Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Đậu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Đậu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

Giống Đậu Tương năng suất cao

Giống Đậu Tương năng suất cao


Giống đậu tương năng suất cao by NNVN | Giong dau tuong nang suat cao

Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam vừa chọn và giới thiệu 5 giống đậu tương phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở miền Bắc cho năng suất cao gồm: Đ 8; ĐT 22; ĐT 2000; ĐT 26 và Đ 2101.


- Đậu tương Đ 8 có thời gian sinh trưởng (TGST) 85 - 90 ngày, năng suất 22 - 26 tạ/ha. Thời vụ: xuân hè, hè thu và thu đông. Không nhiễm bệnh gỉ sắt và bệnh phấn trắng; chịu rét tốt.

- Đậu tương ĐT 22 có TGST 85 - 90 ngày; chống chịu sâu bệnh khá, chống đổ tốt, năng suất từ 15 - 27 tạ/ha; có thể trồng trong vụ xuân, vụ hè và vụ đông.

- Đậu tương ĐT 2000 có TGST 100 - 110 ngày, kháng bệnh gỉ sắt và phấn trắng, chống đổ tốt. Năng suất từ 20- 30 tạ/ha. Thời vụ trồng thích hợp: Vụ xuân và vụ thu đông.

- Đậu tương ĐT 26 có TGST 95- 100 ngày vụ xuân, 85 - 90 ngày vụ đông. Năng suất đạt 21 - 28 tạ/ha, có khả năng chống chịu khá với bệnh gỉ sắt, đốm nâu; đặc biệt là khả năng phục hồi sau khi bị dòi đục thân, chống đổ tốt.

- Đậu tương Đ 2101 có TGST trung bình từ 90 - 100 ngày, chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh và chịu rét khá. Giống có tiềm năng cho năng suất cao, đạt từ 20 - 36 tạ/ha. Đ 2101 thích hợp với điều kiện gieo trồng vụ xuân và vụ đông các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ; vụ hè thu cho các tỉnh miền núi phía Bắc.

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Kỹ thuật trồng Đậu Bún

Kỹ thuật trồng Đậu Bún


Kỹ thuật trồng đậu bún by MNN | Ky thuat trong dau bun
http://www.maynongnghiep.pro.vn
I. Giống
 - Giống đậu đũa lùn (đậu đũa cây): thu hoạch ít lứa, không leo, trái ngắn 20 - 30cm, thịt chắc, ăn ngon và sai trái. Thời gian sinh trưởng 60 - 70 ngày.

- Giống đậu leo: thân sinh trưởng vô hạn, canh tác phải làm giàn. Thời gian sinh trưởng 90 - 110 ngày. Có 2 giống là giống móng chim, tái có màu xanh đậm, chót đuôi trái có điểm tím, hột màu đen; giống kia vỏ tráo màu xanh nhạt và hột màu trắng.

- Hiện nay đa số trồng các giống mới cho năng suất cao của công ty giống Miền Nam, Trang Nông.

II. Kỹ thuật canh tác 
1. Thời vụ gieo trồng 
- Vụ chính Đông - Xuân: Gieo từ tháng 10 – 11 dl, vụ này cho năng suất cao.

- Vụ Hè - Thu: Gieo từ tháng 5 – 6 dl (vụ này năng suất thấp và nhiều sâu bệnh hại).

2. Làm đất 
Mùa mưa lên líp cao 15 - 20cm. Canh tác đậu đũa lùn gieo như các đậu khác. Khoảng cách 50x20cm. Lượng hột 40 - 50kg/ha. Đậu đũa bò trồng khoảng cách 70 - 100cm x 20 - 30cm. Lượng giống 20 - 25kg/ha.

3. Bón phân 
- Lượng phân bón cho 1 ha đậu như sau:
+ Urea: 250 - 300kg
+ Super lân: 300 - 400kg
+ KCl: 150 - 200kg
+ Phân hữu cơ: 10 - 15 tấn.

- Cách bón và thời kỳ bón:
+ Bón lót: bón trước khi gieo hột. Dùng cuốc rạch hàng để bón phân trên líp xong lấp đất.
+ Bón thúc:
. Tưới phân dậm: cây được 8 - 10 ngày tuổi, pha phân đạm nồng độ 2 - 4‰ tưới thúc để cây mọc nhanh.
. Rãi phân lần 1: khi cây được 15 - 20 ngày tuổi, kết hợp với làm cỏ vun gốc. Cuốc 1 bên mép của hàng đậu phía bên sẽ cắm cây làm giàn bón 50 - 60kg urê, phân lân còn lại, 30 - 40kg KCl và dùng cuốc lấp phân lại. . Tưới phân dậm: Dùng urê nồng độ 3 - 5% tưới 2 - 3 lần giữa 2 lần bón rãi.
. Rãi phân lần 2: khi cây được 40 - 45 ngày, bón phân nuôi trái với lượng 40 - 50kg urê, 70 - 100kg super lân, 30 - 40kg KCl, rãi phân dọc theo bìa líp.
. Tưới phân dậm: phân urê và kali phối hợp pha tưới xen kẽ trong những lần thu trái để kéo dài thời gian thu hoạch trái, các lứa sau phát triển đều đặn, giảm số trái dị tật ở những đợt thu, có thể dùng NPK 16-16-8, không nên sử dụng đơn thuần phân urê.
. Có thể sử dụng phân bón lá Bayfolan, HVP, Supermes,…phun định kỳ 7 - 10 ngày/lần (không sử dụng khi cây có bệnh trên lá hoặc ở gốc thân).

4. Chăm sóc 
- Giậm hột: 5 - 7 ngày sau khi cấy - Tỉa cây con: 10 - 15 ngày sau khi cấy tỉa chừa 2 cây/hốc.

- Làm cỏ, vun xới: kết hợp với các lần bón phân thúc 2 và 3.

- Tưới nước: tưới bằng thùng vòi búp sen , mỗi ngày 2 lần vào buổi sang và buổi chiều. Tưới nhiều lúc ra hoa trái rộ. Nếu có điều kiện dùng phương pháp tưới thấm vì lúc nầy cây phát triển tối đa, bộ lá lớn, phiến lá to, cây yêu cầu nhiều nước. Thiếu nước cây phát triển kém, trái nhỏ, mau già nhiều xơ, giảm năng suất và phẩm chất trái tươi.

- Làm giàn: dùng sậy già hoặc sóng lá dừa dài 1,2m để cắm làm giàn khi cây bỏ vòi. Giàn cắm theo hình chữ X. Số lượng cây từ 40.000 - 50.000 cây/ha.

5. Phòng trừ sâu bệnh 
a) Sâu hại 
- Ruồi đục lòn: có thể làm cho lá bị khô, giảm khả năng quang hợp. Trường hợp nặng có thể gây chết dây. Phun Basudin 50ND, Peran.

- Sâu dục trái: phá hại lúc trái non đang phát triển. Phòng trừ chỉ nên phun sớm thuốc Peran, Cyperan ở giai đoạn trổ hoa. Nên ngưng xịt thuốc trong thời kỳ thu trái.

- Rầy mềm, rầy nhớt: chích hút nhựa làm cho ngọn chùn đọt và lá bị vàng.

b) Bệnh hại 
- Bệnh héo cây non : chủ yếu gây hại ở cây con. Gốc cây bệnh có phủ sợi nấm màu trắng, hạch nấm có đường kính 1 - 2mm màu nâu. Phòng ngừa nên xử lý đất trước khi gieo hột và rơm dùng để đậy phải lấy từ ruộng lúa không bị bệnh. Xử lý đất và rơm bằng Kitazin 50 ND nồng độ 0,2 - 0,3%, nên dùng phân hữu cơ hoai và tránh để đất úng nước.

- Bệnh héo Fusarium: bệnh thường xuất hiện sớm khi cây mới mọc mầm. Nấm tồn tại trong đất 5 năm, do đó nếu trồng liên tục đậu sẽ làm gia tăng số nấm mỗi năm.

- Bệnh đốm vi khuẩn: bệnh gây các đốm cháy rộng trên lá, trái đậu có những đốm nhỏ, xanh nhạt, nhũn nước, sau đó trở nên nâu và khô, trái có hình dạng bất thường.

- Bệnh đốm lá: do nấm gây ra. Nấm phát triển ở mặt dưới là và nơi vết bệnh có thể rách lá.

- Bệnh phấn trắng: bệnh thường phát triển vào giai đoạn cuối thu hoạch. Đốm mất màu, dần dần chuyển thành trắng xám, lá non cuốn lại, chuyển sang vàng và rụng, trái còi cọc.

6. Thu hoạch
 Đậu đũa lùn cho thu hạoch từ 45 - 50 ngày và đậu đũa bò từ 55 - 60 ngày sau khi gieo. Đậu cho thu hoạch kéo dài từ 30 - 45 ngày, 1 - 3 ngày thu 1 lần. Năng suất trung bình có thể đạt từ 18 - 20 tấn/ha.

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Kỹ thuật trồng thâm canh cây Lạc

Kỹ thuật trồng thâm canh cây Lạc


Kỹ thuật thâm canh cây lạc by HND Hưng Yên | Ky thuat trong tham canh cay lac

1. Điều kiện sinh thái
a) Về đất đai


Lạc không yêu cầu khắt khe về độ phì của đất. Do đặc điểm sinh lý của lạc, đất trồng lạc phải đảm bảo cao ráo, thoát nước nhanh khi có mưa to. Thành phần cơ giới của đất trồng lạc tốt nhất là loại đất thịt nhẹ, cát pha, để đất luôn tơi, xốp và có độ pH từ 5,5 - 7 nhằm thoả mãn 4 yêu cầu của cây lạc:
- Rễ phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều ngang.

- Đủ ôxy cho vi sinh vật nốt sần hoạt động cố định đạm.

- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng.

