Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá nước ngọt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá nước ngọt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc

Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc


Để giúp người nuôi có thêm thông tin về kỹ thuật nuôi cá lóc chúng tôi giới thiệu độc giả  Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc chúng tôi giới thiều với độc giả Video kỹ thuật nuôi cá lóc.



Video Kỹ thuật nuôi cá Lóc, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

Kỹ thuật ương cá tra bột

Kỹ thuật ương cá Tra bột


1. Thức ăn cho cá tra bột
- Cá tra bột thích ăn mồi tươi sống như luân trùng, trứng nước và các loại động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước. Đến ngày thứ 8 cá ăn được lăng quăng, ấu trùng muỗi, trùn chỉ và mùn bả hữu cơ.

- Cá bắt đầu xuống đáy tìm thức ăn từ ngày thứ 11 và từ ngày tuổi thứ 25 cá chuyển sang ăn tạp và tính ăn của cá giống như cá trưởng thành.

2. Chuẩn bị ao ương cá
Ao ương có diện tích từ 1000 m2 trở lên, độ sâu nước khoảng 1,5 - 2,0 m, điều kiện cấp thoát nước dễ dàng. (28TCN 213: 2001). Bờ ao phải chắc chắn, không bị rò rỉ, xung quanh bờ ao cần thoáng mát không bị cây cối che khuất.

3. Cải tạo ao

- Bơm cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ, làm sạch cỏ xung quanh bờ ao.

- Vét bùn đáy ao, chừa lại một lớp bùn khoảng 5cm. Bón vôi bột với liều lượng từ 7 - 10kg/100m2. Phơi ao 2 - 3 ngày.

- Lọc nước lấy vào ao với mức nước 1 - 1,2m trước khi thả cá 4 ngày. Có thể sử dụng bột đậu nành hay bột cá bón từ 2 - 3kg/100m2 để gây nuôi thức ăn tự nhiên.

- Để tăng thêm nguồn thức ăn tự nhiên, có thể cấy thêm trứng nước và trùn chỉ trước khi thả cá 1 - 2 ngày.

- Mật độ ương cá tra là 250-400 con/m2 (theo TCN 28TCN 211: 2004).
Khi khâu chuẩn bị ao tốt, cá bột sẽ có sẵn một lượng thức ăn tự nhiên trong ao.

4. Cho cá ăn
- Trong tuần thứ nhất thức ăn cho cá bột là thức ăn dạng bột đậm đặc chuyên dùng cho ương cá trong giai đoạn cá bột.

- Mỗi ngày cho cá ăn 6 - 8 lần.

- Sau khi cá được 1 tuần tuổi, có thể tập cho cá ăn các loại thức ăn chế biến.

- Khi cho cá ăn cần tập trung cá lại một chỗ bằng cách tạo tiếng động (gõ vào thành cầu hay thùng chứa thức ăn ...) dần dần sẽ tạo thành phản xạ cho cá, chỉ cần tạo tiếng động là cá sẽ tập trung về nơi cho ăn. Đối với những ao ương có diện tích rộng có thể thiết kế nhiều sàn ăn dọc theo ao.

- Thức ăn để ương nuôi cá tra trong giai đoạn 1 tháng tuổi cần phải có hàm lượng đạm (Protein) khoảng 25 - 30% (thành phần thức ăn trong bảng 1). Có thể sử dụng các loại thức ăn công nghiệp dạng đậm đặc. Lượng thức ăn cho cá dao động từ 10 - 20 kg/100 kg cá, cho cá ăn 2 - 3 lần trong ngày.

- Cần theo dõi chất lượng nước thường xuyên và giữ nước sạch, vì cá tra rất mẫn cảm với những biến đổi của điều kiện môi trường. Sau 2 tháng ương, cá đạt kích cỡ 10 - 12cm. Tỉ lệ sống trung bình đạt 20 - 30%.


Kỹ thuật ương cá tra bột trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh trong ao

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh trong ao


Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao by CCTS | Ky thuat nuoi ca tra tham canh trong ao

1. Thiết kế ao nuôi


- Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500m2 trở lên.

- Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắc chắn và phải thiết kế lưới bao quanh ao.

- Độ sâu của ao từ 2 - 3m (28 TCN 213 : 2004). Ao phải có cống cấp và thoát nước.

- Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều ngang.

- Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.

- Trong ao nuôi nên thiết kế 1 hay nhiều sàn cho cá ăn, sẽ giúp ích cho
việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.

- Sàn ăn có thể được làm bằng tre, tràm hay bằng các loại gỗ ...

2. Chuẩn bị ao nuôi


Trước khi thả cá, ao cần được chuẩn bị kỹ theo các bước sau:
- Vét hết lớp bùn đáy ao, kiểm tra kỹ bờ ao, cống bộng, gia cố bờ ao, làm sàn ăn cho cá.

- Bón vôi bột với liều lượng 7 - 10kg/100m2.

- Nếu có điều kiện phơi ao 3 - 5 ngày, sau đó cấp nước vào với mức nước ban đầu là 1 - 1,2m.

3. Thời vụ thả giống
Thời vụ thả nuôi thích hợp nhất từ tháng 6 - 7 hàng năm, vì đây là mùa sinh sản của cá tra nên chất lượng con giống sẽ tốt hơn so với các thời điểm khác trong năm.

4. Kích cỡ và mật độ thả nuôi
Cá giống thả nuôi phải đều cỡ. Kích cỡ cá thả nuôi tốt nhất là 10 - 14cm, mật độ từ 15 - 20 con/m2 (TCN 28 TCN 213 : 2004).

5. Chọn cá giống
- Cá không bị dị tật, màu sắc tươi sáng: lưng xanh đen, bụng màu trắng bạc, các sọc dọc theo thân phải rõ ràng.

- Cá nhanh nhẹn, bơi lội khoẻ và chạy thành đàn. Cá không bị xây xát, các vi không bị rách.

6. Vận chuyển và thả giống
- Có thể vận chuyển theo 2 cách:
+ Vận chuyển hở bằng các dụng cụ như xô nhựa, chậu hay thuyền thông thuỷ (ghe đục).
+ Vận chuyển kín bằng cách đóng trong bao có oxy.

- Vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất vào sáng sớm hay chiều tối.

- Thả giống: Trước khi thả cá xuống ao cần tắm cá bằng nước muối 2 - 3% trong 5-6 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ được ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Khi thả cá vào ao, cần thả từ từ để cá quen dần với điều kiện mới. Nếu vận chuyển bằng bao nylon bơm oxy nên ngâm bao chứa cá giống trong nước ao 15-20 phút mới thả cá ra. Nếu vận chuyển bằng thuyền thông thủy (ghe đục) thì dùng lưới mắt nhỏ để kéo cá, thao tác nhẹ nhàng tránh làm cá xây xát.

7. Thức ăn cho cá
- Thức ăn cho cá thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của cá. Thức ăn cho cá nuôi thịt có hàm lượng đạm (protein) thích hợp từ 20 - 30%.

- Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, đây là một nguồn thức ăn tốt cho việc nuôi cá tra thâm canh trong ao. Chúng có những ưu điểm như hàm lượng các chất dinh dưỡng đầy đủ và ổn định, dễ kiểm soát do viên nổi nên dễ kiểm tra được lượng thức ăn dư thừa, ngoài ra còn dễ bảo quản và giảm chi phí nhân công.

- Có thể phối chế bằng các nguyên liệu có sẵn tại địa phương theo các công thức thức ăn trong bảng 2 và 3 (phụ lục). Tấm, cá tạp được nấu chín sau đó trộn đều với các thành phần thức ăn khác và ép thành viên. Kích thước của viên thức ăn tùy thuộc vào cỡ cá. Hạn chế sử dụng các loại nguyên liệu thực vật có nhiều sắc tố (carotenoid) như bột bắp vàng, rau muống vì các loại sắc tố này sẽ tích trữ lại trong thịt cá và làm cho thịt cá tra có màu vàng, bên cạnh đó cần bổ sung khoảng 2% các loại vitamin, premix khoáng vào thức ăn, 2 lần/tuần để giúp cá có sức đề kháng tốt với các loại bệnh.

- Nếu không có điều kiện ép viên thức ăn, có thể trộn và vắt thức ăn thành từng viên bằng tay để cho cá ăn. Có thể sử dụng bột keo hoặc bột mì (không nên sử dụng bột gòn vì sẽ làm cho thịt cá có màu vàng) làm chất kết dính để hạn chế sự tan rã của thức ăn trong nước.

8. Cho cá ăn
- Thức ăn chế biến sau khi ép thành viên nhỏ, rải từ từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn. Thức ăn viên công nghiệp cũng rải từ từ để cá sử dụng triệt để.

- Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6-10 giờ, chiều từ 16-18 giờ. Khẩu phần thức ăn tuỳ vào từng giai đoạn phát triển của cá. Trong 2 - 3 tháng đầu nuôi, thức ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm 25 - 28%. Giai đoạn tiếp theo cho đến khi thu hoạch, hàm lượng đạm của thức ăn giảm xuống còn 18 - 22%.

- Yêu cầu quản lý, sử dụng các loại thức ăn đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn để nuôi theo đúng quy định của tiêu chuẩn Ngành 28TCN 176:2002.

- Khi cho cá ăn cần chú ý các điểm sau:
+ Khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp phải chú ý đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn không được nhiễm Salmonella, nấm mốc độc (A spergillus flavus), độc tố Aflatoxin.
+ Nguyên liệu chế biến thức ăn chế biến có nguồn gốc động vật như cá tạp phải tươi, không bị ươn thối, bột cá có mùi thơm đặc trưng, không pha lẫn tạp chất, cá tạp khô không bị sâu mọt, không bị nhiễm Salmonella.
+ Không cho cá ăn thức ăn quá hạn sử dụng, thức ăn kém chất lượng hoặc thức ăn đã bị ôi thiu, nhiễm nấm mốc.

- Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên hàng ngày nơi chế biến thức ăn và các thiết bị, dụng cụ chế biến thức ăn.

- Nên tập cho cá ăn tập trung tại các sàn ăn. Rải thức ăn ít và chậm cho cá ăn hết thức ăn mới rải tiếp. Khi cá không còn tập trung lại sàn ăn là dấu hiệu cá đã no, thì ngừng cho ăn.


9. Quản lý ao nuôi
- Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, điều này rất dễ quan sát vì cá tra ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá.

- Mặc dù cá tra có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh với mật độ rất cao việc tuần tra, theo dõi hoạt động của cá nuôi phải được thực hiện thường xuyên.

- Những biểu hiện không tốt của cá trong ao nuôi như: cá nổi đầu, bơi lờ đờ, cá bỏ ăn hay cá có biểu hiện bệnh và chết phải được xử lý với những biện pháp thích hợp. Luôn giữ nguồn nước ao sạch và ổn định.

- Cần hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành sản phẩm, tăng chi phí đầu tư.

10. Thu hoạch
Cá tra nuôi trong ao sau 6 - 8 tháng thì có thể thu hoạch. Trọng lượng cá tra nuôi có thể đạt từ 0,7 - 1,5kg/con. Phương thức thu hoạch tốt nhất là đánh bắt bằng lưới và thu hoạch một lần, sau đó tát cạn ao để chuẩn bị cho vụ nuôi sau.



Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm

Mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm


Mô hình nuôi cá lóc thương phẩm by LG | Mo hinh nuoi ca loc thuong pham

I. Mô hình nuôi trong giai đặt ở ao đất
1. Mùa vụ


Mùa vụ nuôi phụ thuộc vào việc sản xuất con giống. Nguồn cá giống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thông thường nguồn cá giống xuất hiện tập trung vào tháng 7 – 8. Do vậy, mùa vụ nuôi cũng tập trung vào những tháng này.

2. Kích cỡ giống và mật độ nuôi
Cần chọn lựa giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị sây sát, không bị mất nhớt. Cá giống cần đạt kích cỡ 20 – 30g/con. Mật độ thả 70 – 90 con/m2.

