 30 cm để thoát nước và đi lại chăm sóc.

- Xử lý đất: tiến hành xử lý đất ở 3 ngày trước trồng, sử dụng 1 kg Mocap/1.000 m2. Rải thuốc lên liếp rồi đảo đều lớp đất mặt.

- Tủ rơm kín mặt liếp ngay trước khi trồng

c) Khoảng cách trồng
Hàng cách hàng x cây cách cây: 20 x 10 cm

d) Phân bón
- Tổng lượng phân dùng cho 1.000 m2: phân chuồng hoai 1-2 tấn + 30 kg tro + 12,5 kg urea, 28 kg super lân, 8 kg kali.

- Dạng phân có thể sử dụng Urea, DAP, NPK, có thể tăng cường sử dụng thêm các chế phẩm vi lượng (muối borat), chất kích thích sinh trưởng, phân bón lá để tăng cường dinh dưỡng cho hành và giảm hiện tượng cháy đầu lá. Trong trường hợp hành sinh trưởng xấu có thể dùng Super hume để phun lên hành.

* Bón lót: 1 - 2 tấn phân chuồng hoai + 30 kg tro + 28 kg super lân + 5 kg kali

* Bón thúc:
- Nguyên tắc bón phân thúc: hòa nước, tưới bằng thùng vòi hoa sen. Tưới phân đầu tiên khi hành hồi xanh (khoảng 7 ngày sau trồng), 7 ngày tưới phân 1 lần (khoảng 4-5 lần/vụ) tùy theo sinh trưởng của hành và tùy theo mùa vụ. Thời gian cách ly là 10 ngày trước khi thu hoạch.

* Lưu ý: Có thể sử dụng khuyến cáo sau (nếu sử dụng khuyến cáo này thì không bón lót phân lân):
+ Lần 1 (7 NST): 4,5 kg urea
+ Lần 2 (14 NST): 14 kg DAP + 1,5 kg KCl
+ Lần 3 (21 NST): 19 kg NPK 16-16-8 + 1,5 kg KCl
+ Lần 4 (28 NST): 17 kg DAP + 2,5 kg KCl
+ Lần 5 (nếu có, 35 NST): 4,5 kg urea
- Phân bón lá và vi lượng (nếu có) có thể phun kết hợp khi phun thuốc bảo vệ thực vật. Khuyến cáo không nên lạm dụng các chất điều hòa tăng trưởng (ProGib,..) dễ dẫn đến hiện tượng rã bẹ, cây vóng, yếu. Có thể sử dụng chế phẩm EM hoặc Crop-master cho hành lá. Nếu dùng Super hume phun 3 lần (lần 2, 4, 5) thì có thể giảm 1/3 lượng đạm dùng cho hành và hạn chế hiện tượng vàng lá, tăng sức đề kháng cho hành.

e) Chăm sóc
- Chú ý làm cỏ kịp thời, không để cỏ chụp hành

- Tưới đủ ẩm để cây sinh trưởng tốt.

- Tưới phun cho hành lá; Giữ mực nước tưới thấm trong rảnh hành lá

- Để tận dụng và tăng hiệu quả sử dụng đất, có thể trồng xen ngò rí, cải xanh hoặc cải ngọt quanh mép liếp.

f) Phòng trừ sâu bệnh
- Các đối tượng sâu bệnh hại chính: sâu xanh da láng Spodoptera exigua (xuất hiện rất sớm và gây hại đến cuối vụ), dòi đục lá (xuất hiện muộn), sâu ăn tạp (Spodoptera litura), bù lạch (Thrips tabaci), bệnh cháy đầu lá, hiện tượng rã bẹ, bệnh đốm tím Alternaria pori...

- Thường xuyên theo dõi đồng ruộng, bắt sâu trưởng thành, sâu non, ngắt bỏ ổ trứng, kết hợp làm cỏ bón phân, phun thuốc vào lúc trời mát.

- Nguyên tắc phòng trừ sâu hại bằng thuốc hóa học, sử dụng luân phiên các loại thuốc hóa học, lưu ý dùng đúng thuốc, đúng thời điểm, ưu tiên sử dụng các thuốc vi sinh, điều hòa sinh trưởng, gốc cúc tổng hợp. Bắt đầu phun khi có sâu hại. Đảm bảo thời cách ly 7 - 10 ngày.

- Khi sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu xanh da láng hại hành lá thì không thể dùng một loại thuốc cho mỗi lần phun mà phải dùng hỗn hợp theo khuyến cáo sau (thường phun kết hợp trừ sâu xanh da láng và các đối tượng khác).
+ Lần 1: Atabron 5EC
+ Lần 2: Cascade 5EC + Mimic 20F
+ Lần 3: Dipel 3.2WP + Cascade 5EC
+ Lần 4: Mimic 20F + SeNPV
+ Lần 5: Dipel 3.2 WP + SeNPV

- Không sử dụng Furadan 3H trên hành lá và hạn chế sử dụng Padan.

- Nếu có bệnh đốm tím, bệnh khô đầu lá thì dùng Antracol 50WP, Dithan M45.

g) Thu hoạch
Tiến hành thu họach khi hành đủ tuổi (42-45 ngày sau trồng) tùy tình hình sinh trưởng và sâu bệnh. Trường hợp hành xấu có thể lưu thêm và ngày, nhưng không nên kéo dài quá. Hành lá khi đưa ra thị trường phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

Kỹ thuật trồng hành lá, Nguồn: Agriviet.