- Dễ thu hoạch.

b) Về nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của lạc. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống cây lạc là khoảng 25 - 30 độ C và thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho thời kỳ nảy mầm 25 - 30 độ C, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 20 - 30 độ C, thời kỳ ra hoa 24 - 33 độ C, thời kỳ chín 25 - 28 độ C. Tích ôn hữu hiệu của lạc 2.600-4.8000C thay đổi tuỳ theo giống.

c) Về ẩm độ, lượng mưa
- Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc. Tuy lạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở một giai đoạn nhất định. Độ ẩm đất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu khoảng 70 - 80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng. Yêu cầu này có cao hơn một chút ở thời kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm ở thời kỳ chín của hạt.

- Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc từ khi mọc đến thu hoạch (không kể thời kỳ nảy mầm) là 450 - 700mm.

d) Về ánh sáng
Lạc là cây ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ. Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc. Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng.

2. Giống trồng
a) Một số giống lạc
- Giống sen lai (75/23): Được công nhận giống Quốc gia năm 1990, là giống có thời gian sinh trưởng trung bình, vụ Xuân 120 - 128 ngày, vụ Thu 105 - 115 ngày. Năng suất trung bình 16 - 24 tạ/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 35 tạ/ha. Hạt to đều, khối lượng 100 hạt 53-56 gam, phù hợp cho xuất khẩu. Chống chịu khá trong điều kiện nóng hoặc úng nhanh cục bộ. Thời kỳ cây con chịu rét khá hơn sen Nghệ An, mẫn cảm với bệnh đốm lá và rỉ sắt.

- Giống V79: Được công nhận năm 1995. Dạng thân đứng, sinh trưởng khỏe, ra hoa tập trung, chiều cao cây trung bình 47-50cm. Có thời gian sinh trưởng dài hơn các giống địa phương. Vụ Xuân 128-135 ngày. Năng suất trung bình 27,9 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 30 tạ/ha. Khối lượng 100 hạt 48-51 gam. Khả năng chịu hạn tương đối. Trong điều kiện thâm canh cao dễ bị lốp đổ. Dễ mẫn cảm với bệnh đốm lá và rỉ sắt. Thích hợp trên đất bạc màu, thịt nhẹ, đất bãi không được bồi hàng năm, vùng phụ thuộc nước trời.

- Giống 1660: Được khu vực hoá tháng 1/1995, được công nhận tiến bộ kỹ thuật tháng 1/1998. Cây cao 42 - 45 cm, thời gian sinh trưởng 127 - 133 ngày. Năng suất trung bình 16 tạ/ha, cao nhất 20 - 22 tạ/ha. Khối lượng 100 hạt 50 - 52 gam. Chịu nóng khá, ít bị sâu xanh gây hại. Thích hợp với đất đồi thấp, chân đất thích hợp đất thịt nhẹ, ít đầu tư. Có thể gieo trồng trong vụ Xuân và vụ Thu.

- Giống L02: Được phép khu vực hoá năm 1998. Thời gian sinh trưởng vụ Xuân 127 ngày, vụ Thu 110 ngày. Cây cao 32 - 40cm, khối lượng 100 hạt 60 - 65 gam. Năng suất 30,2 - 36,5 tạ/ha. Chống bệnh héo xanh ở mức trung bình, chịu thâm canh. Chống chịu bệnh rỉ sắt, bệnh đốm nâu, đốm đen trung bình khá.

- Giống MD7: Thời gian sinh trưởng 120 ngày trong vụ Xuân, sinh trưởng tốt. Cây cao 49,2 cm. Khối lượng 100 quả 139gam, khối lượng 100 hạt 51 gam, chịu hạn tốt, chịu đất ướt tốt. Năng suất 35 tạ/ha, là giống yêu cầu thâm canh.

- Giống LVT: Được nhập nội từ Trung Quốc vào Việt Nam năm 1992. Được công nhận tiến bộ kỹ thuật tháng 1/1998. Sinh trưởng khoẻ, phân cành trung bình, bộ lá xanh đậm. Cây cao 56 - 63cm. Thời gian sinh trưởng vụ Xuân 125 - 133 ngày, vụ Hè thu 110 - 120 ngày. Năng suất trung bình 19tạ/ha, cao nhất 23 - 26tạ/ha. Khối lượng 100 hạt 52 - 54gam. Thích hợp trên chân đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất bãi thấp và đất đồi thấp, tránh đất thịt nặng.

- Giống L14: Là giống nhập nội từ Trung Quốc được Viện KHKTNN Việt Nam bồi dục và chọn lọc từ năm 1996, được đưa vào sản xuất tại Nghệ An từ vụ Hè thu năm 2000.
Đặc điểm của giống: Thân đứng, lá xanh đậm trong gần suốt cả quá trình sinh trưởng, chống đổ tốt, kháng bệnh bạc lá cao (đốm nâu, đốm đen, rỉ sắt), kháng bệnh chết ẻo (héo xanh vi khuẩn). Quả to, eo nông, có gân quả nông, vỏ lụa màu hồng. Thời gian sinh trưởng trong vụ Xuân 115 - 120 ngày, vụ Thu và vụ Đông 100 - 105 ngày. Khối lượng 100 quả 150 - 155 gam, trọng lượng 100 hạt 55 - 58 gam. Thâm canh tốt, đầu tư cân đối cho năng suất 40 - 45 tạ/ha.

- Giống L12: Là giống được Viện KHKTNN Việt Nam lai tạo chọn ra từ tổ hợp lai V79/ICGV 87157 (1992).
+ Đặc điểm: Ra hoa kết quả tập trung, lá xanh vàng, nhiễm bệnh đốm nâu, đốm đen, vỏ quả mỏng, nhẵn, vỏ lụa màu hồng cánh sen, chịu hạn khá trên đất bạc màu đồi vệ.
+ Thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày trong vụ Xuân, 95 - 105 ngày trong vụ Thu đông. Trọng lượng 100 quả 125 - 130 gam, 100 hạt 53 - 55 gam. Năng suất thâm canh tốt có thể đạt 30 - 35 tạ/ha.

- Giống L08: Nhập nội từ Trung Quốc năm 1995, được đưa vào trồng ở Nghệ An từ vụ Hè thu năm 2000.
+ Thời gian sinh trưởng của giống 115 - 120 ngày. Cây cao 45 - 50cm, năng suất quả 32 - 35 tạ/ha. Khối lượng 100 hạt 60 gam, khối lượng 100 quả 163,5 gam, vỏ lụa màu hồng sáng. Giống chịu thâm canh, chống bệnh rỉ sắt, đốm lá tương đối khá.
+ Đối với vùng đồi núi: Được cơ cấu các loại giống lạc chủ yếu sau: L12, V79, sen Nghệ An.
+ Đối với vùng thâm canh: Được cơ cấu các loại giống lạc chủ yếu sau: sen Nghệ An đã phục tráng, sen lai 75/23, LVT, L14, L08.

b) Kỹ thuật chọn lạc để giống
Lạc được chọn trên những thửa ruộng sinh trưởng và phát triển tốt, không sâu bệnh và có năng suất cao.
- Phương pháp thứ nhất: Dùng lạc vụ Thu đông, sau khi thu hoạch chọn lạc củ đôi, không nứt nẻ, phơi được nắng để làm giống vụ Xuân.

- Phương pháp thứ hai: Dùng lạc vụ Xuân, sau khi thu hoạch chọn lạc củ đôi, hạt mẩy, phơi được nắng, không nứt nẻ, để làm giống vụ Thu đông và vụ Xuân (khi giống vụ Thu đông không cung ứng đủ cho vụ Xuân).

3. Kỹ thuật gieo trồng
a) Thời vụ gieo lạc
- Vụ Xuân: Thời gian gieo từ 20/1 - 25/2 hàng năm, tập trung chủ yếu từ 01 - 15/2. Riêng khu vực trung du và miền núi gieo sớm hơn 7 - 10 ngày.
- Vụ Hè - thu: Gieo tốt nhất từ 1/6 - 15/6 và gieo ngay sau khi thu hoạch cây trồng vụ Xuân càng sớm càng tốt.
- Vụ Thu - đông: Thời gian gieo từ 25/8 - 25/9

b) Xử lý giống và mật độ gieo
- Xử lý giống trước khi gieo:
+ Đất gieo lạc ẩm:
Chọn hạt lạc không quá già, không quá non, không bị sâu bệnh ngâm trong nước từ 10-12 giờ. ở vụ Xuân nếu trời rét thì dùng nước ấm 40 - 45 độ C (2 sôi +3 lạnh) ngâm trong 12 giờ, sau đó ủ cho nứt mầm rồi đem gieo, không để mầm nhú dài.
+ Đối với đất gieo lạc khô thì không xử lý.
- Mật độ gieo: Mật độ 33 cây/m2, 30cm x 10cm x 1hạt (hàng cách hàng 30cm, cây cách cây 10cm, gieo 1hạt/lỗ) hoặc 30cm x 20cm x 2 hạt; ứng với lượng giống 200 kg lạc vỏ/ha đối với dùng lạc vụ Xuân để giống và từ 150-160kg/ha đối với lạc vụ Hè thu để giống.

c) Làm đất, phủ nilon, gieo hạt
- Làm đất:
+ Đất được cày 2 - 3 lần và sâu 25 - 30cm, cứ mỗi lần cày là 3 lượt bừa.
+ Đất phải nhỏ, tơi, xốp và sạch cỏ dại.
+ Luống lạc: Luống không phủ nilon: Rãnh sâu 15 - 20cm, luống rộng 2 - 2,5m. Luống che phủ nilon: Luống rộng 1m , rãnh giữa hai luống rộng 20cm, luống có hình lưng rùa, mỗi luống rạch 4 hàng.
+ Riêng đối với đất dốc lên luống theo đường đồng mức để chống xói mòn và rửa trôi.
- Gieo hạt:
+ Đối với lạc không che phủ ni lon: Sau khi làm đất, và bón lót phân thì tiến hành gieo hạt.
+ Đối với lạc phủ nilon tiến hành theo các bước như sau:
* Trồng vụ Hè thu, vụ Thu đông.
- Bước 1: Sau khi lên luống, rạch hàng sâu 8 - 10cm.