3. Thức ăn cho cá
Cá lóc là loài ăn động vật, cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: cá, tép, ếch nhái….Trong quá trình nuôi có thể tập cho cá quen dần với thức ăn tự chế với nguồn nguyên liệu là cá tạp, tấm, cám, bắp….hoặc thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn cho cá có thể định lượng theo bảng sau:


4. Cho cá ăn
Trong giai đoạn đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn, khi cá lớn thức ăn không cần xay nhuyễn và được cung cấp cho cá trong giai hoặc ao nuôi qua sàn ăn.


5. Chăm sóc và quản lý
Việc chăm sóc và quản lý được tiến hành thường xuyên như kiểm tra hệ thống dây- lưới, theo dõi hoạt động của cá, vệ sinh giai….

II. Mô hình nuôi trong ao đất
1. Chuẩn bị ao
Diện tích ao nuôi trung bình từ 100 – 1.000m2. Ao nuôi được cải tạo và vệ sinh trước khi nuôi. Dùng lưới hoặc đăng tre chắn xung quanh để phòng tránh cá nhảy ra ngoài. Mật độ thả cá 30 – 50 con/m2.

2. Cho cá ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất tương tự như thức ăn cho cá nuôi trong giai. Thức ăn được đặt trong sàn cho cá ăn.

III. Mô hình nuôi trên bể lót bạt
1. Chuẩn bị bể
Tùy theo diện tích của mỗi hộ gia đình mà xây dựng bể có quy mô khác nhau.
- Vị trí đặt bể nên bố trí gần sông để thuận tiện cho việc thay nước, nên xây dựng bể lót bạt để chi phí đầu tư thấp và thuận tiện cho việc thay đổi thiết kế sau này nhất là chuyển đổi đối tượng nuôi khác.

- Bể thường được xây dựng theo hình chữ nhật, chiều cao bể khoảng 1,2m. Dùng tràm để làm các trụ, rào đăng tre xung quanh, trải bạt nhựa màu tối để tạo điều kiện sống gần giống như tự nhiên và sử dụng lưới cước rào trên mặt bể để tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nên thiết kế sao cho nghiêng về một phía để dễ dàng tháo nước. Đặt cống thoát nước sát đáy bể và đầu cống có lưới chắn để không cho cá ra ngoài.

- Mực nước trung bình trong bể là từ 0,8 – 1m.

- Cần có hệ thống máy bơm nước để cung cấp nước khi cần thay nước.

2. Cho ăn và quản lý
Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất giống như thức ăn cho cá nuôi trong giai và ao đất. Thức ăn được đặt trong sàn ho cá ăn.

3. Xử lý môi trường nước trong bể nuôi
Cá lóc nuôi trên bể môi trường nước rất dễ nhiễm bẩn cần được thay nước thường xuyên. Lúc cá còn nhỏ số lần thay nước sẽ ít hơn so với cá lớn. Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 - 10 ngày/lần với 2 - 3kg vôi/100m3. Trong quá trình nuôi nếu có hiện tượng nhiễm nấm, ký sinh trùng nên dùng các hóa chất diệt ký sinh trùng như Fresh water ( Cty Vemedim, Cần Thơ)….liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất để xử lý rất hiệu quả.

IV. Mô hình nuôi ghép
1. Nuôi ghép với cá Rô phi
Dùng cá Rô phi làm thức ăn cho cá lóc. Mật độ thả 0,5 – 1 con/m2. Qua 4 tháng nuôi cá giống cỡ 80 – 100g/con đạt trung bình 350g/con. Tính trung bình cứ 4kg cá Rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.

2. Nuôi ghép với cá nuôi khác
Có thể nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép,.....Thức ăn và liều lượng cho ăn tuỳ thuộc vào mật độ nuôi cũng như tỉ lệ ghép với loài cá khác sao cho đảm bảo cá lóc tăng trưởng tốt và không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá khác.

VI. Phòng và trị bệnh cho cá
- Cá ương giai đoạn dưới 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng Để phòng bệnh cần định kỳ sát trùng ao nuôi 15 ngày/lần. Sử dụng vôi bột với liều lượng 3 – 4 kg/100m3, vôi được hòa tan, lóng trong và lấy nước tạt khắp ao hoặc sử dụng Fresh water (Cty Vemedim Cần Thơ).

- Cá ương giai đoạn trên 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột do giai đoạn này cá chuyển thức ăn. Rửa thức ăn bằng muối hột, trộn thuốc Sunfadimezin: 2g + Vitamine C: 1g /1kg thức ăn cho cá ăn liên tục 3 ngày mỗi tháng. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.

- Cá giai đoạn nuôi thịt: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột, ghẻ lở, rận cá. Sử dụng Sunfadimezin: 20g + Oxytetra 5g/100kg cá. Dùng liên tục trong 6 ngày. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.

VII. Thu hoạch
- Sau 5 – 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng trung bình 0,8Kg – 1kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt để hạn chế sây sát.

- Tháo nước ra chỉ còn 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Sau đó tát cạn để thu họch toàn bộ.

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh

Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh


1. Thiết kế ao nuôi

- Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500m2 trở lên.

- Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắc chắn và phải thiết kế lưới bao quanh ao.

- Độ sâu của ao từ 2 - 3m (28 TCN 213 : 2004). Ao phải có cống cấp và thoát nước.

- Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều ngang.

- Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.

- Trong ao nuôi nên thiết kế 1 hay nhiều sàn cho cá ăn, sẽ giúp ích cho
việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.

- Sàn ăn có thể được làm bằng tre, tràm hay bằng các loại gỗ ...

2. Chuẩn bị ao nuôi

Trước khi thả cá, ao cần được chuẩn bị kỹ theo các bước sau:
- Vét hết lớp bùn đáy ao, kiểm tra kỹ bờ ao, cống bộng, gia cố bờ ao, làm sàn ăn cho cá.

- Bón vôi bột với liều lượng 7 - 10kg/100m2.

- Nếu có điều kiện phơi ao 3 - 5 ngày, sau đó cấp nước vào với mức nước ban đầu là 1 - 1,2m.

3. Thời vụ thả giống
Thời vụ thả nuôi thích hợp nhất từ tháng 6 - 7 hàng năm, vì đây là mùa sinh sản của cá tra nên chất lượng con giống sẽ tốt hơn so với các thời điểm khác trong năm.

4. Kích cỡ và mật độ thả nuôi
Cá giống thả nuôi phải đều cỡ. Kích cỡ cá thả nuôi tốt nhất là 10 - 14cm, mật độ từ 15 - 20 con/m2 (TCN 28 TCN 213 : 2004).

5. Chọn cá giống
- Cá không bị dị tật, màu sắc tươi sáng: lưng xanh đen, bụng màu trắng bạc, các sọc dọc theo thân phải rõ ràng.

- Cá nhanh nhẹn, bơi lội khoẻ và chạy thành đàn. Cá không bị xây xát, các vi không bị rách.

6. Vận chuyển và thả giống
- Có thể vận chuyển theo 2 cách:
+ Vận chuyển hở bằng các dụng cụ như xô nhựa, chậu hay thuyền thông thuỷ (ghe đục).
+ Vận chuyển kín bằng cách đóng trong bao có oxy.

- Vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất vào sáng sớm hay chiều tối.

- Thả giống: Trước khi thả cá xuống ao cần tắm cá bằng nước muối 2 - 3% trong 5-6 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ được ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Khi thả cá vào ao, cần thả từ từ để cá quen dần với điều kiện mới. Nếu vận chuyển bằng bao nylon bơm oxy nên ngâm bao chứa cá giống trong nước ao 15-20 phút mới thả cá ra. Nếu vận chuyển bằng thuyền thông thủy (ghe đục) thì dùng lưới mắt nhỏ để kéo cá, thao tác nhẹ nhàng tránh làm cá xây xát.

7. Thức ăn cho cá
- Thức ăn cho cá thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của cá. Thức ăn cho cá nuôi thịt có hàm lượng đạm (protein) thích hợp từ 20 - 30%.

- Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, đây là một nguồn thức ăn tốt cho việc nuôi cá tra thâm canh trong ao. Chúng có những ưu điểm như hàm lượng các chất dinh dưỡng đầy đủ và ổn định, dễ kiểm soát do viên nổi nên dễ kiểm tra được lượng thức ăn dư thừa, ngoài ra còn dễ bảo quản và giảm chi phí nhân công.

- Có thể phối chế bằng các nguyên liệu có sẵn tại địa phương theo các công thức thức ăn trong bảng 2 và 3 (phụ lục). Tấm, cá tạp được nấu chín sau đó trộn đều với các thành phần thức ăn khác và ép thành viên. Kích thước của viên thức ăn tùy thuộc vào cỡ cá. Hạn chế sử dụng các loại nguyên liệu thực vật có nhiều sắc tố (carotenoid) như bột bắp vàng, rau muống vì các loại sắc tố này sẽ tích trữ lại trong thịt cá và làm cho thịt cá tra có màu vàng, bên cạnh đó cần bổ sung khoảng 2% các loại vitamin, premix khoáng vào thức ăn, 2 lần/tuần để giúp cá có sức đề kháng tốt với các loại bệnh.

- Nếu không có điều kiện ép viên thức ăn, có thể trộn và vắt thức ăn thành từng viên bằng tay để cho cá ăn. Có thể sử dụng bột keo hoặc bột mì (không nên sử dụng bột gòn vì sẽ làm cho thịt cá có màu vàng) làm chất kết dính để hạn chế sự tan rã của thức ăn trong nước.

8. Cho cá ăn
- Thức ăn chế biến sau khi ép thành viên nhỏ, rải từ từ cho cá ăn từng ít một cho đến khi hết thức ăn. Thức ăn viên công nghiệp cũng rải từ từ để cá sử dụng triệt để.

- Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6-10 giờ, chiều từ 16-18 giờ. Khẩu phần thức ăn tuỳ vào từng giai đoạn phát triển của cá. Trong 2 - 3 tháng đầu nuôi, thức ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm 25 - 28%. Giai đoạn tiếp theo cho đến khi thu hoạch, hàm lượng đạm của thức ăn giảm xuống còn 18 - 22%.

- Yêu cầu quản lý, sử dụng các loại thức ăn đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn để nuôi theo đúng quy định của tiêu chuẩn Ngành 28TCN 176:2002.

- Khi cho cá ăn cần chú ý các điểm sau:
+ Khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp phải chú ý đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn không được nhiễm Salmonella, nấm mốc độc (A spergillus flavus), độc tố Aflatoxin.
+ Nguyên liệu chế biến thức ăn chế biến có nguồn gốc động vật như cá tạp phải tươi, không bị ươn thối, bột cá có mùi thơm đặc trưng, không pha lẫn tạp chất, cá tạp khô không bị sâu mọt, không bị nhiễm Salmonella.
+ Không cho cá ăn thức ăn quá hạn sử dụng, thức ăn kém chất lượng hoặc thức ăn đã bị ôi thiu, nhiễm nấm mốc.

- Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên hàng ngày nơi chế biến thức ăn và các thiết bị, dụng cụ chế biến thức ăn.

- Nên tập cho cá ăn tập trung tại các sàn ăn. Rải thức ăn ít và chậm cho cá ăn hết thức ăn mới rải tiếp. Khi cá không còn tập trung lại sàn ăn là dấu hiệu cá đã no, thì ngừng cho ăn.

9. Quản lý ao nuôi
- Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, điều này rất dễ quan sát vì cá tra ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá.

- Mặc dù cá tra có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh với mật độ rất cao việc tuần tra, theo dõi hoạt động của cá nuôi phải được thực hiện thường xuyên.

- Những biểu hiện không tốt của cá trong ao nuôi như: cá nổi đầu, bơi lờ đờ, cá bỏ ăn hay cá có biểu hiện bệnh và chết phải được xử lý với những biện pháp thích hợp. Luôn giữ nguồn nước ao sạch và ổn định.

- Cần hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành sản phẩm, tăng chi phí đầu tư.

10. Thu hoạch
Cá tra nuôi trong ao sau 6 - 8 tháng thì có thể thu hoạch. Trọng lượng cá tra nuôi có thể đạt từ 0,7 - 1,5kg/con. Phương thức thu hoạch tốt nhất là đánh bắt bằng lưới và thu hoạch một lần, sau đó tát cạn ao để chuẩn bị cho vụ nuôi sau.


Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2011

Kỹ thuật nuôi cá lăng chấm

Kỹ thuật nuôi cá lăng chấm

1. Điều kiện ao, bè nuôi
- Để nuôi cá lăng chấm đạt hiệu quả, có thể áp dụng hình thức nuôi bán thâm canh trong ao hoặc trong bè. Tuy nhiên, nuôi trong bè cá lớn nhanh hơn.
- Ao nuôi rộng 1.000m2 trở lên, sâu 1,5 - 2m. Độ che phủ mặt nước không quá 30%. Lớp bùn dày 10 - 15cm, có thể chủ động cấp - thoát nước.
- Nếu nuôi bè, bè phải có thể tích 10m3 trở lên, đặt ở nơi có dòng chảy vừa phải.
- Nguồn nước dùng để nuôi cá chấm nha phải đảm bảo các thông số: Độ pH từ 6 - 8 (tốt nhất 6,5 - 7,5); ôxy hòa tan trên 3mg/l; độ trong 30 - 40cm; độ mặn 0 - 5‰, hàm lượng NH3 dưới 0,01mg/l.



2. Chuẩn bị ao, bè
- Việc chuẩn bị ao, bè có ý nghĩa quyết định đến kết quả nuôi. Nếu tẩy trùng ao, bè tốt thì mầm bệnh khó có cơ hội phát triển.
- Tẩy dọn ao: Sau khi tháo cạn nước, dùng vôi nông nghiệp (CaCO3) rải đều khắp đáy ao với lượng 10 - 15kg/100m2.
- Ngay sau khi bón vôi, sử dụng sản phẩm chuyên dùng để hấp thụ khí độc hoặc chế phẩm sinh học Environ AC của Công ty Vĩnh Thịnh xử lý ô nhiễm nền đáy ao với liều 1 - 1,5kg/1.000m3 nước để thúc đẩy việc phân huỷ chất hữu cơ và khử khí độc.
- Phơi nắng đáy ao 1 - 2 ngày rồi khử trùng ao một lần nữa bằng một trong các sản phẩm BKC, liều 0,7 - 1lít/1.000m3 hoặc Sanmolt F, liều 1 - 1,5 lít/1.000m3. Không nên bón lót ao bằng phân chuồng.
- Đối với bè, kiểm tra, gia cố bè thật kỹ trước khi thả cá. Dùng BKS hoặc Sanmolt F phun vào bè để diệt mầm bệnh. Đặt bè nơi ít sóng gió, dòng chảy vừa phải, thuận lợi trong việc vận chuyển cá, thức ăn.

3. Thả cá giống
- Tiêu chuẩn: Cá không mất nhớt, đuôi và râu không bạc màu; cỡ đồng đều.
- Mật độ: Nếu nuôi trong ao bán thâm canh (nuôi ghép): 4-5 con/m2 (trong đó cá lăng chấm chiếm 20-30% tổng số cá thả). Thâm canh (nuôi đơn): 6-8 con/m2. Ngoài ra, cần thả thêm 3-5% cá rô phi thường để làm thức ăn cho cá. Nếu nuôi trong bè, mật độ 60-70 con/m3.
- Thời gian thả: Tốt nhất vào buổi sáng (8-11 giờ).
- Phòng bệnh cho cá bằng cách sát trùng (tắm cá) trước khi thả xuống ao, bè bằng muối ăn (1 muỗng canh pha trong 1 lít nước) hoặc BKS, Sanmolt F theo liều hướng dẫn.

4. Thức ăn
- Có thể cho cá ăn bằng một trong các loại sau: cá tạp, cắt khúc vừa cỡ miệng. Thức ăn tự chế 50% cám + 50% cá. Thức ăn viên độ đạm ít nhất 35%.
- Cho ăn 3 lần/ngày (sáng, chiều và tối). Cữ tối chiếm 40-50% tổng lượng thức ăn trong ngày.
- Nên bổ sung chất bổ vào thức ăn để giúp cá tăng sức đề kháng, tiêu hoá tốt, lớn nhanh hơn như: Các loại Vitamin C; chế phẩm vi sinh vật, men tiêu hoá (Aqualact 1g/kg thức ăn); các sản phẩm chứa axít amin, sorbitol (Hepatofish 2,5g/kg thức ăn); khoáng vi lượng (Vitatech F liều lượng 1 - 2g/kg thức ăn).

5. Chăm sóc
- Nếu nuôi ao, thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nhất là vào sáng sớm để xử lý kịp thời. Định kỳ (15 - 20 ngày) thay nước ao một lần.
- Từ tháng thứ 2 trở đi, định kỳ 10 -15 ngày tiến hành khử trùng nước và khử khí độc ở đáy ao bằng BKC liều 0, 5 lít/1.000m3 nước hoặc Sanmolt F liều 0, 7 – 1 lít/1.000m3.
- Trong điều kiện nuôi bè, thường xuyên theo dõi hoạt động ăn mồi của cá, nhất là vào lúc nước đứng, nước đổ để xử lý kịp thời.
- Phòng bệnh cho cá bằng cách: Treo túi vôi ở đầu bè. 15 ngày khử trùng bè 1 lần bằng BKC (phun trực tiếp xuống bè).

Kỹ thuật nuôi cá lăng chấm

Cá lăng chấm cho thu nhập cao

Cá lăng chấm cho thu nhập cao

Trong dịp đến thăm người bà con ở tỉnh Đồng Nai, tôi được biết về một mô hình nuôi cá lăng nha trong ao cho thu nhập cao của anh Phạm Văn Hùng, ngụ ấp Suối Quýt, xã Cẩm Đường, huyện Long Thành.

Được Trạm khuyến nông huyện Long Thành tận tình hướng dẫn kỹ thuật, năm 2007, anh Phạm Văn Hùng đã mạnh dạn vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp huyện đầu tư thực hiện mô hình nuôi cá lăng nha trong ao. Anh Hùng cải tạo 1.500m2 ao cạnh nhà, lên bờ bao và làm vệ sinh sạch sẽ bằng 105kg vôi bột rồi phơi đáy ao 5 ngày. Tiếp đó, anh cho nước vào ao và tìm diệt các loại cá lóc, trê, ếch, rắn… Sau đó, anh đầu tư cả chục triệu đồng mua 2.000 con cá lăng nha giống thả vào ao ương nuôi.



Nguồn thức ăn cho cá lăng nha chủ yếu được anh Hùng sử dụng là cá tạp các loại và cá biển bằm nhuyễn… Lúc mới thả cá giống vào ao, anh chỉ cho chúng ăn 2 lần/ngày, vào sáng sớm và chiều tối. Một tháng sau khi thả nuôi, anh tăng lượng thức ăn lên theo quá trình tăng trưởng của cá… Cá lăng nha có tập tính ăn mạnh về đêm nên lượng thức ăn ban đêm được anh tăng gấp đôi so với lượng thức ăn ban ngày. Theo anh Hùng thì: Cứ đầu tư khoảng 2kg thức ăn sẽ cho ra 1kg cá lăng nha thương phẩm! Việc phòng ngừa dịch bệnh cho cá cũng được anh thực hiện kịp thời theo đúng quy trình kỹ thuật đã được hướng dẫn của cán bộ khuyến nông huyện. Anh thường xuyên thay nước ao nuôi, định kỳ 3 tháng một lần bón vôi bột trong ao và nơi cho cá ăn, với tổng liều lượng 75kg vôi để diệt mầm bệnh phát sinh…

Sau hơn 10 tháng nuôi, anh Hùng cho tát ao, thu hoạch được hơn 1.600 kg cá lăng nha thương phẩm, bán giá bình quân 70.000đồng/kg, thu trên 100 triệu đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư, công chăm sóc và thanh toán vốn - lãi cho Ngân hàng, anh Phạm Văn Hùng còn lãi hơn 50 triệu đồng! Suốt từ năm 2007 đến nay, mô hình nuôi cá lăng nha của anh Hùng đều cho thu nhập cao (trên dưới 50 triệu đồng/vụ nuôi/năm). Anh Phạm Văn Hùng cho biết: “Nuôi cá lăng nha trong ao tuy chi phí đầu tư cao, nhưng bù lại con cá này rất dễ nuôi, ít bị bệnh và khi nuôi nguồn thức ăn cho cá rất dễ tìm…; người nuôi chỉ cần có nguồn nước sạch, cho ăn đầy đủ, chăm sóc, phòng ngừa bệnh đúng quy trình hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Người nuôi có thể nuôi ghép cá lăng nha trong cùng một ao với các loại cá mè, trắm, hường, rô phi… để tăng thêm thu nhập”.

Hiện tại, anh Phạm Văn Hùng đang tiếp tục thả nuôi hơn 2.000 con cá lăng nha trong ao cũ. Đến nay, cá đã được nuôi hơn 5 tháng, đàn cá tăng trọng tốt, không thấy dấu hiệu cá bị bệnh… Nhiều bà con quanh vùng đang tìm đến anh Hùng để tìm hiểu và học hỏi cách thức nuôi cá lăng nha để áp dụng và nhân rộng.

Nông Nghiệp VN


KTNT - Lăng nha (Mystus wyckiioides) là loài cá nước ngọt, thịt trắng chắc, không xương dăm, mùi vị thơm ngon, giá trị thương phẩm cao. Trước đây, loại cá này chủ yếu được đánh bắt, khai thác từ tự nhiên. Tháng 7/2006, Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang đã sản xuất giống cá lăng nha thành công với sự trợ giúp của Khoa Thủy sản (Trường Đại học Nông - lâm TP.Hồ Chí Minh). Xin giới thiệu cùng bà con kỹ thuật nuôi cá lăng nha thương phẩm.

Điều kiện ao, bè nuôi

Để nuôi cá lăng nha đạt hiệu quả, có thể áp dụng hình thức nuôi bán thâm canh trong ao hoặc trong bè. Tuy nhiên, nuôi trong bè cá lớn nhanh hơn.

Ao nuôi rộng 1.000m2 trở lên, sâu 1,5 - 2m. Độ che phủ mặt nước không quá 30%. Lớp bùn dày 10 - 15cm, có thể chủ động cấp - thoát nước.

Nếu nuôi bè, bè phải có thể tích 10m3 trở lên, đặt ở nơi có dòng chảy vừa phải.

Nguồn nước dùng để nuôi cá lăng nha phải đảm bảo các thông số: Độ pH từ 6 - 8 (tốt nhất 6,5 - 7,5); ôxy hòa tan trên 3mg/l; độ trong 30 - 40cm; độ mặn 0 - 50/00, hàm lượng NH3 dưới 0,01mg/l.

Chuẩn bị ao, bè

Việc chuẩn bị ao, bè có ý nghĩa quyết định đến kết quả nuôi. Nếu tẩy trùng ao, bè tốt thì mầm bệnh khó có cơ hội phát triển.

Tẩy dọn ao: Sau khi tháo cạn nước, dùng vôi nông nghiệp (CaCO3) rải đều khắp đáy ao với lượng 10 - 15kg/100m2.

Ngay sau khi bón vôi, sử dụng sản phẩm chuyên dùng để hấp thụ khí độc hoặc chế phẩm sinh học Environ AC của Công ty Vĩnh Thịnh xử lý ô nhiễm nền đáy ao với liều 1 - 1,5kg/1000m3 nước để thúc đẩy việc phân huỷ chất hữu cơ và khử khí độc.

Phơi nắng đáy ao 1 - 2 ngày rồi khử trùng ao một lần nữa bằng một trong các sản phẩm BKC, liều 0,7 - 1lít/1000m3 hoặc Sanmolt F, liều 1 - 1,5 lít/1000m3. Không nên bón lót ao bằng phân chuồng.

Đối với bè, kiểm tra, gia cố bè thật kỹ trước khi thả cá. Dùng BKS hoặc Sanmolt F phun vào bè để diệt mầm bệnh. Đặt bè nơi ít sóng gió, dòng chảy vừa phải, thuận lợi trong việc vận chuyển cá, thức ăn.

Thả cá giống

Tiêu chuẩn: Cá không mất nhớt, đuôi và râu không bạc màu; cỡ đồng đều.

Mật độ: Nếu nuôi trong ao bán thâm canh (nuôi ghép): 4-5 con/m2 (trong đó cá lăng nha chiếm 20-30% tổng số cá thả). Thâm canh (nuôi đơn): 6-8 con/m2. Ngoài ra, cần thả thêm 3-5% cá rô phi thường để làm thức ăn cho cá. Nếu nuôi trong bè, mật độ 60-70 con/m3.

Thời gian thả: Tốt nhất vào buổi sáng (8-11 giờ).

Phòng bệnh cho cá bằng cách sát trùng (tắm cá) trước khi thả xuống ao, bè bằng muối ăn (1 muỗng canh pha trong 1 lít nước) hoặc BKS, Sanmolt F theo liều hướng dẫn.

Thức ăn

Có thể cho cá ăn bằng một trong các loại sau: cá tạp, cắt khúc vừa cỡ miệng. Thức ăn tự chế 50% cám + 50% cá. Thức ăn viên độ đạm ít nhất 35%.

Cho ăn 3 lần/ngày (sáng, chiều và tối). Cữ tối chiếm 40-50% tổng lượng thức ăn trong ngày.

Nên bổ sung chất bổ vào thức ăn để giúp cá tăng sức đề kháng, tiêu hoá tốt, lớn nhanh hơn như: Các loại Vitamin C; chế phẩm vi sinh vật, men tiêu hoá (Aqualact 1g/kg thức ăn); các sản phẩm chứa axít amin, sorbitol (Hepatofish 2,5g/kg thức ăn); khoáng vi lượng (Vitatech F liều lượng 1 - 2g/kg thức ăn).

Chăm sóc

Nếu nuôi ao, thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nhất là vào sáng sớm để xử lý kịp thời. Định kỳ (15 - 20 ngày) thay nước ao một lần.

Từ tháng thứ 2 trở đi, định kỳ 10 -15 ngày tiến hành khử trùng nước và khử khí độc ở đáy ao bằng BKC liều 0, 5 lít/1.000m3 nước hoặc Sanmolt F liều 0, 7 – 1 lít/1.000m3.

Trong điều kiện nuôi bè, thường xuyên theo dõi hoạt động ăn mồi của cá, nhất là vào lúc nước đứng, nước đổ để xử lý kịp thời.

Phòng bệnh cho cá bằng cách: Treo túi vôi ở đầu bè. 15 ngày khử trùng bè 1 lần bằng BKC (phun trực tiếp xuống bè).

Hiện, Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang có thể cung cấp con giống và tư vấn kỹ thuật cho những hộ có nhu cầu. Mọi chi tiết xin liên hệ: Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang. Địa chỉ: Quốc lộ 91, phường Mỹ Thạnh, TP Long Xuyên, An Giang. Điện thoại: 076.831657.

Trần Thế Tường

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Kỹ thuật nuôi cá lóc trong bể

Kỹ thuật nuôi cá lóc trong bể



Cá lóc là loại cá nước ngọt, thịt ngon, dễ nuôi. Trong điều kiện nông hộ có diện tích đất hạn hẹp hoặc không có đất, có thể nuôi cá lóc với nhiều loại hình khác nhau. Có thể nuôi ao, vèo hay nuôi trong bể lót bạt, bể xi măng. Mô hình nuôi này, các hộ nghèo, cận nghèo có thể tham gia để phát triển kinh tế hộ. Dù dưới hình thức nuôi nào, điều đầu tiên, phải am hiểu kỹ thuật của từng loại hình nuôi mới đạt hiệu quả kinh tế.

1. Công tác chuẩn bị

- Mũ 2 da dùng lót bể.

- Trụ đứng (nóng đá hoặc cây tre,tràm...).

- Cây đóng vách ngang, nẹp tre, ván 3 - 5cm hoặc lót mê bồ.

- Ống cấp, đường kính 45cm, ống thoát đường kính 60cm - 90cm dài 2 - 3 tấc; val khoá, mở.

- Dây kẽm chằng bể.

2. Thiết kế bể nuôi
- Làm khung hình chữ nhật, khoảng cách trụ đứng từ 0,6m - 0,8m một cây, đảm bảo cho chắc chắn để khi bơm nước vào không bị sạt, vách đóng nẹp ván, tre, khoảng cách 1 - 2 phân hoặc đóng sườn xong, lót mê bồ xung quanh. Sau đó lót bạt 2 da.

- Khi lót bạt, xếp góc cho sát mí, những li nhỏ cho ở bên trong, bên ngoài chỉ chừa một li lớn ốp sát vào đóng nẹp cho phẳng bạt, để sau này dễ vệ sinh bể. Khung phải chằng dây kẽm cho chắc chắn và có lưới bảo vệ phía trên, tránh cá phóng nhảy. Ống cấp nước vào đặt phía trên bể, ống tràn (khi trời mưa sẽ duy trì mực nước theo yêu cầu không tràn nước bể nuôi), ống xả nước ở tầng đáy bể. Đáy bể có độ dốc thấp dần về phía thoát nước để chất cặn bả trôi ra ngoài khi thay nước.

- Quy cách bồn: Có thể tính theo bề khổ của mũ để ít tốn chi phí. (khổ 4m x 6m x 8m).Ta tính:
+ Chiều ngang = ngang đáy + 2 chiều cao (2 vách đứng). Chiều dài = Dài đáy + 2 chiều cao.
+ Nếu bể ngang 3m, dài 5m, cao 1,5 m ta mua 8m mũ và chọn khổ mũ 6m, hoặc mua 6m khổ mũ 8m. (Ngang 3m + 3m= 6m; dài 5m + 3m = 8m) Nếu bể: Ngang 2m, dài 3m, cao1,5 m (ngang 2m + 3m = 5m, dài 3m + 3m = 6m) Lấy khổ mũ 6m làm chiều dài,ta chỉ mua 5m là đủ.

- Chiều sâu mực nước nuôi cá đảm bảo: 1,2m.

3. Các phương tiện hỗ trợ
Nuôi cá lóc trong bể lót bạt do tận dụng diện tích nhỏ nuôi với mật độ cao nên cần phải trao đổi nước thường xuyên để cung cấp Oxy đầy đủ cá mới phát triển tốt. Do đó mô hình nuôi này đòi hỏi phải có moteur bơm nước, thông thường công suất từ 0,5CV - 2 CV tùy bể nuôi lớn nhỏ.

4. Mật độ nuôi
Có thể nuôi từ 60 - 100 con/m3 bể. Nếu khu vực nào cúp điện thường xuyên, có thể nuôi với mật độ thấp.(60 - 80con/m2). Cỡ cá thả: có thể thả cá từ lồng 6 - lồng 10.

5. Kỹ thuật thả cá
a. Chuẩn bị nguồn nước
- Trước khi thả cá 3 - 4 ngày, cho nước vào bể nuôi, độ sâu 8 tấc. Sau đó, cá lớn, nâng dần mực nước cho đạt yêu cầu 1,2m.

- Xử lý sát trùng nguồn nước: Avaxide 1cc/m3, 2 ngày sau xử lý Yuca-zeo bio+ muối hột ( bể 3m x 5m x 0,8m): Xử lý 25g vôi + 1/2 lon sữa bò muối hột).

b.Nhập giống
- Cá đem về phải xử lý: Tắm cá, ngừa ngoại ký sinh hoặc nấm trước khi thả vào bể nuôi bằng một trong các loại sau: Muối hột 2 - 3% (tương đương 200 - 300g trong 10lít nước). Thời gian 10 - 15 phút hoặc thuốc có gốc Iode. Thí dụ: Iodine – complex (Công ty Bio): Nồng độ ngâm là 1cc/m3 (khối = 1.000 lít; tắm 10cc/m3 thời gian 5 - 10 phút.

- Cách pha: Nếu chứa cá trong thau khoảng 10 lít nước, ta pha như sau: Rút 1cc thuốc pha trong 1lít nước sạch, sau đó rút 100cc thuốc đã pha cho vào thau 10 lít nước, thời gian 10 phút. Nếu số lượng nước trong thau là 5 lít, ta lấy 50cc, thời gian 10 phút.

* Chú ý tắm cá: Có thời gian nhất định; tính nồng độ thuốc cần dùng pha sẵn thuốc, cho thuốc từ từ vào cá, theo dõi phản ứng của cá để xử lý kịp thời, vì đôi khi nhắm chừng không đúng, hoặc cá bị mệt do vận chuyển xa. Sau khi tắm cá 10 - 15 phút, đưa cá vào bể nuôi, ngày sau mới cho cá ăn. Nếu khi thả cá vào bể, có một vài con tách đàn hoặc nổi trên mặt nước, tạt tiếp tục 2 - 3 đợt thuốc trị ngoại ký sinh. (cách một ngày xử lý một lần).

6. Cho ăn và chăm sóc
- Thức ăn là cá tạp, xay, bằm, cắt khúc tùy theo kích cỡ cá. Khi cho cá ăn phải quan sát hoạt động của cá và quan sát nguồn nước để xử lý kịp thời. Nếu thấy cá nhát: đốp mồi rồi chạy ra ngoài phải xử lý nguồn nước hoặc tạt thuốc trị ký sinh trùng. Nếu thấy cá nổi trên mặt nước nhiều là nguồn nước dơ. Nếu cá nổi trên mặt nước, da sẫm màu, phản xạ kém với tiếng động là cá bị ký sinh trùng. Sức ăn của cá phụ thuộc: Thời tiết; chế độ trao đổi nước, chất lượng mồi.

- Khi thời tiết xấu trộn Vitamine-C, men tiêu hoá, betaglucan cho cá ăn 3 - 5 ngày.

- Cá lồng 10 - 2 nên tẩy giun hoặc trộn thuốc trị nội ngoại ký sinh (có bán ở hiệu thuốc Thú Y). Trong chu kỳ nuôi có thể tẩy giun 3 đợt, tẩy giun lúc cá khoẻ.

* Chú ý: Cho ăn: Đủ số lượng để cá phát triển (nếu thiếu mồi, cá ăn lẫn nhau rất dữ làm hao đầu con); đủ chất lượng để cá khoẻ; đúng vị trí và thời gian để tạo phản xạ có điều kiện giúp cá hấp thu thức ăn tốt, hệ số tiêu tốn thức ăn sẽ thấp.

- Chế độ thay nước: Do diện tích nhỏ, khi cá ăn mồi, lượng mồi rã ra, phân cá thải ra, nên nước rất mau dơ, nhất là cá biển, nên việc trao đổi nước tốt giúp cá phát triển nhanh và bắt mồi mạnh. Khi thay nước mở val xả nước tầng đáy. Nếu chất cặn bả không thoát tốt do kỹ thuật làm bể, do đó khi thay nước nên có ống mũ để rút bã dưới đáy bể. Thay nước như thế mới hiệu quả.

* Lưu ý: Thường đa số hộ nuôi không có ao lắng xử lý nước, nên khi cấp nước vào bể nuôi, phải xử lý vôi hoặc sát trùng nguồn nước vào những thời điểm chất lượng nước ở sông, kênh rạch không tốt như nước quay, nước rút, mưa, bão, áp thấp.

- Hoá chất trị ký sinh trùng có hiệu quả trong nuôi cá lóc: Avaxide (trị sán lá,trùng bánh xe...Cty: Anova); thuốc gốc Iiode (trị nấm ký sinh). Khi thấy vòm họng cá bị đỏ, trên thân có những vết đỏ là cá bị vi khuẩn, phải dùng kháng sinh trộn vào thức ăn cho cá ăn 5 - 7 ngày, đồng thời phải xử lý nguồn nước, tạt thuốc trị ký sinh.

Kỹ thuật nuôi cá lóc trong bể, Nguồn: Trạm Khuyến nông Phú Tân.