- Bước 2: Bón toàn bộ phân chuồng và phân vô cơ vào rãnh đã rạch, sau đó lấp phân để lại độ sâu 3 - 4cm.

- Bước 3: Dùng thuốc diệt cỏ phun lên mặt luống.

- Bước 4: Dùng cuốc gạt nhẹ đất 2 bên mép luống đã lên sẵn về phía rãnh.

- Bước 5: Phủ nilon trên mặt luống sau đó vét đất ở rãnh ập nhẹ vào 2 bên mép luống để cố định nilon.

- Bước 6: Sau khi phủ nilon dùng dụng cụ đục lỗ theo kích thước như trên.

- Bước 7: Hạt giống được gieo vào lỗ đã đục sẵn, mỗi lỗ 2 hạt sâu 3 - 4cm.

* Trồng vụ Xuân:
- Bước 1: Sau khi lên luống rạch hàng sâu 8 - 10cm.

- Bước 2: Bón toàn bộ phân chuồng và phân vô cơ vào rãnh đã rạch sau đó lấp phân để lại độ sâu 3 - 4 cm.

- Bước 3: Tiến hành gieo hạt theo khoảng cách như trên sau khi đã lấp phân và chú ý phủ hạt phẳng mặt luống.

- Bước 4: Phun thuốc trừ cỏ lên mặt luống.

- Bước 5: Dùng cuốc gạt nhẹ đất 2 bên mép luống đã lên sẵn về phía rãnh.

- Bước 6: Phủ nilon trên mặt luống sau đó vét đất ở rãnh ập nhẹ vào hai bên mép luống để cố định nilon.

- Bước 7: Đục cắt nilon ngay sau khi mầm nhú ra khỏi mặt đất để cho cây trồi ra ngoài nilon.

4. Kỹ thuật chăm sóc, bón phân
a) Bón phân cho lạc
- Lượng phân bón
+ Liều lượng phân bón tính cho 1 ha lạc là: 8 - 10 tấn phân chuồng + 20 - 30kg (phân đạm) + 60 - 90kg (phân lân) + 30 - 60kg (phân Kali).
+ Khi dùng phân đơn thì bón với lượng: 2,5 - 3,0 kg urê + 20 – 25 kg supe lân + 3 - 4 kg kali clorua/sào.
+ Đối với cây lạc tốt nhất là dùng dùng phân hỗn hợp NPK loại 3:9:6 bón với lượng: 35 - 50kg/sào .
+ Tuỳ theo độ pH của từng loại đất để bón từ 20-30 kg vôi bột/sào.
- Phương pháp bón
+ Đối với lạc có che phủ nilon: Bón lót toàn bộ lượng phân bón. Riêng vôi bột để lại 50% bón khi ra hoa rộ.
+ Đối với lạc không che phủ nilon:
. Vôi bột: Bón lót 50% khi cày bừa lần cuối, 50% còn lại bón lúc lạc ra hoa rộ
. Phân chuồng: Bón lót 100% sau khi cày bừa làm đất, sạch cỏ dại (trước khi rạch hàng).
. Phân NPK: Bón lót 70% sau khi cày rạch hàng và được lấp kín đất rồi mới gieo. Bón thúc 30% lượng phân còn lại khi cây có 3-5 lá.

b) Tỉa dặm, xới xáo, làm cỏ
- Khi lạc có 2 lá thật nên tỉa dặm để đảm bảo mật độ.

- Khi lạc có 3 - 5 lá thật: Nhổ cỏ, xới xáo đất, kết hợp bón thúc.

- Khi lạc có 9 lá thật, lạc bắt đầu ra hoa thì cuốc cỏ xới sâu 5 - 6cm gần gốc.

- Khi lạc ra hoa rộ, bón 50% vôi còn lại và kết hợp vun gốc cho lạc.

c) Tưới nước
Trong thời kỳ lạc ra hoa nếu trời không mưa thì những nơi có điều kiện tưới nước có thể tiến hành tưới theo 2 cách sau:
- Tưới phun đều ruộng lạc, ướt thấm đất.

- Tháo nước đầy các rãnh, ngập hết mặt luống thì tháo nước ra.

d) Phòng trừ sâu bệnh
* Về sâu hại
- Sâu xám:
+ Triệu chứng gây hại: Là đối tượng gây hại chính ở thời kỳ cây con, sâu thường cắn trụi lá đến cắn đứt ngang cây lạc lúc vừa mới mọc làm đứt khoảng, giảm mật độ lạc trên ruộng.
+ Biện pháp phòng trừ:
. Bắt bằng thủ công.
. Dùng các loại thuốc hoá học như Match 50ND, Sherpa 25 EC …theo liều khuyến cáo.

- Sâu khoang:
+ Triệu chứng gây hại: Phát sinh gây hại trong suốt qúa trình sinh trưởng của lạc, ở thời kỳ đầu vụ mật độ sâu cao, cắn khuyết đến trụi lá làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của lạc, sâu hại nặng ở giai đoạn lạc ra hoa bói trở đi, cắn trụi lá.
+ Biện pháp phòng trừ:
. Luân canh cây trồng và vệ sinh đồng ruộng.
. Dùng bả chua ngọt để diệt trừ.
. Bắt diệt bằng thủ công khi mật độ thấp.
. Khi mật độ cao dùng thuốc Ofatox 40EC, Fastac theo liều khuyến cáo.

- Rệp hại lạc:
+ Triệu chứng gây hại: Rệp tập trung thành đám bám vào phần lá non, đọt non của lạc chích hút dịch cây làm lạc sinh trưởng kém, quăn queo, ra hoa đâm tia kém. Rệp phát sinh nhiều trong điều kiện thời tiết có mưa phùn, ruộng lạc ẩm ướt, rậm rạp.
+ Biện pháp phòng trừ:
. Vệ sinh đồng ruộng và bón phân cân đối.
. Dùng thiên địch để diệt trừ.
. Khi rệp phát triển nhiều thì dùng Ofatox 50EC, Trebon 10EC theo liều khuyến cáo để diệt rệp.

- Sâu cuốn lá:
+ Triệu chứng gây hại: Sâu cuốn lá lạc gặm ăn hết biểu bì để lại lá non màu trắng, nếu mật độ cao làm ảnh hưởng đáng kể đến năng suất lạc.
+ Biện pháp phòng trừ
. Tổ chức bắt bằng thủ công.
. Sử dụng thuốc hoá học như: Match 50ND, Sherpa 25 EC... Theo liều khuyến cáo.

- Biện pháp phòng trừ tổng hợp đối với sâu hại lạc
+ Trồng lạc đúng quy trình kỹ thuật tạo điều kiện cho lạc sinh trưởng, phát triển tốt.
+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, chú ý ngay từ lúc mới gieo, phát hiện kịp thời sâu xám, sâu khoang… nếu có mật độ cao nên tổ chức bắt sâu vào sáng sớm hoặc chiều tối là biện pháp quan trọng và cho hiệu quả cao.
+ Xử lý bằng thuốc Basudin 10H.
+ Thời kỳ lạc ra hoa bói trở đi nếu có mật độ sâu khoang, sâu xanh, cuốn lá cao (sâu tuổi lớn) nên tổ chức bắt sâu bằng thủ công vì dùng thuốc ít hiệu quả. Trong trường hợp dùng thuốc thì phải xử lý lúc sâu mới nở tuổi 1-3.

* Về bệnh hại lạc
- Bệnh héo xanh vi khuẩn:
+ Nguyên nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Pseudomonas Solanacerum.
+ Triệu chứng: Bệnh thường xuất hiện khi lạc có 5-6 lá đến lúc hình thành củ. Lạc chết héo đột ngột cả cây hay một số cành trên cây, nhưng lá vẫn xanh. Chẻ dọc rễ cây bị bệnh có màu nâu đậm hơi khô, khi bị nặng thân rũ xuống, rễ thối đen. Khi cắt một đoạn thân cây bị bệnh nhúng vào cốc nước trong ta sẽ thấy dịch nhầy chảy ra ở vết cắt.
+ Biện pháp phòng trừ:
. Vệ sinh đồng ruộng, nhổ và tiêu huỷ cây bị bệnh.
. Luân canh với các cây trồng như mía, bông ...
. Dùng giống kháng bệnh.
. Tăng cường bón phân chuồng và vôi bột.

- Bệnh lở cổ rễ
+ Nguyên nhân: Do nấm Rhizoctoniak gây hại.
+ Triệu chứng: Bệnh gây hại chủ yếu ở thời kỳ cây con, khi mưa nhiều, độ ẩm cao. Bệnh gây hại ở phần cổ rễ, rễ, gốc thân nơi tiếp giáp với mặt đất bị thâm đen, cây héo dần và bị chết.
+ Biện pháp phòng trừ:
. Xử lý đất bằng vôi bột.
. Luân canh sau 2 vụ mới trồng lạc trở lại đối với đất trồng lạc bị nhiễm bệnh nặng.
. Khi bị nặng dùng thuốc Rovral 50WP, Ridomil…theo liều khuyến cáo.

5. Thu hoạch
- Thu hoạch khi lạc có số củ già đạt 85 - 90% tổng số củ trên cây. Lạc sau khi nhổ bứt củ hoặc cắt cách gốc 10cm để cả chùm củ phơi và bứt dần. Sau đó phơi quả dưới nắng đến khi bóc hạt thấy tróc vỏ lụa (độ ẩm dưới 10%) là đủ tiêu chuẩn bảo quản.

- Lạc che phủ nilon chín sớm hơn lạc không che phủ nilon 7 - 10 ngày nên cần theo dõi để thu hoạch đúng thời vụ, tránh để lạc mọc mầm biến màu trong củ.

- Đối với lạc giống phải phơi bằng các dụng cụ nong, nia… không phơi trực tiếp trên sân gạch, xi măng, tôn dưới nắng to hoặc phơi củ lạc còn dính với cây trong bóng râm.

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Kỹ thuật trồng Đậu Rồng

Kỹ thuật trồng Đậu Rồng

Kỹ thuật trồng đậu rồng by Cao Bằng | Ky thuat trong dau rong


Cây đậu khế còn có tên gọi khác là đậu rồng và các tên khác như: đậu xương rồng (vì có 4 cạnh giống như quả khế hoặc thân cây xương rồng). Đậu khế là loại cây dây leo nên cần làm giàn mới ra nhiều hoa, cho nhiều quả. Nếu chăm sóc tốt, đậu khế sinh trưởng và cho quả hầu như quanh năm. Quả đậu khế thường dài 7 - 10 cm, có 4 cạnh, trên cạnh có răng cưa, thắt lại ở 2 đầu quả. Thường thu hái non để làm rau ăn dưới dạng các món xào rất có giá trị. Kết quả phân tích của các nhà dinh dưỡng thì trong hạt đậu khế có 30 - 37% prôtit, 28 - 31% gluxit; trong quả non có từ 1,9 - 2,9% prôtit, 3,1 - 3,9% gluxit. Hạt đậu khế màu nâu, hình trái xoan hoặc dẹt 2 đầu có nhiều chất dinh dưỡng rất tốt cho con người, đặc biệt là trẻ em và người già như các axit amin (lysin, menthionin, cystin), canxi…do đó có thể sử dụng hạt đậu khế để làm nguyên liệu chế biến bột dinh dưỡng, có thể thay thế sữa mẹ để điều trị bệnh suy dinh dưỡng trẻ em. Lá đậu khế cũng có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi gia súc rất tốt vì giàu đạm và chất dinh dưỡng.

1. Kỹ thuật trồng đậu rồng
- Cây đậu khế ưa trồng nơi đất tốt, giàu mùn, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt pha cát, có điều kiện tưới tiêu tốt. Là cây có nguồn gốc nhiệt đới nên nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng và phát triển từ 18 – 30 độ C.

- Hiện nay nhiều nơi đã trồng đậu khế quanh nhà, trước sân vừa làm giàn che bóng mát cho mảnh sân vừa lấy rau ăn hàng ngày.

- Cây đậu khế dễ trồng, dễ chăm sóc, hầu như rất ít sâu bệnh nên không phải phun thuốc trừ sâu, chi phí đầu tư ít mà giá trị dinh dưỡng lại cao. Nếu chỉ làm rau ăn thì mỗi nhà chỉ cần trồng vài ba gốc quanh sân vừa làm giàn che bóng mát vừa có rau ăn quanh năm.

- Đậu khế gieo bằng hạt sau khi đã cuốc lật kỹ đất, xới cho tơi xốp, bón nhiều phân hữu cơ và một ít Supe lân. Tháng 8, tháng 9 gieo hạt sau khi đã ngâm ủ cho hạt nứt nanh. Chỉ khoảng 1 tuần đến 10 ngày là cây bắt đầu leo giàn. Nếu là trồng trước sân thì làm giàn cao 2,5 - 3 m, có thể dùng các cây tre, cây hóp bắc giàn hoặc dùng dây thép để căng giàn. Nếu trồng thành hàng hóa ngoài đồng thì trồng theo luống rộng 1 - 1,2 m, trên trồng 2 hàng và bắc giàn chữ A như giàn dưa leo, giàn đậu đũa.

2. Chăn sóc
Thường xuyên pha nước phân chuồng đã ngâm ủ hoai mục trộn với 5% đạm Urê để tưới. Khi cây bắt đầu ra hoa, đậu quả cần bón thêm Kali thì quả mới chắc, hạt mới giàu dinh dưỡng, chất lượng mới tốt. Sau mỗi lứa thu hái lại bón phân và tưới nước, vun xới cho cây bền gốc, ra nhiều hoa, đậu nhiều trái.

3. Thu hoạch
Thu quả khi quả đã đầy cạnh, màu xanh sáng, hạt còn non để xào hoặc nấu canh. Đậu khế xào với thịt lợn hoặc thịt bò vừa bổ, vừa ngon.

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

Kỹ thuật trồng Đậu Đũa

Kỹ thuật trồng Đậu Đũa


Kỹ thuật trồng Đậu Đũa by Tây Ninh | Ky thuat trong dau dua


Đậu đũa là loại rau ăn quả giàu protein, trồng quanh năm, thuộc nhóm thân leo. Bộ lá phát triển mạnh, do đó có khả năng chịu hạn và chịu úng tốt hơn các loại đậu khác. Đậu đũa ưa ánh sáng mạnh, chịu được nhiệt độ cao(30 độ C), nhiệt độ thích hợp 20 – 25 độ C, thuộc nhóm cây ngày ngắn. Đậu đũa không kén đất, nhưng yêu cầu phải thoát nước, xốp, thoáng, tốt nhất là đất thịt nhẹ, độ pH 6 - 7.

1.Giống
- Có hai nhóm giống:
+ Quả ngắn: chiều dài quả 20 – 30 cm, hạt dày, thịt quả chắc ăn ngon, sai quả.
+ Quả dài: chiều dài quả > 30 cm, hạt thưa, thịt quả xốp ăn nhạt, lóng dài

- Hiện nay, trên thị trường bán rất nhiều loại giống có năng suất cao, có tính kháng bệnh cao, thích hợp trồng các mùa trong năm.

- Nói chung, đậu đũa từ lúc gieo đến bắt đầu thu hoạch là 50 – 60 ngày. Thời gian sinh trưởng phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc. Nếu chăm sóc tốt thì thời gian thu hái sẽ kéo dài.

2. Thời vụ
- Đậu có thể trồng được quanh năm. Vụ Đông Xuân gieo vào tháng 11, 12 dương lịch. Vụ Hè Thu gieo vào tháng 5, 6 dương lịch.

- Vụ trồng tháng 12, 1 dương lịch thường bị ruồi đục lá (sâu vẽ bùa) gây hại nặng, vụ tháng 7, 9 có sâu đục thân phát triển.

3. Chuẩn bị đất và làm giàn
a) Chuẩn bị đất
- Đất được cày bừa thật kỹ, làm sạch cỏ trước khi trồng 10 – 15 ngày. Trong quá trình cày bừa nên kết hợp bón vôi cho đất để nâng độ pH, diệt mầm bệnh và giúp cho quá trình huy động dinh dưỡng về sau cho cây tốt hơn.

- Lên luống: luống cao hay thấp phụ thuộc vào tầng đất mặt và mực thủy cấp nơi canh tác.

- Thông thường nên làm luống cao 40cm so với rãnh thoát nước, mặt luống rộng 0,8 – 0,9 cm, khoảng cách giữa 2 luống là 1 - 1,2m. Sau đó tiến hành bón phân lót và phủ bạt nông nghiệp nên sử dụng màng phủ nông nghiệp được làm bằng PE, dày 5mm, khổ 1,2m có 2 mặt sáng và tối. Mặt sáng giúp phản xạ ánh sáng, mặt tối giúp chống thoát hơi nước và hạn chế phát triển của cỏ dại, sâu bệnh. Phủ bạt xong tiến hành gieo hạt.

b) Làm giàn
Do có thân leo nên để đảm bảo năng suất cao cần phải làm giàn leo cho đậu đũa. Khi cây có 6 – 9 lá thật bắt đầu có vòi thì bắt đầu làm giàn, giàn cao khoảng 1,5 – 1,8 m. Cắm cọc tầm vông (cây các loại) khoảng cách 0,5 – 0,6 m, sau đó phủ lưới (hoặc giăng dây) để đậu leo giàn.

4. Mật độ và khoảng cách gieo hạt
a) Chuẩn bị luống gieo
Cây cách cây khoảng 25 - 30cm. Hàng cách hàng 60 cm. Mỗi hốc gieo 2 hạt. Lượng hạt giống là 20 - 25 kg/ha(10.000 m2) với tỷ lệ nảy mầm 85 - 95 % tỷ lệ nảy mầm thấp hơn thì lượng hạt giống tăng lên 30 - 35 kg/ha.

b) Chuẩn bị hạt gieo và gieo hạt
- Hạt sau khi mở khỏi bao bì nên ngâm vào nước ấm (2 sôi, 3 lạnh) trong vòng 1 giờ, sau đó vớt ra, ủ vào khăn ẩm, cứ 24 giờ thì đem hạt ra phun bổ sung nước rồi tiếp tục ủ cho đến khi hạt nức nanh thì đem gieo.

- Hạt được gieo trực tiếp vào hốc sâu không quá 1cm, lúc gieo hạt đặt mầm hạt úp xuống đất.

- Gieo xong cần phủ bổ sung một lớp vật liệu mềm (tro trấu, xơ dừa...) lên bề mặt hốc gieo hạt để hạt nẩy mầm tốt và giúp bộ rễ cây con phát triển nhanh. Có thể rải ít thuốc Furadan để trừ kiến phá hoại cũng như một số côn trùng gây hại khác.

5. Trồng dặm
Thông thường tỷ lệ hạt giống bị hư hại là 10 – 12 %. Vì vậy, khi cây phát triển được 1 lá thật thì tiến hành kiểm tra đồng ruộng để trồng dặm. Nên trồng dặm vào buổi chiều, trồng dặm tới đâu cần tưới nước tới đó để đảm bảo cây con phát triển bình thường. Cây trồng dặm cần được gieo trước một ngày so với cây trồng ngài đồng ruộng.