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Mú trong lồng

Kỹ thuật nuôi cá Mú trong lồng

I. Tổng quan sinh học cá mú


- Cá mú thuộc loài cá dữ, có tính ăn thịt và bắt mồi theo phương thức rình mồi. Ngoài tự nhiên cá hoạt động về đêm, ban ngày ẩn nấp trong các hang đá, rạn san hô, thỉnh thoảng mới đi tìm mồi. Tuy nhiên, khi được thuần dưỡng trong môi trường nuôi, cá có thể ăn được cả vào ban ngày.

- Một hiên tượng khá lý thú là có sự chuyển đổi giới tính ở nhóm cá này. Khi còn nhỏ chúng là cá cái, nhưng khi đạt đến kích cỡ và tuổi nhất định thì chuyển thành cá đực. Cá mú có thể đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào những tháng lạnh, nhiệt độ thấp vì thế từng vùng khác nhau mùa vụ xuất hiện cá giống cũng khác nhau. Sức sinh sản của cá khá cao, mỗi con cái có thể đẻ từ vài trăm ngàn đến vài triệu trứng.

II. Kỹ thuật nuôi cá lồng
1. Vị trí đặt lồng
Trong nuôi lồng, do chất lượng nước không thể kiểm soát được như trong các thuỷ vực, ao đầm mà tuỳ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Vì thế chọn lựa vị trí thích hợp sẽ là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của nghề nuôi. Thông thường, tiêu chuẩn lựa chọn vị trí nuôi tuân thủ theo các điều kiện sau:
- Bè nuôi cần đặt ở vùng eo, vịnh hay mặt sau của đảo.

- Tránh nơi sóng to, gió lớn có thể làm hư hỏng lồng, trôi thức ăn, làm cho cá khó bắt mồi dẫn đến hoạt động yếu gây chậm lớn và phát sinh bệnh.

- Độ sâu từ đáy lồng cách mặt đáy biển ít nhất 5 – 10m khi thủy triều xuống thấp nhất.

- Cần tránh đặt lồng nơi nước chảy quá yếu hay nước đứng dễ dẫn đến tình trạng cá yếu dần và chết do thiếu oxy.

- Tốc độ dòng chảy thích hợp từ 0,2 – 0,6m/giây.

- Đảm bảo hàm lượng oxy từ 4 – 6mg/lit, nhiệt độ 25 – 30 độ C, pH từ 7,5 – 8,3 độ mặn từ 20 - 33‰.

- Tránh xa những nơi bị ô nhiễm dầu, ô nhiễm chất thải độc hại, nước thải sinh hoạt và khu vực bến cảng nơi có nhiều tàu thuyền neo đậu.

2. Thiết kế và xây dựng lồng nuôi
- Có thể thiết kế dàn lồng có kích cỡ 8m x 8m x 3m được thiết kế thành các lồng riêng biệt như vậy mỗi dàn lồng sẽ có 4 lồng nuôi kích cỡ 4m x 4m x 3m. Như thế sẽ thuận lợi cho việc phân cỡ giống lúc thả, có thể dành một lồng trống để xử lý cá bệnh hay diệt rong tảo bẩn đóng trên lồng.

- Khung bè phải được làm bằng các loại gỗ bền chắc, chịu được mưa nắng, chịu được độ mặn và hàu, hà bám không đục phá được. Chọn vật liệu tốt để làm lồng nhằm tránh bị hư hỏng do thời gian nuôi khá dài.

- Lưới lồng cần chọn loại bền chắc, hạn chế được các loài sinh vật bám.


- Để giữ bè nổi, dùng phao bằng thùng nhựa hay thùng phuy được sơn kỹ và bố trí đều để nâng khung gỗ. Số lượng neo thường 4 cái và dây neo lớn (Ø =24) với chiều dài khoảng 30 – 50m để giữ bè cố định.

III. Chọn giống
1. Nguồn giống nuôi
- Hiện nay nguồn giống cho nuôi cá mú lồng vẫn chủ yếu là đánh bắt cá con ngoài tự nhiên, mùa vụ đánh bắt cá con thường vào những tháng đầu mùa mưa.

- Cá giống có thể vận chuyển theo nhiều phương pháp như bằng thùng có sục khí, bao nylon bơm oxy….

2. Cách chọn giống và thả giống
- Cá giống thả nuôi cần đồng cỡ, khoẻ mạnh, không bị sây sát. Cần phân cỡ cá và thả từng lồng riêng. Không thả cá to nhỏ khác nhau trong cùng một lồng dễ xảy ra tình trạng cá lớn ăn cá bé hoặc cá lớn tranh mồi của cá bé dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao. Kích cỡ giống thích hợp từ 10 – 12cm, trọng lượng khoảng 60 – 70g

- Trước khi thả cá cần xử lý cá qua formol với nồng độ 100ml/m3 trong một giờ có sục khí hay tắm cá qua nước ngọt 5 – 10 phút để loại mầm bệnh ký sinh trên cá. Nên thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.

- Mật độ thả: 15 - 25con/m3.

IV. Chăm sóc và quản lý
1. Quản lý thức ăn cho cá
- Thức ăn cho cá chủ yếu là cá tạp (cá mối, cá cơm, cá trích, cá liệt…) cá phải tươi, lựa bỏ tạp chất, loại bỏ ký sinh trùng bằng cách ngâm trong nước ngọt trước khi cho ăn để tránh gây bệnh cho cá nuôi.

- Thức ăn được rửa, cắt thành khúc phù hợp với miệng cá và cho ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm (7 - 8 giờ) và chiều mát ( 4 - 5 giờ). Cần rãi mồi chậm để cá dễ dàng bắt mồi. Cho cá ăn từ từ đến khi cá ngừng ăn thì dừng lại tránh để thức ăn rơi xuống đáy lồng. Lượng thức ăn cho ăn tuỳ thuộc vào trọng lượng cá, cá nhỏ thức ăn bằng 10% trọng lượng thân, cá lớn thức ăn từ 3 – 5% trọng lượng thân. Tuy nhiên, khi thời tiết, môi trường có sự thay đổi hoặc cá bị nhiễm bệnh cá sẽ giảm ăn vì vậy căn cứ vào tình hình hiện tại để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

- Định kỳ 10 ngày sử dụng vitamin C và khoáng trộn vào thức ăn cho ăn liên tục từ 5 – 7 ngày, để tăng khả năng bắt mồi và sức đề kháng cho cá nuôi.

2. Quản lý lồng và môi trường nuôi
- Sau một thời gian nuôi khoảng 1 tháng, lưới lồng sẽ bị các sinh vật biển bám và phá như hàu, vẹm, thủy tức, rong biển…Điều này làm hạn chế dòng chảy qua lồng, giảm lượng oxy cung cấp, tăng mầm bệnh ký sinh và dễ làm sây sát cá nuôi. Khi đó nếu kết hợp với một số nguyên nhân khác như môi trường biến động, sức khỏe cá giảm sẽ dễ làm cá nhiễm bệnh. Vì vậy nên thường xuyên cọ rữa lưới và định kỳ 1 – 2 tháng thay lưới một lần.

- Thường xuyên lặn theo dõi lồng nuôi, đáy lồng đề phòng lồng bị hư hỏng. Định kỳ phân cỡ cá nuôi và điều chỉnh mật độ nuôi thích hợp, theo dõi phát hiện bệnh kịp thời để xử lý có hiệu quả.

- Định kỳ đo các chỉ tiêu môi trường nước (Oxy, pH, nhiệt độ, độ mặn) để có biện pháp xử lý kịp thời. Khi môi trường thay đổi xấu như nước phát sáng, nhiều cặn bã, sinh vật lạ xuất hiện hay cá xung quanh bị nhiễm bệnh tiến hành treo trong lồng túi thuốc tím, để phòng bệnh cho cá.

V. Thu hoạch
Sau thời gian nuôi 9 – 10 tháng, trọng lượng đạt trung bình 0,8 - 1kg/con thì tiến hành thu hoạch. Có thể thu tỉa hoặc thu toàn bộ một lần, thao tác nhẹ nhàng tránh làm cá bị xây xác.

VI. Phòng và trị một số bệnh thường gặp
1. Phòng bệnh
Việc phòng bệnh phải được đặt lên hàng đầu trong nghề nuôi thủy sản nói chung và nghề nuôi cá nói riêng, nhất là đối với những loài ăn thức ăn tươi như cá mú. Công việc này phải tiến hành ngay từ đầu để giảm bớt rủi ro trong quá trình nuôi. Cần làm tốt những việc sau:
- Chọn vị trí cẩn thận.

- Cá giống khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, không dị hình dị tật.

- Thường xuyên theo dõi, chăm sóc cá nuôi để chuẩn đoán tình trạng sức khoẻ cá.

- Mật độ thả nuôi vừa phải, không thả quá dày.

- Không cho cá ăn quá thừa cũng như quá thiếu, thức ăn phải tươi, không có mầm bệnh.

- Loại bỏ cá chết ra khỏi lồng và tiêu hủy.

- Ngăn ngừa đich hại và vệ sinh dụng cụ thường xuyên.

2. Điều trị
a) Bệnh giáp xác ký sinh
- Bệnh này thường chủ yếu do giống Nerocila thuộc giáp xác chân đều gây ra. Chúng thường bám ký sinh vào mang cá và gây ra hoại tử, mang trở nên màu nâu

- Xử lý bệnh bằng cách dùng dung dịch formol liều lượng 200 ml/m3 tắm cho cá từ 30 – 60 phút và sục khí mạnh đồng thời phun lên lưới lồng để vệ sinh lưới.

b) Bênh giun dẹp
- Giun dẹp xuất hiện và ký sinh trên mang cá làm mang dần bị tổn thương và chuyển thành màu trắng nhạt, tiết nhiều chất nhày, cá bệnh thường tìm đến nơi có dòng chảy mạnh và hô hấp nhanh.

- Xử lý bệnh bằng cách dùng formol 200 ml/m3 từ 30 – 60 phút và sục khí mạnh hoặc tắm trong nước ngọt từ 30 – 60 phút.

c) Bệnh động vật nguyên sinh
Nguyên nhân: do nguyên sinh động vật ký sinh làm tổn thương da, vẩy và mang. Ngoài cách xử lý và tắm cá như bệnh trên, có thể dùng Zeocut sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm.

d) Bệnh do vi khuẩn
- Nguyên nhân: do nhóm Vibrio… gây ra.

- Dấu hiệu của bệnh là cá bị xuất huyết, sưng tấy da và gây lở loét.

- Trị bệnh bằng cách dùng Oxytetracyline 2 - 3g trộn vào 1kg thức ăn, cho ăn liên tục 5 – 7 ngày hoặc nhốt cá bệnh riêng và bôi thuốc trực tiếp lên vết thương.

Kỹ thuật nuôi cá mú trong lồng, Nguồn:Trung tâm Khuyên nông – Khuyến ngu Kiên Giang.

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

Video Kỹ thuật nuôi cá Rô Đầu Vuông

Video Kỹ thuật nuôi cá Rô Đầu Vuông


Chúng tôi xin giới thiệu với đọc giả Video kỹ thuật nuôi cá rô đầu vuông nhằm cung cấp thêm thông tin về Kỹ thuật nuôi cá rô đầu vuông đến bạn đọc.



Kỹ thuật nuôi cá rô đầu vuông, Nguồn: Đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long.

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Mô hình nuôi cá Lóc nuôi vèo

Mô hình nuôi cá Lóc nuôi vèo



Trong khoảng 2 năm gần đây, bà con nông dân xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ đã thu được nhiều kết quả phấn khởi nhờ vào mô hình nuôi cá lóc trong vèo. Mô hình này đã giải quyết tốt việc làm tại chỗ và là một trong những phương thức góp phần xóa đói giảm nghèo cho bà con nghèo có ít đất canh tác.

- Theo đánh giá của Chi cục Thuỷ sản Cần Thơ và những hộ dân trực tiếp chăn nuôi, đây là mô hình sản xuất khá thuận lợi và phù hợp cho những người nghèo tham gia sản xuất tăng thu nhập, góp phần tích cực cho công tác xóa đói giảm nghèo. Vì trước hết mô hình sản xuất này với phương thức đầu tư đơn giản, không cần diện tích lớn, có thể tận dụng thức ăn sẵn có và quan trọng nhất là chi phí đầu tư thấp.

- Chúng tôi tìm gặp anh Lê Văn Khanh là một trong những hộ tiên phong thực hiện mô hình nuôi cá lóc vèo ở ấp Trường Thuận, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ. Theo anh Khanh, mô hình này có nhiều thuận lợi như cá lóc khá dễ nuôi, ít bệnh và có thể tận dụng diện tích mặt nước xung quanh nhà và thức ăn sẵn có để nuôi. Đối với mô hình của anh Khanh, với diện tích 28 m2, mỗi năm anh sản xuất 3 vụ, mỗi vụ anh đầu tư khoảng 8 triệu đồng cho 1.000 con cá lóc giống và thức ăn. Sau 3 tháng rưỡi đến 4 tháng là có thể thu hoạch 400 – 450 kg với trọng lượng bình quân 450 - 500g/con. Thuận lợi của bà con chăn nuôi là được thương lái đến tận nhà thu mua nên người chăn nuôi tiết kiệm được khoảng chi phí vận chuyển. Mặc dù, giá cá lóc tuy có dao động, từng thời điểm nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao. Theo giá thị trường hiện nay là 38.000 đồng/kg thì với 3 vụ nuôi, anh Khanh có thu nhập ổn định từ 20 đến 24 triệu đồng/năm. Anh cho biết: “Trước đây gia đình tôi rất khó khăn, thu nhập từ việc cắt lúa mướn không đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày; Có lần tôi được mời tham dự lớp tập huấn kỹ thuật nuôi cá lóc trong vèo do cán bộ Chi cục Thuỷ sản Cần Thơ tổ chức. Nhận thấy đây là mô hình đơn giản, dễ nuôi lại không cần nhiều vốn nên tôi thử sức trong công việc mới mẻ này. Lúc đầu còn khó khăn về kỹ thuật, cũng may được các cán bộ của Liên Trạm thuỷ sản Ô Môn- Thới Lai-Cờ Đỏ tận tình hướng dẫn và học hỏi kinh nghiệm từ các hộ nuôi khác nên bước đầu đã gặt hái được kết quả đáng phấn phởi. Hiện nay tôi đã có đủ kinh nghiệm và nguồn vốn để tiếp tục mở rộng thêm diện tích thả nuôi. Tôi cũng đã hướng dẫn một số bà con xung quanh kỹ thuật nuôi cá lóc trong vèo và họ cũng đã thành công. Tôi hy vọng mô hình nuôi cá lóc trong vèo sẽ được nhân rộng không chỉ ấp Trường Thuận, xã Trường Thắng mà còn ở nhiều nơi khác để người dân có hoàn cảnh khó khăn có thể thoát nghèo.”

- Thành công từ mô hình cá lóc vèo góp phần đa dạng mô hình nuôi thủy sản ở xã Trường Thắng. Có thể nói, nuôi cá lóc trong vèo là mô hình đã đáp ứng được nhu cầu cải thiện cuộc sống của bà con nghèo có ít đất sản xuất, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và có thể giúp bà con nông dân vươn lên làm giàu.

Mô hình nuôi cá Lóc nuôi vèo, Nguồn: K.S Phan Hoàng Đông, Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Linh trong ao đất

Kỹ thuật nuôi cá Linh trong ao đất



I. Đặc điểm sinh học
- Cá Linh ống (Cirrhinus jullieni) thuộc giống Cirrhinus, họ Cyprinidae, bộ cá Chép Cypriniformes là một loài cá có giá trị kinh tế nhưng sản lượng cá Linh ngày càng giảm sút rõ rệt, cần phải có biện pháp để bảo vệ. Vì vậy cá Linh bị cấm khai thác vào mùa cá sinh sản từ 01/04 đến 01/06. Cá Linh ngoài phân bố ở ĐBSCL Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan cá Linh còn phân bố ở Inđônêxia và Malaysia.

- Linh là loài đặc hữu của sông Mekong, có mặt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cho đến Chiềng Không gần biên giới giữa Lào, Thái Lan và Myanma trên cả sông chính và chi lưu. Mùa vụ sinh sản của cá Linh từ tháng 5 – 7.

- Bãi đẻ của cá Linh thường ở ngã ba sông, ven cồn, nơi nước chảy Cá Linh thành thục ở chiều dài 11cm. Một cá Linh cái có chiều dài 12,9 - 20 cm có thể đẻ 23.500 - 90.500 trứng. Trứng nở thành cá bột khoảng 13 giờ ở nhiệt độ 26,8 độ C.

- Hàng năm bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 12 cá Linh từ các đồng ruộng theo các kênh rạch đổ ra sông lớn (sông Tiền, sông Hậu) rồi ngược dòng lên thượng nguồn để sinh sản. Bắt đầu từ tháng 7 cá Linh non (chiều dài từ 1,5 - 3,0 cm) theo dòng nước xuống địa phận Việt Nam theo các kênh rạch vào đồng ruộng để sinh sống.

- Đến tháng 11 - 12 cá Linh từ đồng ruộng theo kênh rạch đổ ra sông lớn (sông Tiền, sông Hậu) rồi ngược dòng lên thượng nguồn trở về sông Tonle Sap .

- Cá Linh ống trưởng thành có mình tròn, cỡ 8 - 5 cm, con lớn nhất dài 22 cm, nặng 160g. Các loài Cirrhinus chiếm ưu thế ở trung và hạ lưu sông Mekong là loài cá có tuổi đời ngắn, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên thay đổi hàng năm của sông Mekong. Cirrhinus đẻ trứng vào đầu mùa lũ, trứng và ấu trùng di chuyển theo dòng nước đến vùng ngập kiếm ăn và sinh trưởng.

- Khi bắt đầu mùa khô, chúng từ vùng ngập nước đang xuống, quay trở lại sông và bắt đầu cuộc di cư đi tìm nơi ẩn náu vực sâu trong lưu vực. Khi mùa lũ tiếp theo chúng thành thục và bắt đầu sinh sản. Thức ăn tìm được trong dạ dày cá Linh chủ yếu là mùn bã hữu cơ, phiêu sinh thực vật.

- Cá Linh Ống ngoài ăn phiêu sinh thực vật, vật chất hữu cơ thỉnh thoảng còn ăn sinh vật đáy và động vật không xương sống. Ngoài ra cá còn ăn thực vật thuỷ sinh thượng đẳng, sinh vật đáy và phiêu sinh động vật.

II. Chuẩn bị ao nuôi
- Tát cạn ao, sau đó tẩy dọn ao để tạo ra môi trường ao nuôi thuận lợi. Dùng vôi bột tẩy ao: 7 - 10kg/100m2 (Tuỳ độ phèn của đáy ao mà tăng hay giảm lượng vôi cho phù hợp). Vôi có tác dụng tiêu diệt cá dữ, cá tạp, các đối tượng địch hại, ký sinh trùng, ngoài ra còn làm xốp đáy, tạo ra sự thoáng khí của đáy. giúp cho vi sinh vật chuyển hóa đạm, lân hoạt động.

- Bón lót: làm tăng chất dinh dưỡng cho ao, gây thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao. Bón lót trước khi thả cá 3 - 4 ngày, không bón quá sớm hoặc quá muộn. Bón phân chuồng 30 - 50 kg/100m2.

- Theo kinh nghiệm ta nên sử dụng 6 - 8 kg Super Benthos cho 1.000 m2, rãi khô hoặc hòa với nước sau đó tạt đều lên khắp mặt ao, 2 - 3 ngày sau tiến hành thả tôm post / cá bột vào ương nuôi ( cách sử dụng cụ thể có trên bao bì).

- Lọc nước vào ao cẩn thận để tránh cá tạp và sinh vật hại cá vào ao. Mực nước 1,2 - 1,5m.

- Thiết lập hệ thống sục khí để cung cấp thêm oxygen cho hệ thống.

- Sau khi cho nước vào khoản 3 ngày thấy nước có màu xanh dọt chuối là thả cá được (nếu sử dụng super benthos thì chỉ cần 24h).

III. Thả giống
- Mật độ thả 500-1000 con/m2.

- Chọn mua cá linh bột ở những cơ sở sản xuất giống có uy tính, có kiểm dịch: Trung Tâm Giống Ô Môn, Trung Tâm giống An Giang. Nên vận chuyển cá lúc sáng sơm hoặc chiều mát.

- Trước khi thả nên ngâm túi đựng cá dưới ao khoản 15 – 20 phút cho nhiệt độ bên trong và ngoài ao cân bằng nhau.

- Cách thả giống: Tháo dây thun, 1 tay năm chặt miệng bao, một tay nắm góc dưới của bao. Cắm bao lật ngược xuống nước. rút bao nhanh lên để tránh cá dính vào bao. Thả cá ở khu vực cách bờ 1m, và tránh làm khuấy động nền đáy ao.

IV. Chăm sóc quản lý
- Thức ăn chủ yếu của cá linh là phiêu sinh thực vật, vật chất hữu cơ thỉnh thoảng còn ăn sinh vật đáy và động vật không xương sống. Ngoài ra cá còn ăn thực vật thuỷ sinh thượng đẳng, sinh vật đáy và phiêu sinh động vật. Vì vậy Phải đảm bảo nước ao có chất lượng tốt, đủ dinh dưỡng cho cá. Tăng dần mực nước trong ao để mở rộng môi trường hoạt động của cá.

- Trong quá trình nuôi cần tạo nguồn thức ăn tự nhiên đầy đủ, chủ yếu là ổn định màu nước xanh đọt chuối của ao nuôi. Để duy trì màu nước ao nuôi nên hiện một số phương pháp sau:
+ Định kỳ hàng tuần bón phân vô cơ ( DAP) 3 - 5kg/1.000m2.
+ Định kỳ bón phân hữu cơ ( Phân chuồng) 30 - 50kg/100m2/tuần, phân xanh bón từ 30 - 40 kg/100m2/tuần, ( Gồm các cây họ đậu: muồng tròn, đậu đen, sua đủa, điên điển, bèo hoa dâu…). Bó thành từng bó cột ở các góc ao. Ngoài ra, do cá linh nuôi trong điều kiện thâm canh nên chúng ta có thể bổ sung thêm thức ăn công nghiệp có độ đạm thấp 18 - 22%, để đảm bảo cá đầy đủ thức ăn và phát triển đồng điều.

- Cá linh có hệ thống hô hấp kém, không có cở quan hô hấp phụ và nuôi với mật độ cao nên nước ao nuôi cần sạch sẽ và đủ dưỡng khí vì vậy phải thay nước khi nước bẩn và bố trí hệ thống sục khí để cung cấp Oxy cho cá.

- Thường xuyên kiểm tra hệ thống sục khí để đảm bảo đủ oxy cho cá. Trong trường hợp cúp điện hay hệ thống sục khí hư hỏng có thể tiến hành thay nước ao hay sử dụng zeolite tạo oxy đáy cho ao.

V. Thu hoạch
- Tùy theo nhu cầu của thị trường mà ta có thể thu hoạch theo kích cở cá hương (1000 con/kg hay 500,200 con/kg…..).

- Sau khi nuôi 1 – 2 tháng ta có thể thu hoạch tùy theo kích cở cần bán. Tỉ lệ sống bình quân 50%. Theo Ths. Phạm Thị Thu Hồng: Người nuôi cần quan tâm đến khâu quản lý và chăm sóc để đạt hiệu quả cao:
+ Mật độ 150 – 200con/m2 là thích hợp. Cá linh sống ngoài tự nhiên là loại cá cần oxy nhiều, thích sống ở nơi nước chảy, chỉ cần đem lên bờ khoảng 3 phút là cá sẽ chết. Nhưng, nếu ban đầu thả cá giống vào trong vèo lưới rộng 10 - 15m2 để tiện lợi chăm sóc sẽ giúp cá nuôi thích nghi với môi trường, oxy thấp và không có nước chảy thì cá sẽ sống tốt và phát triển nhanh. Cá linh dễ cho ăn, cá giống ăn chủ yếu là trứng vịt khuấy đều trộn với bột đậu nành giống như cá tra. Khi cá khoảng 15 - 20 ngày tuổi thả cá ra ao hồ, tập cá ăn cám xay nhuyễn trộn với bột cá với liều lượng 7 - 10% trong lượng cá thả nuôi...
+ Cá gần 1 tháng tuổi cho ăn cá biển xay nhuyễn trộn với cám, với lượng cá tạp chiếm từ 40 - 50%, mỗi ngày cho ăn 2 lần sáng và chiều. Hàng tuần có thể trộn thêm vitamin C để tăng sức đề kháng cho cá trong giai đoạn thời tiết chuyển mùa. Để giảm chi phí thức ăn, người nuôi nên bón phân hữu cơ đã ủ hoai định kỳ hàng tuần với liều lượng 10 - 15kg/100m2 để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá nuôi.