6. Phân bón và liều lượng bón
Loại phân và liều lượng bón tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng địa phương. Thông thường vùng đất nghèo dinh dưỡng thì nên bón cao hơn một chút để đảm bảo năng suất. Lượng phân bón và cách sử dụng sau đây tương đối thích hợp cho nhiều loại đất nói chung:
- Lượng phân bón tính cho 1.000 m2 đất trồng:
+ Vôi: 100 kg
+ Lân: 50 kg
+ Urê: 12kg
+ KCl: 36 kg
+ NPK : 50 kg (loại 16 – 16 - 8)
+ DAP : 7 kg
+ Phân chuồng: 1,5 - 2 tấn/ 1.000m2

- Cách bón:
* Bón lót: Bón lót 100% phân chuông + 100% Lân + 100% Vôi + 75% KCl (27 kg) + 25% NPK(12,5kg)

* Bón thúc:
- Vôi phải bón xử lý đất trước khi trồng 7 – 10 ngày trước khi trồng.

- Thời kỳ cây con có thể phun phân bón lá 1- 2 lần giúp cây phát triển tốt thân lá, thời kỳ trước khi cây ra hoa rộ phun phân bón lá loại giúp cây ra hoa mạnh, thời kỳ nuôi trái phun loại phân dưỡng trái.

- Mỗi lần bón phân cần trộn lẫn các loại phân lại với nhau để bón. Nên bón vào buổi sáng hoặc chiều mát, sau khi bón thì cần tưới nước ngay để cây không bị ảnh hưởng.

- Bón phân nên kết hợp với làm cỏ để tránh sự canh tranh dinh dưỡng cũng như thất thoát do bốc hơi hoặc rửa trôi.

7. Công tác phòng trừ dịch hại
Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phòng trừ một số dịch hại nguy hiểm như:
a) Nhóm sâu hại
- Rệp muội (rầy mềm) dùng Supracide, Hopfa 41 EC, Sherzol, Sape … để trị, có thể dùng bẩy vàng (kích thước 30- 40 cm) khoảng 30- 40 cái/ 1.000m2

- Sâu đục quả có thể dùng Sherpa 25 EC 0,1%, Baythroid, Dipel, Regent, Cyper… để phun ngừa vào chiều mát theo liều lượng chỉ dẫn.

- Sâu khoang dùng Cypermap, Cascade, Fenbis… để trị theo liều lượng.

- Sâu vẽ bùa dùng Fenbis, Sherzol, Sông Mã… để trị theo liều lượng

b) Nhóm bệnh hại
Lở cổ rễ, dùng Validacin, fúin M, Mancozep…để ngừa và trị bệnh
- Thán thư, dùng Mancozeb để trị

- Phấn trắng, dùng Kumulus, Dithane, Funomil, Ridomil…

- Bệnh gỉ sắt (Uromyces Phaceolii) có thể dùng Anvill 5 SC, Till 250 ND, Bayleton 25 EC

8. Thu hoạch
Sau khi gieo khoảng 50 - 60 ngày là có thể thu hái quả được, nếu chăm sóc tốt có thể thu được 10 - 11 đợt quả, quả to bằng chiếc đũa thì có thể hái được, lúc này hạt chỉ to bằng hạt thóc hay to hơn một chút. Hái cẩn thận để thu hái nhiều lần. Nếu để làm giống, chọn các quả to đẹp ở giữa cây để quả già, phơi khô cho vụ sau.

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

Kỹ thuật trồng Đậu Nành

Kỹ thuật trồng Đậu Nành

Đậu tương hay đậu nành (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae) giàu hàm lượng chất đạm protein, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc.
Ngoài ra, trong cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác. Điều này có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu.


I. Mùa vụ
- Đậu nành có thể trồng được quanh năm nhưng với mỗi thời vụ canh tác khác nhau sẽ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng cây trồng, tình hình sâu bệnh, năng suất, phẩm chất hạt, chi phí sản xuất. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thời vụ canh tác thích hợp nhất là Đông Xuân và Xuân Hè.

- Đậu nành là cây ngắn ngày, nên có thể bố trí vào các mô hình luân canh, xen vụ để tăng vòng quay của đất, nâng giá trị kinh tế cho người sử dụng đồng thời hạn chế nguồn sâu bệnh lưu tồn qua mùa vụ canh tác.

1. Vụ Đông Xuân
- Lượng ánh sáng đầy đủ , đậu nành trổ hoa sớm , thời gian sinh trưởng ngắn , thuận lợi trong việc thu hoạch và phơi hạt. Sâu bệnh phát triển trong vụ này tương đối ít .Hạt thu hoạch trong vụ này có phẩm chất tốt , nên có khả năng bảo quản được lâu .

- Lưu ý: Trong vụ Đông Xuân: Nên trồng mật độ dầy hơn, do thân lá phát triển hạn chế hơn so với các vụ khác.

2. Vụ Xuân Hè
Đậu nành được trồng ở những chân ruộng lúa Đông Xuân sớm, (trước đây, thường được trồng luân canh với lúa mùa). Trong vụ này, nếu được chăm sóc và đầu tư kỹ thuật đúng mức, đậu nành sinh trưởng và phát triển tốt hơn vụ Đông Xuân, năng suất cũng cao hơn. Nhưng vụ này , sâu bệnh bộc phát rất mạnh, nhất là các đối tượng như dòi đục thân ở đầu vụ và sâu đục trái ở cuối vụ. Trong vụ này, gieo càng muộn, thì mức độ thiệt hại do dòi đục thân càng gia tăng. Lúc thu hoạch sẽ gặp trở ngại do mưa, phẩm chất hạt giảm , tỷ lệ hạt bị mốc và bệnh hạt tím cao.

3. Vụ Hè Thu
- Thời gian chiếu sáng trong ngày dài , nên đậu nành trổ hoa muộn , thời gian sinh trưởng kéo dài.

- Lưu ý trong vụ Hè Thu:Trong vụ này, đậu nành phát triển thân lá rất mạnh, do đó mật độ trồng nên thưa hơn so với các vụ khác trong năm.

- Đầu vụ thường gặp hạn, nên lưu ý vấn đề nước tưới. Cuối vụ , do mưa nhiều, thường gặp khó khăn trong khâu phơi hạt , hạt dễ bị mốc và bệnh hạt tím. Trong vụ Hè Thu, đậu nành dễ bị đổ ngã và phẩm chất hạt cũng kém hơn so với các vụ khác trong năm.

4. Vụ Thu Đông
Trong vụ này , mưa thường xuất hiện nhiều và liên tục, cần lưu ý các vấn đề chống úng cho cây.

II. Kỹ thuật trồng đậu nành
1. Chuẩn bị đất
Tại tỉnh An Giang, có 2 mô hình canh tác cây đậu nành:
- Mô hình chuyên canh màu: Có làm đất

- Mô hình luân canh: Không làm đất.

a. Cách trồng có làm đất
- Cày đất lúc có ẩm độ vừa phải. Tránh cày đất lúc còn quá ướt.

- Trường hợp đất quá khô, phải chủ động tưới nước và chờ đến khi đất có đủ độ ẩm thích hợp thì mới cày.

- Tránh làm đất quá tơi, khi gặp mưa, dễ bị đóng váng, cản trở việc hút nước, dinh dưỡng của cây, cây sinh trưởng yếu, các nốt sần ít và nhỏ. Đường kính đất cày vừa phải: 4 – 5cm.

* Ưu điểm việc làm đất:
- Diệt cỏ dại.

- Nâng cao độ tơi xốp của tầng đất mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống rễ phát triển mạnh trong giai đoạn đầu.

- Hạn chế việc bốc phèn (xì phèn) lên lớp đất mặt do mao dẫn.

* Nhược điểm:
- Tốn thời gian làm đất, do đó kéo dài thời vụ trồng đậu nành. Có thể ảnh hưởng đến cây trồng vụ sau.

- Tốn chi phí làm đất ,tưới nước (vì muốn làm đất, phải để đất khô, sau khi gieo, phải tưới nhiều nước) dẫn đến lợi nhuận bị giảm một phần .

- Do đó việc áp dụng làm đất chỉ nên áp dụng đối với những trường hợp đất quá khô, nhiều cỏ dại.

b.Cách trồng không làm đất:
- Cách trồng này đã có từ thời xa xưa. Ở An Giang, đã áp dụng từ lâu với mô hình lúa mùa nổi luân canh màu.

- Trên chân đất ruộng, tiến hành gieo đậu nành sau khi thu hoạch lúa, khi đất còn độ ẩm thích hợp. Có thể kết hợp phủ rơm để giữ ẩm .

-Trường hợp đất quá khô, có thể tưới tràn, sau đó tháo nước ra , ngày hôm sau tỉa hạt.

* Ưu điểm :
- Tranh thủ thời vụ , vì không phải chờ đợi thời gian làm đất .

- Giảm được chi phí trong khâu làm đất. Do đó hiệu quả kinh tế hơn .

- Tận dụng được độ ẩm trong đất sau khi thu hoạch lúa, do đó tiết giảm chi phí tưới nước.

* Nhược điểm :
- Sâu bệnh phát triển nhiều hơn

- Gặp trở ngại trong việc ứng dụng phân bón, nhất là các loại phân đòi hỏi phải trộn hoặc lấp xuống đất như phân lân, phân hữu cơ, vôi , ....

Ngoài ra, một số nơi còn áp dụng biện pháp làm đất theo hàng, qua các thí nghiệm của Trường Đại học Cần Thơ, cho thấy , không có sự khác biệt về năng suất đối với 2 biện pháp kỹ thuật làm đất trên. Tuy nhiên, biện pháp không làm đất cho hiệu quả kinh tế cao nhất.

2. Mật độ trồng
- Áp dụng tỉa, lượng giống 70 - 80kg/ha. Nếu sạ, lượng giống khoảng 100 - 120kg/ha

- Mật độ trồng: Tỉa theo khoảng cách 40 x 10cm hay 30 x 20cm. mỗi hốc 3 cây (50 cây/m2) sau đó chừa lại 2 cây/lỗ. Mùa mưa trồng dầy hơn mùa khô : 30 x 15 cm; Mỗi hốc 3 cây (66 cây/m2 ) sau đó chừa lại 2 cây/lỗ.

- Gieo độ sâu: 2,5cm

Tùy thuộc vào giống, thời vụ trồng, đất đai, trình độ thâm canh mà có mật độ trồng khác nhau.

3. Phương pháp gieo
- Trước khi gieo, phơi lại hạt giống một nắng nhẹ trên nong, nia, cót, không được phơi trên nền xi măng, sân gạch khi nắng gắt.

- Gieo hạt khi đất đủ ẩm, trước khi gieo phải bón phân vào rãnh hoặc hốc, gieo hạt xong lấp một lớp đất tơi xốp dầy 2 - 3cm.

- Đối với đậu nành trên đất 2 vụ lúa: Trước khi gieo hạt cho nước vào để làm cho đất đủ ẩm, sau đó rút sạch nước mặt, vạch thành hàng hay dùng que ấn thành hàng cách nhau 25 - 30cm để gieo hạt. Trên cùng một hàng gieo cách nhau 7 - 8 cm/1hạt, hoặc theo khóm cách nhau 13 -15cm, mỗi khóm 2 - 3 hạt, lấp hạt bằng đất trộn NPK hoặc phân chuồng hoai mục.

4. Nhu cầu đạm cho đậu nành
Cùng thuộc nhóm cây họ đậu, đậu nành còn có khả năng cố định đạm từ khí trời. Khả năng này nhờ vi khuẩn Rhizobium jabonicum, gọi là vi khuẩn cố định đạm. Vi khuẩn này sống trong điều kiện đất không bị ngập và đất phải thoáng khí, giúp tạo nốt sần trong rễ cây họ đậu. Nhờ hút chất đạm từ không khí, khi nốt sần trưởng thành (lúc cắt ngang có màu nâu đỏ) nó sẽ cung cấp chất đạm lại cho cây trồng sử dụng. Do đó, việc bón quá nhiều lượng phân đạm cho cây đậu nành là không cần thiết.

5. Bón phân
- Đối với cây đậu nành, do có thể cố định được lượng đạm khí trời (Vi khuẩn Rhizobium japonicum) để nuôi cây, vì vậy cần chú ý đến việc bón thêm phân lân và Kali để cân đối NPK .

- Phân Đạm nên bón vào đầu của giai đoạn tăng trưởng, để kích thích bộ lá phát triển trước khi vi khuẩn nốt sần ở rễ lấy được đạm từ khí quyển để nuôi cây .

6. Chăm sóc
Khi cây được 1 - 2 lá thật, tiến hành tỉa dặm để đảm bảo mật độ cây trồng trên ruộng. Kết hợp với các lần bón phân, làm cỏ và vun gốc đậu. Có thể làm cỏ bằng tay. Nếu sử dụng thuốc cỏ như Dual, Ronstar, phải xử lý trước khi gieo đậu 1 - 2 ngày.

7. Tưới tiêu nước
Đậu nành là cây trồng cạn nhưng kém chịu hạn. Nhu cầu nước của cây đậu nành lớn nhất vào thời kỳ ra hoa làm quả. Đậu nành khi gieo cần độ ẩm 50% mới mọc được, vụ Hè Thu làm đất xong, cần gieo ngay. Đậu nành cần được tưới đủ ẩm vào thời kỳ cây con và khi ra hoa kết quả.. Nếu bị hạn ở các thời kỳ này, sẽ giảm năng suất. Nếu mưa lớn, cần thăm ruộng thường xuyên để tiêu úng. Cần tránh hiện tượng đất bị ngập úng và đóng váng.

III. Nhu cầu dinh dưỡng
- Cứ 1 tấn hạt , cây đậu nành đã lấy đi lượng dinh dưỡng từ đất khoảng: 100kg Nitơ, 16kg P2O5, 21kg K2O, 4 kgMgO và 4 kg CaO trên 01ha trồng đậu nành.

- Qua số liệu trên ta nhận thấy cây đậu nành rất cần đạm , song do có vi khuẩn cố định đạm , nên lượng đạm bón vào không cần nhiều. Cây đậu nành có nhu cầu về Lân , Kali , Can xi , Magiê. Do đó, bón tập trung vào giai đoạn đầu của thời kỳ sinh trưởng.

- Lượng phân bón: Tùy theo từng loại đất, loại giống, mùa vụ,… mà có lượng phân bón cho thích hợp. Có thể áp dụng theo công thức sau:
* Công thức 1: Sử dụng: 60kg Urea, 120kg DAP, 80kg KCL. (tính cho 1ha)
- Bón lót: 60kg DAP và toàn bộ phân chuồng

- Từ 7 - 10 ngày sau khi gieo: Bón 10kg Urea, 60kg DAP

- Từ 25 - 30 ngày sau khi gieo: Bón 30kg Urea, 30kg KCL

- Từ 35 - 40 ngày sau khi gieo: Bón 20kg Urea, 30kg KCL

* Công thức 2: Sử dụng: 105kg Urea, 300kg Super lân, 80kg NPK.
- Bón lót: 300kg Super lân

- Từ 7 - 10 ngày sau khi gieo: Bón 25kg Urea, 20kg KCL

- Từ 25 - 30 ngày sau khi gieo: Bón 40kg Urea, 30kg KCL

- Từ 35 - 40 ngày sau khi gieo: Bón 40kg Urea, 30kg KCL

* Lưu ý:
- Nếu có điều kiện, bón thêm 5-6 tấn phân chuồng/ha, bón vào giai đoạn trước khi tỉa hạt (bón lót).

- Canh tác trên đất phèn, tùy vào độ chua của từng loại đất, có thể bón thêm 30-50kg vôi bột. 1công (1.000m2), vào giai đoạn bón lót.
- Cách bón: Bón lót: Vùi phân vào đất hoặc trộn với tro trấu, phân hữu cơ, thuốc ngừa sâu bệnh. Sau đó lấp hạt lại. Đối với các lần bón thúc, Có thể pha nước tưới hoặc bón cách hàng đậu 5cm, độ sâu 10cm.

Kỹ thuật trồng đậu nành, Nguồn: Trung tâm Khuyến nông An Giang.

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Kỹ thuật trồng đậu Hà Lan theo hướng sản xuất rau an toàn

Kỹ thuật trồng đậu Hà Lan theo hướng sản xuất rau an toàn


Đậu Hà Lan yêu cầu dinh dưỡng khoáng không cao. Cây có thể sinh trưởng phát triển trên nhiều loại đất, từ đất cát nhẹ nhiều mùn đến đất sét nặng, nhưng tốt nhất là đất nhiều mùn đến đất sét nhiều mùn. Trên đất nhẹ, đất cát không giữ được ẩm nên năng suất có xu hướng giảm. Độ chua của đất trồng đậu Hà Lan thích hợp là pH khoảng 5,5 - 7,0.



I. Nguồn gốc và yêu cầu sinh thái

- Đậu Hà Lan được trồng từ rất lâu, nhưng người ta chưa rõ nguồn gốc chính xác của nó. Nhiều nhà khoa học căn cứ vào sự phân bố gen của loài này đã cho rằng đậu Hà lan có nguồn gốc từ vùng Cận Đông, Trung Á.

- Mặc dù hiện nay đậu Hà Lan được trồng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới nhưng đậu chỉ sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trong điều kiện nhiệt độ từ 18 - 20 độ C, khí hậu ẩm. Nhiệt độ trên 25 độ C và dưới 12 độ C cây sinh trưởng chậm và ở 35 độ C cây tàn lụi nhanh.

II. Các biện pháp kỹ thuật
1. Mùa vụ

Gieo trồng từ 5/10 đến 5/11, thu hoạch từ tháng 12 đến đầu tháng 3 năm sau. Nếu gieo muộn, bệnh phấn trắng hại nặng làm năng suất giảm rõ rệt.

2. Giống
- Giống địa phương: Vùng Gia Lâm (Văn Đức), Văn Lâm (Hưng Yên).

- Giống nhập nội: từ Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản và Pháp. Nguồn giống nhập nội cho năng suất cao, phẩm chất tốt nhưng tính chống chịu bệnh kém đặc biệt là bệnh phấn trắng.

- Giống đậu Hà Lan leo cần 40 – 50 kg hạt/ha (1,5 – 1,8 kg/sào).

- Giống đậu Hà Lan lùn cần 60 – 80 kg hạt/ha ( 3 kg/sào).

3. Làm đất
- Chọn loại đất giữ ẩm tốt, chân đất cao, dễ thoát nước, có độ pH từ 6,0 – 6,5, pH dưới 5,5 phải bón vôi (10-15 kg vôi bột/sào).

- Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo. Cần thực hiện chế độ luân canh với cây khác họ, đặc biệt là cây lương thực.

- Chia luống 1,3 m, mặt luống rộng 1,0 m, cao 25 - 30 cm.

4. Mật độ, khoảng cách
- Gieo 3 hàng với đậu Hà Lan lùn, gieo 2 hàng với đậu Hà Lan leo trên luống để tiện cắm giàn.

- Khoảng cách gieo:
+ Đậu Hà Lan thấp cây: hàng cách hàng 30 cm, cây cách cây 7cm, mật độ 32 vạn cây/ha.
+ Đậu Hà Lan leo: hàng cách hàng 60 - 70 cm, cây cách cây 20 cm, mật độ 10 - 12 vạn cây/ha.

5. Phân bón:


- Tuyệt đối không được dùng phân chuồng tươi, phân bắc tươi và nước phân tươi để bón hoặc tưới. Có thể dùng phẫn hữu cơ sinh học hoặc phân rác chế biến thay thế phân chuồng với lượng bằng 1/3 lượng phân chuồng.

- Cách bón thúc:
+ Lần 1: cây có 4 - 5 lá thật;
+ Lần 2: bắt đầu nở hoa ( trước khi cắm dóc)
+ Lần 3: sau thu quả đợt 1

- Có thể dùng các dạng nitrat amôn, đạm sulfat amôn thay cho urê, clorua kali thay cho kali sunphat hoặc các dạng phân hỗn hợp, phức hợp NPK để bón với liều nguyên chất tương ứng. Ngoài bón đất, có thể phun qua lá các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng. Đậu Hà Lan leo có thời gian thu hoạch dài hơn nên sau 2 lần thu quả, cần tưới thêm nước phân mục. Làm cỏ, xới, vun 3 lần kết hợp với 3 lần bón thúc, làm giàn khi cây cao 20 - 25 cm.