Kỹ thuật nuôi cá Linh trong ao đất, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Song - cá Mú

Kỹ thuật nuôi cá Song - cá Mú


Cá song thuộc loài cá vùng nước ấm, phân bố ở biển nhiệt đới, á nhiệt đới, phân bố rất ít ở vùng ôn đới. Vùng biển Thái Bình Dương có tới 37 loài, Trung Quốc có 31 loài, Nhật Bản có 25 loài, Đài Loan có 27 loài, Hồng Kông có 17 loài.

- Ở nước ta cá song (còn gọi là cá mú) có trên 30 loài (theo Viện Hải Dương Học Nha Trang), trong đó có các loài có giá trị kinh tế, giá trị xuất khẩu cao là:
1. Cá song đỏ Epinephelus akaara
2. Cá song hoa nâu E. fuscoguttatus
3. Cá song vạch E. brunneus
4. Cá song chấm tổ ong E. merra
5. Cá song mỡ E. tauvina
6. Cá song đen E. heeberi
7. Cá song cáo E. megachir
+ Vùng biển vịnh Bắc bộ có cá song mỡ, song đen, song cáo.

+ Vùng biển miền Trung có cá song đỏ.

+ Vùng biển Đông và Tây Nam bộ có song đỏ, song mỡ.

- Cá song thường sống ở các hốc đá, các áng, vùng ven bờ quanh các đảo có rạn đá san hô, thường ở độ sâu từ 10 - 30m, chịu đựng được độ mặn rộng từ 11 - 41‰. Phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 22 – 28 độ C thích hợp nhất là từ 25 – 28 độ C, ở nhiệt độ 18 độ C cá bắt đầu ít ăn, ở nhiệt độ 15 độ C, cá gần như ngưng hoạt động.

- Cá song thuộc nhóm cá dữ ăn mồi động vật. Thường rình bắt mồi ở nơi yên tĩnh. Cá song tranh ăn dữ dội, con lớn lấn át con bé, khi đói thiếu mồi ăn, chúng ăn lẫn nhau. Đặc tính này thể hiện ngay ở giai đoạn cá con, vì vậy trong quá trình nuôi phải thường xuyên san cỡ đồng đều nuôi riêng.

- Cá song đẻ trứng nổi, có hạt dầu ở trong. Mùa đẻ của cá song vùng phía Bắc vào tháng 5,7. Vùng miền Trung vào tháng 12,3. Cá song thuộc nhóm cá chuyển giới tính đực cái, khi còn nhỏ đều là cá cái, khi lớn đều là cá đực như cá song mỡ, cá dưới 50cm đều là cá cái, khi đạt 70cm trở lên chuyển thành cá đực.

- Cá song mới nở ăn động vật phù du. Cá lớn ăn tôm, cá con. Cá thường rình bắt mồi sống, không ăn mồi chết, không ăn mồi chìm ở đáy. Nuôi trong lồng thường cho ăn thức ăn hồn hợp. Dùng thịt nhuyễn thể, thịt cá, cua tươi xay nhuyễn hoặc băm nhỏ để cho ăn.
Nguồn cá song giống được khai thác từ tự nhiên. Với cá cỡ nhỏ từ 1-2cm gọi là “cá hạt dưa”. Ương nuôi lên giống 8-12cm nuôi trong 8-10 tháng đạt cỡ trên 500g thì xuất bán.

II. Kỹ thuật ương cá giống
Cá song giống cỡ 9-12cm bắt trong tự nhiên đưa vào lồng nuôi thành cá thịt thương phẩm thường là quy cỡ không đều, số giống gom không tập trung, thời vụ thả giống kéo dài. Mặt khác, quá trình khai thác vận chuyển cá thường bị sây sát. Trong những năm gần đây, ngư dân miền Trung đã có kinh nghiệm gom cá song nhỏ, “cá hạt dưa” cỡ 1-2cm để ương thành cá giống lớn, cung cấp số lượng giống nhiều, tập trung đúng thời vụ, cá đồng cỡ, khoẻ mạnh cho các lồng nuôi cá thịt.

1. Ương cá giống trong ao
- Địa điểm làm ao: Chọn vùng bãi triều đáy là cát bùn, nước có độ mặn từ 10‰ trở lên, có điều kiện thay nước thuận lợi để làm ao.

- Diện tích ao: Từ 100 - 500m2, mực nước sâu từ 1 - 1,5m. Tuỳ theo nguồn giống thu được thường xuyên ít hay nhiều để xác định diện tích ao.

- Cống ao: Ao có cống lấy và tháo nước để thường xuyên có thể thay nước. Phía trước cống đào sâu hơn đáy ao từ 25 - 33cm với diện tích bằng 1/10 - 1/15 diện tích đáy để khi tháo nước thu hoạch cá sẽ tập trung ở đây.

- Vệ sinh ao, bón lót: Bón lót: 100m2 ao, dùng 7 - 15kg vôi để diệt cá tạp, sinh vật có hại và cải tạo nền đáy ao, ao chua có thể dùng nhiều vôi hơn. Để khi thả cá xuống ao cá có mồi ăn ngay, tẩy vôi được một ngày sau lấy nước vào ao (20 - 30 cm), bón lót phân chuồng cứ 100m2 ao bón 30 - 40kg phân hữu cơ, sau đó dâng dần mức nước lên, 3 ngày sau thả cá.

- Mật độ thả: 30 - 50 con/m2

- Cho ăn, chăm sóc, quản lý: Sau khi bón lót, hàng tuần bón thúc một lần phân chuồng với lượng 10 - 15kg/100m2. Hàng ngày cho ăn thức ăn thịt nhuyễn thể, cá tươi, tôm tươi nghiền nhuyễn, có thể vớt ruốt tươi rửa sạch cho ăn. Ngày cho ăn 3 - 4 lần, lượng cho ăn bằng 5 - 10% trọng lượng cá, cần theo dõi: sức ăn của cá, thời tiết để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày. Khi cho ăn vãi từ từ, hạn chế thức ăn chìm xuống đáy, cho ăn ở 2 - 3 điểm. Hàng ngày thay khoảng 20-30% nước ao. Theo dõi hoạt động của cá.

- Thu hoạch: Ương được 2 - 3 tháng cá đạt cỡ 9 - 12cm bắt đầu thu. Lúc đầu có thể thả bóng, lờ, ống nhựa để thu tỉa, sau đó rút nước thu ở khu tập trung.

2. Ương giống trong lồng
- Chọn vùng ương: chọn vùng ven bờ eo, vịnh, đầm áng khuất gió, sóng nhẹ, yên tĩnh, nguồn nước không bị ô nhiễm, điều kiện chăm sóc quản lý thuận tiện.
+ Độ mặn của nước dao động từ 10‰ trở lên.
+ Độ sâu nơi đặt lồng khi triều kiệt là 2m. Nhiệt độ nước từ 20 độ C trở lên, thích hợp nhất là 25 - 28 độ C.

- Thiết kế lồng nuôi:Dùng gỗ chịu mặn có đường kính 8 - 10cm, dài 4 - 4,5m làm cọc đống sâu xuống nền đáy theo hình chữ nhật hoặc hình vuông. Mỗi cọc cách nhau 1 - 2m. Đóng cọc đứng xong đóng nẹp ngang để giữ cho khung cọc vững chắc.
+ Dùng lưới nylon sợi thô (1 - 2mm) không có gút, mắt lưới nhỏ hơn chiều cao thân cá.


+ Lưới may thành giai, cột cố định trong khung gỗ. Mặt trên của giai có nắp bằng lưới mắt thưa. Đáy giai may 2 lớp lưới. Chiều cao của giai 2m khi cố định giai vào cọc phải cách đáy ít nhất 40cm, phần ngập trong nước là 1,5m, phần cao hơn mặt nước 0,5m.
+ Diện tích lồng có thể làm to nhỏ tuỳ theo nguồn giống thường xuyên gom được. Thường làm kích cỡ lồng: (4x2x2); (3x1,5x2); (10x5x2) Hoặc: (2x2x2); (3x3x3).

- Mật độ thả: 50 - 70 con/m3. Thường thả cá giống vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Trước lúc thả giống thường tắm cho cá bằng thuốc xanh malaxit (Malachite green) với nồng độ 5 - 10 ppm trong 5 - 10 phút.

- Cho ăn, chăm sóc, quản lý: Dùng thịt nhuyễn thể, cá, tôm tươi nghiền nhuyễn cho ăn, có thể vớt ruốc, tép tươi rửa sạch cho ăn.
+ Ngày cho ăn 3 - 4 lần, lượng cho ăn bằng 5 - 10% trọng lượng cá. Cần theo dõi sức ăn của cá, theo dõi thời tiết để điều chỉnh lượng cho ăn hàng ngày, khi cho ăn vãi từ từ, hạn chế thức ăn chìm xuống đáy, cho ăn ở 2 - 3 chỗ trong lồng.
+ Ương được 15 - 20 ngày phải phân cỡ san cá một lần.

- Thời gian ương: Ương khoảng 1,5 - 2 tháng sau cá đạt 8 - 10cm thì thu hoạch.

III. Kỹ thuật nuôi cá trong lồng
1. Chọn vùng nuôi
Chọn các vùng eo, vịnh, đầm, phá khuất gió, sóng nhẹ. Nước độ mặn dao động từ 10 - 33‰, nhiệt độ nước từ 20 độ C trở lên. Mức nước sâu khi triều kiệt là 1 - 2m, nguồn nước trong sạch không bị ô nhiễm bởi nước thải công nghiệp, thuốc trừ sâu... để nuôi.

2. Thiết kế lồng nuôi
a. Lồng lưới cố định
- Dùng gỗ chịu mặn có đường kính 10 -15cm, dài 4 - 4,5m đóng cọc xuống nền đáy nền đáy theo hình vuông hoặc hình chữ nhật, tuỳ theo diện tích nuôi. Mỗi cọc cách nhau từ 1-2m sau khi đóng cọc, đóng các nẹp gỗ ngang để giữ cố định các cọc. Dùng lưới nylon sợi thô 1-2mm, mắt lưới 2a = 2-8cm may thành giai. Đáy giai có hai lớp lưới để bảo vệ. Nắp giai là lưới thưa và có cửa ra vào để kiểm tra.

- Giai được cố định trong khung gỗ bởi các dây giềng ở các góc. Đáy giai cách nền đáy 40-60cm, phần ngập trong nước là 1,5m, phần cao hơn mặt nước là 0,5m. Mỗi giai có thể tích 30-70m3.

b. Lồng lưới trên bè
Kết cấu lồng nuôi yêu cầu như đối với lồng lưới cố định. Về kích cỡ, lồng nuôi cá giống, thường là 2 x 2 x 2m hoặc 3 x 3 x 3m. Kích cỡ lồng nuôi cá thịt thường là 3 x 3 x 3m hoặc 4 x 4 x 3m.
* Cấu trúc bè nuôi
- Khung bè: Là gỗ ván xẻ chịu nước thuộc nhóm gỗ 2 hoặc 3. Ván xẻ dài khoảng 8m, rộng 0,20m, dày 1,2 - 1,5cm. Ván gỗ ghép nối với nhau bằng bu lông 10 -12cm, 12 thanh xà ghép lại thì được một ô lồng gồm 4 lồng lưới (hình 1a, b). Nhiều ô lồng ghép lại thành bè.