6. Nước tưới
Sử dụng nguồn nước tưới sạch (nước sông, nước giếng khoan). Sau khi gieo, cần thường xuyên giữ độ ẩm đất từ 70 - 75%.

7. Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu hại: Thường gặp là sâu xám, sâu xanh, sâu vẽ bùa, ruồi đục lá, rệp hại, sâu đục quả và nhện đỏ.

- Bệnh hại: Đậu Hà Lan thường gặp một số bệnh hại như bệnh phấn trắng, bệnh cháy lá và đốm lá do vi khuẩn, các bệnh sinh ra từ đất như bệnh héo rũ, bệnh thối đen rễ...

- Thực hiện triệt để các biện pháp phòng trừ tổng hợp như luân canh cây trồng, vệ sinh đồng ruộng, bón phân cân đối, trong trường hợp thật cần thiết mới dùng thuốc bảo vệ thực vật hóa học.

- Để phòng trừ bọ trĩ thường dùng thuốc Admine 0,5 EC, Confidor 50 EC, Karate 2,5EC, Sherpa 25EC, Trebon 10EC. Sâu đục quả có thể trừ bằng Sherpa 25 EC, Sumicidin 10 EC, Cyperan 25EC, phải phun sớm khi quả mới đậu, thời gian cách ly tối thiểu 7 ngày.Giòi đục lá phun Bathroid 50 EC, Confidor 100 SL.

- Để tránh một số bệnh hại sinh ra từ đất, không nên trồng đậu liên tục nhiều vụ mà cần luân canh với các rau khác họ như họ thập tự, họ cà hay lúa nước. Đất không được để úng kéo dài, phải luôn thoát nước, thu dọn và xử lý các tàn dư cây bệnh làm cho ruộng thông thoáng, sạch sẽ. Ngoài ra có thể sử dụng các thuốc trừ bệnh: Valicidin 3SL để trừ bệnh lở cổ rễ, thuốc Anvil 5SC, Score 250 EC, Rovral 50 WP để trừ các bệnh phấn trắng, gỉ sắt, thời gian cách ly ít nhất 10 ngày.

- Kỹ thuật phun thuốc phải theo đúng hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.

8. Thu hoạch
- Đậu Hà Lan sử dụng quả non, thu hoạch sau khi hạt non chớm phình to. Thu vào sáng sớm sẽ có chất lượng tốt và tươi hơn, có khả năng bảo quản và vậnchuyeern tốt hơn. Khi thu hái tránh làm trầy xước hoặc bong lớp phấn trên vỏ quả. Loại quả các quả có vết về sâu bệnh, trầy xước hoặc dị dạng.

- Đối với đậu ăn hạt non thu muộn hơn (khi vỏ quả đổi màu), hạt đã phình to và tương đối cứng, nhưng chưa quá già hoặc khô. Hạt được tách ra dùng ngay hoặc chế biến, bảo quản để tiêu thụ dần. Hạt đậu non được chế biến chủ yếu bằng các phương pháp cấp đông hoặc đóng hộp.

- Đậu Hà Lan lấy hạt khô được thu hoạch khi hạt đã già, khô, vỏ quả đã bạc. Cần thu kịp thời, không để quá khô vì một số giống có khả năng tự tách vỏ ngay trên cây. Thu và phơi khô nguyên quả, sau đó tách hạt và tiếp tục phơi hạt cho thật khô trước khi đóng gói.

Kỹ thuật trồng đậu Hà Lan theo hướng sản xuất rau an toàn, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Kỹ thuật trồng Đậu Tương

Kỹ thuật trồng Đậu Tương

I. Tổng quan về cây đậu tương
1. Yêu cầu sinh thái
a) Điều kiện đất đai
Đất trồng đậu tương thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, tơi xốp, sâu màu, thoáng, thoát nước, pH từ 6,5 - 7,2. Đậu tương không sống được trên đất quá chua hoặc quá kiềm. Đất ít màu, chua vẫn có.


b) Nhiệt độ
Đậu tương có nguồn gốc ôn đới, nhưng không phải là cây trồng chịu rét. Tuỳ theo giống chín sớm hay muộn mà có tổng tích ôn biến động từ 1.888 - 2.700 độ C (quy luật tổng nhiệt). Từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây đậu tương có yêu cầu nhiệt độ khác nhau: Thời kỳ mọc nhiệt độ thích hợp nhất là 18 – 22 độ C, phạm vi nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho thời kỳ mọc là 10 độ C và 40 độ C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng cành lá là 20 – 23 độ C, thấp nhất là 15 độ C, cao nhất là 37 độ C. Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến ra hoa kết quả; nhiệt độ dưới 100C ngăn cản sự phân hoá hoa, dưới 18 độ C đã có khả năng làm cho quả không đậu. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ ra hoa là 22 – 25 độ C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ hình thành quả và hạt là 21 - 23 độ C, thấp nhất là 15 độ C cao nhất là 35 độ C. Thời kỳ chín nhiệt độ thích hợp nhất là 19 – 20 độ C. Nhiệt độ 25 – 27 độ C hoạt động của vi khuẩn nốt sần tốt nhất.

c) Åm độ, lượng mưa
- Hạt nảy mầm đòi hỏi độ ẩm đất 60 - 65%.

- Nhu cầu nước của cây đậu tương thay đổi tuỳ theo điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng. Cần lượng mưa từ 350 - 600 mm3 cho cả quá trình sinh trưởng.

d) Ánh sáng
Đậu tương có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau

2. Một số giống đậu tương
a) Giống DT84
Giống đậu tương DT84 được công nhận là giống Quốc gia năm 1995. DT84 có thời gian sinh trưởng 85 - 95 ngày trong vụ Xuân hè và 86 - 95 ngày trong vụ Đông, cây cao trung bình 50 - 60 cm, ít phân cành, khối lượng 1.000 hạt 150 - 160 gam. Tiềm năng năng suất từ 15 - 30 tạ/ha, năng suất trung bình đạt 13 - 18 tạ/ha. DT84 là giống chịu trung bình, thích hợp cả 3 vụ (Xuân, Hè, Đông).

b) Giống AK03
Được công nhận giống quốc gia năm 1990. AK03 có thời gian sinh trưởng 80 - 90 ngày, cây cao trung bình 50 - 55cm, khối lượng 1.000 hạt 125 - 135 gam, khả năng cho năng suất từ 14 - 17 tạ/ha. AK03 phản ứng với nhịêt độ chịu úng và chịu rét yếu, chịu hạn và chịu úng trung bình, nhiễm bệnh đốm vi khuẩn ở giai đoạn cuối. Thích hợp cho vụ Đông, Xuân, có thể nhân giống trong vụ Hè. Thích ứng rộng, có thể trồng trên các chân đất thịt trung bình và cát pha dễ thoát nước ở trung du và đồng bằng.

b) Giống DT95
Giống đậu tương DT95 được công nhận khu vực hoá năm 1997. Là giống có năng suất cao ở cả 2 vụ Xuân và Đông, có phản ứng yếu với độ dài chiếu sáng, cây cao 55 - 80 cm. Thời gian sinh trưởng vụ Xuân 93 - 106 ngày, vụ Đông 90 - 98 ngày. Khối lượng 1.000 hạt 150 - 160gam, khả năng chống đổ trung bình, khả năng chịu nhiệt, chịu lạnh khá. Năng suất trung bình 22 - 27tạ/ha. Chống chịu các bệnh gỉ sắt, đốm vi khuẩn, lở cổ rễ trung bình, chống đổ yếu, trong vụ Xuân sinh trưởng không đồng đều. Khả năng chịu nhiệt, chịu hạn khá.

c) Giống VX 93
Thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày, cây cao 50 - 55 cm, hoa trắng hạt to, vàng, rốn hạt màu nâu. Trọng lượng 1.000 hạt 150 - 160 gam. Năng suất có thể đạt 15 - 30tạ/ha. Chịu rét tốt, chống chịu sâu bệnh trung bình. Thích hợp vụ Thu - Đông và vụ Đông trên đất bãi và 2 vụ lúa. Vụ Xuân trên đất chuyên màu, đất mạ có khả năng trồng xen. Năng suất trên diện rộng đạt trung bình 13 - 14 tạ/ha. Được công nhận giống quốc gia từ năm 1990.

d) Giống M-103
Giống M-103 được công nhận giống quốc gia năm 1994. Là giống thích hợp nhất trong vụ Hè, nhưng cũng có thể gieo trồng trong vụ Xuân muộn và vụ Thu Đông. Thời gian sinh trưởng 85 ngày, chiều cao cây 55 - 70cm. Chiều cao đóng quả 13 - 14 cm, quả màu vàng sẫm, hạt vàng đẹp, lá xanh thẫm, nhọn. Trọng lượng 1.000 hạt 160 - 180 gam, năng suất trên diện tích rộng 17 - 20 tạ/ha. Trên nền thâm canh đạt 30 - 35 tạ/ha. Khả năng chịu nóng khá. Tỷ lệ quả 3 hạt cao (20 - 30%), quả nhiều, màu sắc đẹp, ít nứt hạt (20%).

e) Giống AK 05
Giống AK05 được công nhận giống quốc gia năm 1995. Cây sinh trưởng khoẻ, chiều cao cây 50-60cm, thời gian sinh trưởng 98-105 ngày, hạt vàng sáng đẹp, khối lượng 1000 hạt 130-135 gam, năng suất trung bình 13-15 tạ/ha. Khả năng chống chịu sâu bệnh trung bình, chịu hạn, chịu rét khá. Trồng được cả trong vụ Xuân và vụ Đông.

f) Một số giống khác
Ngoài các giống kể trên vẫn còn một số giống đậu tương khác như: DT76, DT80, DT83, DT93, DT92, DT94, TL75, HL92, HL2, AK06, DT 2000, D 96-02, VX 92, DT 2001 cũng có tiềm năng năng suất khá. Đặc biệt là giống DT2000 và DT2001 là những giống có tiềm năng cho năng suất rất cao.