- Phao: Khung bè được nâng nổi lên trên mặt nước nhờ hệ thống phao. Phao là thùng nhựa hoặc phao xốp.
Phao 200 lít dùng 5 - 7 chiếc cho một ô lồng. Phao xốp 80x60x50cm có sức nổi 250kg. Phao buộc dưới gỗ ván

- Neo: 4 góc bè có neo cố định (25 - 50kg/cái), dùng dây nylon Æ = 25 - 30mm để neo bè.
+ Trên bè dành một diện tích nhất định làm kho chứa (thức ăn, lưới cụ, máy bơm...), nhà làm việc (kiểm tra môi trường, dịch bệnh, theo dõi thời tiết...) và lán bảo vệ.
+ Bè nuôi cá biển như một xí nghiệp nuôi thu nhỏ đồng thời có thể di chuyển, tổ chức nuôi ở vùng nước sâu, nuôi nhiều loài cá, nuôi nhuyễn thể (trai cấy ngọc).

c. Lồng tre
Ngư dân vùng đầm phá Tam Giang - Thừa Thiên Huế có kinh nghiệm làm lồng bằng tre là nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương. Giá thành làm lồng hạ. Nan tre dày 1cm, rộng 3 - 4cm, dài 1,5 - 2m tuỳ theo độ sâu nơi đặt lồng, chiều cao của nan có thể từ 1,5 - 2m.

- Lồng làm theo hình tròn có đường kính 2,5 - 2,8m, cao 1,5m. Các nan tre bện cước Æ = 0,18cm, nan cách nan 1,2cm, mỗi đường bện cách nhau 20cm, gồm 3 đường bện, đáy lồng là sạp tre đan khít.

- Nắp lồng là một cửa rộng kích thước 60 x 60cm để ra vào kiểm tra bên trong.

- Có nơi làm lồng theo hình bầu dục, lồng cao 0,9 - 1,8m. Đáy lồng là sạp tre, nắp lồng bằng lưới. Với lồng cao 1,8m thì phân nửa dưới lồng bằng tre cao 90cm, phần trên là lưới cao 90cm. Chính giữa nắp lưới ở trên có một ống nhựa để thả thức ăn vào lồng, không làm cửa.

d) Vị trí đặt lồng
- Đặt lồng nơi có dòng chảy nhẹ, có lưu tốc 0,2 - 0,4m/giây, mức nước sâu 2,5m. Nước sạch không bị ô nhiễm bởi nước thải công nghiệp, hoá chất độc hại.

- Lồng được treo trên 4 cọc, cách đáy 0,4 - 0,5m, cách mặt nước 0,3 - 0,4m.

3. Vận chuyển giống
a. Xử lý cá trước khi vận chuyển:
- Xả hơi trong bong bóng cá: Cá song giống khai thác ở độ sâu khoảng 8m nước. Vì vậy để giảm chênh lệch về áp suất bên ngoài với cơ thể cá, phải dùng kim châm chọc vào bóng hơi để xả hơi trong bóng hơi cho cá thích nghi với áp suất bên ngoài. Dùng kim chọc qua gốc vây ngực với độ nghiêng 1,5 - 2,5cm (tuỳ cỡ cá to nhỏ) về phía lưng, thấy có tiếng xì hơi là được.

- Nuôi tạm: Cá bắt được nuôi tạm 1 - 2 tuần trong lồng hoặc thuyền thông thuỷ 1 - 2 tuần rồi vận chuyển. Hai ngày đầu không cần cho ăn, từ ngày thứ 3 bắt đầu cho ăn, lúc đầu cho ăn ít, sau tăng dần. Trong lúc vận chuyển phải cho cá nhịn ăn 2 ngày và phải tắm phòng bệnh cho cá.

- Tắm phòng bệnh:
+ Tắm trong dung dịch Furacin 0,05% từ 3-5 phút.
+ Tắm trong dung dịch KMnO4 0,15 ppm 5-10 phút.
+ Tắm nước ngọt sạch 10-15 phút.
+ Loại bỏ những con bị sây sát nặng, cơ thể yếu.

b. Vận chuyển
- Vận chuyển bằng túi nylon: Thời gian vận chuyển dưới 12 giờ có thể dùng túi nylon. Mật độ: với cỡ cá 4cm - cá tráp đóng 400 - 600 con/ túi; cá vược 200 - 300 con/túi.

- Vận chuyển bằng thuyền thông thuỷ: thời gian vận chuyển khoảng 24 giờ dùng thuyền thông thuỷ để vận chuyển. Thời gian quá 24 giờ phải thay nước trong thuyền. Nước dùng để thay phải đảm bảo có độ mặn, nhiệt độ phù hợp với nước trong thuyền. Mật độ vận chuyển: Cá song cỡ 100 - 150g/con thả 70 - 75 con/m3. Cá tráp, cá vược cỡ 4cm thả 1.000 - 1.500 con/m3.

4. Giống nuôi
Chọn giống khoẻ mạnh, sắc cá đẹp, không xây sát.

5. Mật độ thả
Phân loại nuôi theo từng lồng với cỡ đều nhau.
- Vùng Thừa Thiên Huế thường nuôi cá song ghép với cá hồng, cá dìa, mật độ nuôi từ 30 - 45 con/m3. Lồng 6 - 9m3 ương 200 - 300 con/lồng. Trong đó cá song cỡ 8cm, nặng 70 - 100g, cỡ 12cm nặng 150g, cá dìa cỡ 2cm nặng 1,3g, cá hồng 6cm nặng 50g.

- Vùng sông Cầu nuôi trong lồng lưới chỉ nuôi cá song và thả với mật độ thưa: cỡ 8 - 12cm thả 15 - 30 con/m3.

- Vùng có nhiệt độ thấp phía Bắc, thả với mật độ dày hơn 40 - 50 con/m3, trung bình 1m3 nước có thể thả 8 - 12kg cá giống. Thường thả giống vào sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi cho cá vào lồng cần tắm phòng cho cá bằng thuốc xanh (Malachite green) với liều lượng 5 - 10g/m3 nước, tắm trong 15 - 20 phút.

6. Cho ăn
- Cho ăn nhuyễn thể tươi, cua, ghẹ, cá băm nhỏ, lượng cho ăn bằng 5 - 10% trọng lượng cá. Ngày cho ăn hai lần vào sáng sớm và chiều tối. Khi cho ăn vãi thức ăn chậm, hạn chế thức ăn chìm xuống đáy, cho ăn ở 2 - 3 điểm hoặc rải đều khắp lồng.

- Cá đói thường lao lên mặt nước bắt mồi, cá no, thời tiết thay đổi đột ngột thường ít ăn. Những ngày mưa bão có thể cho ăn một lần trong ngày. Hệ số thức ăn (tươi) với cá song thịt là 7,2 - 11,6.

7. Chăm sóc, quản lý
- Hàng ngày theo dõi sức ăn, hoạt động của cá và môi trường nước. Khoảng 3 - 5 ngày cọ rửa lưới một lần cho thông thoáng nước, tăng sức nổi của lồng. Với lồng tre 10 -15 ngày cọ rửa đáy lồng một lần.

- Hàng tháng phải phân lọc con lớn trội nuôi riêng do cá mú tranh ăn mạnh, con lớn át con bé. Khi thiếu mồi ăn, đói, chúng ăn lẫn nhau.

- Vào những ngày khí áp thấp, cá bị ngột phải dùng mái chèo khuấy nước, chùi rửa lồng cho thông thoáng.

- Khi có dự báo bão phải di chuyển bè đến nơi an toàn. Buộc chặt lưới, che nắp lồng và gia cố thêm neo bè..

IV. Phòng và trị bệnh
1. Phòng bệnh
- Trước lúc thả giống nuôi phải tắm trong dung dịch xanh Malaxit (Malachite green) với nồng độ 5 - 10 ppm (5 - 10g thuốc cho 1m3 nước). Tắm trong 10 - 15 phút.

- Không cho cá ăn tất cả các loại thức ăn đã ươn thối, đã lên mốc

- Vệ sinh lồng lưới Trung bình một chu kỳ nuôi phải thay lưới, làm vệ sinh lưới 3 - 4 lần. Lưới thay ra giặt sạch rồi ngâm vào nước ngọt cho chết hết rong rêu, đập lưới cho rong rêu rụng ra và rửa lại bằng nước ngọt cho sạch rồi ngâm vào dung dịch nước rửa (100 lít nước + 1 kg sulfat đồng) trong 2 - 3 ngày. Rửa lại bằng nước ngọt và phơi khô. Vợt vớt cá và các dụng cụ vận chuyển cá phải thường xuyên làm vệ sinh sạch sẽ.

2. Một số bệnh thường gặp
a) Bệnh đốm đỏ, xung huyết: do vi khuẩn gây nên.
- Dấu hiệu bệnh: thân cá, gốc vây ngực, vây lưng, đuôi có nhiều đốm đỏ, lở loét, hậu môn sưng đỏ, con bị nặng rụng vẩy, có nhiều chỗ lở loét và chết.

- Chữa trị: Tắm cho cá trong dung dịch thuốc kháng sinh oxy tetraxycline với liều lượng 10g/m3 nước trong 5 - 10 phút.
+ Dùng dung dịch thuốc tím KMnO4 (10 ppm) rửa sạch vết thương cho cá, sau đó bôi thuốc mỡ tetraxycline.
+ Điều trị liên tục trong 3 ngày. Trộn thuốc oxy tetraxycline với liều lượng 0,5g/kg thức ăn cho ăn trong 7-8 ngày.

b) Bệnh hoại sơ: Sau khi đánh bắt hoặc vận chuyển cá bị nhiễm trùng vết thương. Vết thương có mủ trắng, thịt bị loét, lan rộng ra toàn thân. Cá bỏ ăn, bơi lờ đờ rồi chết.
* Cách phòng trị: tắm trong dung dịch oxy tetraxycline 25ppm 5 - 10 phút, mỗi ngày một lần.
- Rửa vết thương bằng dung dịch Furacin 0,05% 3 - 5 phút, cách một ngày tắm một lần.

- Rửa vết thương bằng dung dịch KMnO4 0,01%, sau đó lau khô và bôi mỡ tetraxycline vào vết thương.

- Trộn sulfamid vào thức ăn: 100 - 200mg sulfamid cho 1kg cá hoặc 20 - 50mg thuốc kháng sinh cho 1kg cá.

c)Bệnh vi khuẩn đường ruột: Do vi khuẩn Aeromonas gây nên. Cá bỏ ăn, bơi lờ đờ, ruột sưng to, cá bị nặng chảy máu ruột rồi chết.

Cách phòng trị: Trộn thuốc vào thức ăn cho cá ăn 5 - 7 ngày. Liều dùng 100-200mg sulfamid cho 1 kg cá, hoặc 20 - 25mg thuốc kháng sinh cho 1kg cá.

* Bệnh đốm trắng: Do tiêm mao trùng Ciliata gây nên. Đu và mang cá có nhiều nhớt, cá khó thở bơi lờ đờ trên mặt nước. Bệnh lây lan nhanh và gây chết nhiều.

Cách phòng trị: Ngâm cá trong dung dịch 2ppm sulfat đồng pha nước biển trong 2 giờ. Mỗi ngày ngâm một lần cho đến khi khỏi bệnh.

- Ngâm cá trong nước ngọt 3 ngày liền, mỗi ngày một lần, mỗi lần ngâm 4 - 5 phút.

- Ngâm cá vào dung dịch Chlorine hoặc KMnO4 5 - 8 ppm pha với nước ngọt. Ngâm trong 2 - 3 phút, cách ngày làm một lần.

V. Thu hoạch
Nuôi được 6 - 8 tháng sau cá đạt 500 - 800g/con thì thu hoạch. Cần thu hoạch trước mùa lạnh vì ở nhiệt độ 18 độ C cá ngừng ăn, không lớn.

Kỹ thuật nuôi cá sông - cá mú, Nguồn: Agriviet.