3. Tiêu chuẩn hạt giống
- Hạt giống phải lấy ở cây khoẻ mạnh, thuần chủng, nhiều quả có 2 - 3 hạt, khi chín ít bị tách vỏ, không mang mầm bệnh.

- Hạt giống phải mẩy, không sâu bệnh, đạt tỷ lệ nảy mầm trê 90%, trọng lượng 1.000 hạt phải đạt theo chỉ tiêu giống.

- Trước khi gieo trồng phơi lại hạt giống một nắng nhẹ trên nong, nia, cót, không được phơi trên nền xi măng, sân gạch khi nắng gắt.

II. Kỹ thuật trồng đậu tương
1. Chế độ trồng trọt
Đậu tương là cây ngắn ngày nên có thể đưa vào công thức luân canh tăng vụ hoặc trồng xen, gối tuỳ theo đặc điểm khí hậu, thời tiết, đất đai và tập quán canh tác từng vùng:
- Chế độ luân canh: Có thể áp dụng các công thức sau:
+ Lúa Xuân - Lúa mùa sớm - Đậu tương Đông
+ Lúa Xuân - Đậu tương Hè - Lúa mùa muộn - Cây vụ Đông.
+ Ngô Xuân - Đậu tương Hè thu - Cây vụ Đông.
(hoặc lạc Xuân) (hoặc đậu tương Hè)
+ Đậu tương Xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ Đông.
+ Đậu tương Xuân - Mùa chính vụ - Rau vụ Đông.
+ Đậu tương Xuân - Đậu tương Hè - Lúa mùa.
+ Lúa Xuân - Đậu tương Hè - Ngô Thu đông.

- Chế độ trồng xen: Có thể trồng xen đậu tương với các loại cây lương thực (ngô) và cây công nghiệp như cà phê, dâu tằm, cao su hoặc cây ăn quả… ở thời kỳ kiến thiết cơ bản.

2. Làm đất
- Cày sâu 18 - 20 cm, bừa kỹ đất nhỏ, sạch cỏ dại, bằng phẳng, tơi xốp. Nếu đất đồi cần làm theo đường đồng mức để tránh xói mòn.

- Lên luống rộng 1,2 - 1,8 m; rãnh cao 20 cm, thuận tiện cho việc đi lại chăm sóc.

3. Mùa vụ
Trong canh tác đậu tương được chia thành 2 vụ chính:
- Vụ Xuân: 15/2 - 15/3

- Vụ Hè 20/5 - 15/6.

- Vụ Hè thu: 15/6 - 15/7.

- Vụ Đông: 10/9 - 5/10.

4. Khoảng cách, mật độ trồng
- Tuỳ thuộc vào giống, thời vụ trồng, đất đai, trình độ thâm canh mà có mật độ trồng khác nhau.
+Vụ Xuân: 30cm x 7cm (40 - 45 cây/m2).
+ Vụ Hè và Hẹ thu: 35 - 40 cm x 5 - 7 cm (35 - 40 cây/m2).
+ Vụ Đông: 30 - 35 cm x 5 - 7 cm (50 - 60 cây/m2).

- Lượng giống 50 - 60 kg/ha.

5. Kỹ thuật gieo hạt
- Gieo hạt khi đất đủ ẩm, trước khi gieo phải bón phân vào rãnh hoặc hốc, gieo hạt xong lấp một lớp đất tơi xốp dày 2 - 3 cm.

- Đối với đậu tương trên đất 2 vụ lúa: Trước khi gieo hạt cho nước vào để làm cho đất đủ ẩm, sau đó rút sạch nước mặt, vạch thành hàng hay dùng que ấn thành hàng cách nhau 25 - 30 cm để gieo hạt. Trên cùng một hàng gieo cách nhau 7 - 8 cm/1hạt, hoặc theo khóm cách nhau 13 - 15cm, mỗi khóm 2 - 3 hạt, lấp hạt bằng đất trộn NPK hoặc phân chuồng hoai mục.

III. Kỹ thuật chăm sóc
1. Bón phân
- Lượng phân bón: Tuỳ theo từng loại đất, loại giống, mùa vụ,… mà có lượng phân bón cho thích hợp.
+ Đất phù sa: Lượng phân bón cho 1 ha là: 5 - 6 tấn phân chuồng + 20 kgN + 40 - 60kg P205 + 40 - 60 kg K20
+ Đất bạc màu, đất cát biển, đất feralit trên nền phù sa cổ: Lượng phân bón cho 1 ha là : 8 - 10 tấn phân chuồng + 30kgN + 60kg P205 + 60 kg K20.

- Tuỳ vào độ chua của từng loại đất để bón từ 15 - 25 kg vôi bột/sào.

- Cách bón
+ Đối với phân đạm, lân, kali riêng rẻ: Bón lót toàn bộ phân chuồng, lân, vôi, 50% lượng đạm và 50% kali. Bón thúc 50% lượng đạm và 50% lượng kali kết hợp làm cỏ, vun gốc khi cây có 3-5 lá.
+ Đối với phân hỗn hợp NPK: Bón lót 70% lượng phân NPK + phân chuồng + vôi, bón thúc 30% lượng phân NPK còn lại + toàn bộ lượng kali khi cây có 3-5 lá.

2. Xới, vun, làm cỏ, tỉa cây, bón thúc
- Làm cỏ, xới vun đợt 1 khi cây có 1 - 2 lá thật, tỉa dặm cây đều để cây không lấn át nhau.

- Đợt 2 xới, xáo, bón phân thúc 50% đạm và 50% kali và vun gốc khi đậu có 3 - 5 lá.

3. Tưới tiêu nước
Đậu tương là cây trồng cạn nhưng kém chịu hạn. Nhu cầu nước của cây đậu tương lớn nhất vào thời kỳ ra hoa làm quả. Đậu tương khi gieo cần độ ẩm 50% mới mọc được, vụ Hè thu làm xong đất cần gieo ngay. Đậu tương cần được tưới khi thời kỳ cây con, ra hoa làm quả. Nếu bị hạn ở các thời kỳ trên sẽ giảm năng suất, nếu mưa lớn cần thăm ruộng thường xuyên để tiêu úng.

4. Phòng trừ sâu bệnh
a) Sâu xám
- Triệu chứng: Thường cắn ngang thân cây. Phá hại nặng vụ Xuân, vào thời kỳ cây con.

- Biện pháp phòng trừ: Làm đất kỹ để diệt nhộng và sâu non thường ẩn nấp cách mặt đất 4 - 6 cm. Có thể dùng thuốc hoá học trừ diệt sâu non và sâu tuổi 1 - 3. Với sâu tuổi 4 - 5, tổ chức bắt vào buổi sáng sớm.

b) Ruồi đục thân
- Triệu chứng: Phá hoại ở các bộ phận của cây như lá hoặc thân.

- Biện pháp phòng trừ: Luân canh với các cây trồng khác như lúa… Dùng các loại thuốc hoá học như BiAn 40EC, BiAn 50EC… theo liều khuyến cáo ghi ngoài bao bì, nhãn mác.

c) Sâu đục quả
- Triệu chứng: Sâu phá hoại khi cây có quả non, hạt mới hình thành bị sâu đục không phát triển nữa.

- Biện pháp phòng trừ sâu non: Phun thuốc sớm trừ sâu non bằng Surpacide 40ND, Dipterex. Luân canh với các cây trồng không phải là ký chủ của sâu đục quả, chọn thời vụ trồng thích hợp.

d) Sâu hại lá (sâu xanh, sâu khoang, sâu cuốn lá
- Triệu chứng: Gây hại trên lá.

- Biện pháp phòng trừ: Dùng thuốc hoá học như BiAn 40EC, BiAn 50EC, Sherpa, Polytin, Oncol… theo liều khuyến cáo ghi ngoài bao bì nhãn mác…

e) Bọ xít xanh
- Triệu chứng: Chích hút lá, quả làm lá sinh trưởng kém, quả lép, không chín được.

- Biện pháp phòng trừ: Dùng các loại thuốc hoá học như BiAn 40EC, BiAn 50EC,Padan 95SP, Dipterex... theo liều khuyến cáo.

f) Bệnh rỉ sắt
- Nguyên nhân: Do nấm.

- Triệu chứng: Cây bị bệnh xuất hiện đốm nâu ở mặt dưới lá. Bào tử nấm phát triển trong vết bệnh, làm giảm diện tích quang hợp của lá làm lá vàng, mất khả năng quang hợp, rụng sớm, làm giảm số lượng và trọng lượng hạt.

- Biện pháp phòng trừ: Có thể dùng các loại thuốc hoá học như Score 250ND, Zineb, Boocđo... theo liều khuyến cáo ghi ngoài bao bì nhãn mác.

g) Bệnh lở cổ rễ
- Nguyên nhân: Do nấm.

- Triệu chứng: ở cổ rễ có một lớp sợi trắng, cây bị vàng úa và bị chết.

- Biện pháp phòng trừ : Xử lý hạt giống bằng thuốc trừ nấm trước khi gieo.

h) Bệnh virus và vi khuẩn
- Nguyên nhân: Do virus và vi khuẩn gây hại.

- Triệu chứng: Làm hạt mất sức nảy mầm, cây lùn thấp, đốt ngắn, lá xoăn vàng, hoa lá rụng sớm.

- Biện pháp phòng trừ: Tốt nhất là chọn giống chống bệnh.

- Tóm lại: Đối với sâu bệnh hại đậu tương cần áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như dùng giống sạch bệnh, bón phân cân đối hợp lý, xử lý hạt giống trước khi gieo, sử dụng các loại thuốc hoá học đúng đối tượng và thời điểm.

Kỹ thuật trồng đậu tương, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.