Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Ao - Cá Nước Ngọt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Ao - Cá Nước Ngọt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Bống Cát

Kỹ thuật nuôi cá Bống Cát


Kỹ thuật nuôi cá bống cát by DĐNN | Ky thuat nuoi ca bong cat

1. Chuẩn bị ao nuôi
- Ao nuôi cá bống cát là những ao đất thông thường. Ở vùng ven biển có thể sử dụng ao nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh hoặc ao nuôi quảng canh để nuôi luân canh cá bống cát. Vùng làm muối có thể luân canh nuôi cá ống kèo trong ruộng muối vào mùa mưa khi nước bị giảm độ mặn không sản xuất được muối. Từ những kinh nghiệm thực tế nuôi cá bống cát ở các địa phương cho thấy, ao nuôi có diện tích thích hợp nhất từ 1.000 – 2.000 m2.

- Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ như cá chẽm, cá nâu, cá rô phi và tất cả các loài cá, các loài địch hại khác. Nên dùng rễ dây thuốc cá (Derris elliptica Benth) để diệt tạp, với liều lượng 1kg rễ tươi cho 100m3 nước ao. Cách làm như sau: Để nước trong ao còn độ sâu 8 – 10cm và tính toán thể tích nước có trong ao, rễ dây thuốc cá đập dập, ngâm trong nước 5 – 6 giờ rồi vắt lấy nước, hòa loãng, sau đó té đều khắp mặt ao. Tất cả cá sẽ chết hết và vớt đi rồi tháo hết nước hoặc bơm cạn ao để phơi đáy.

- Cày hoặc xới đáy ao 1 lớp đất mỏng (5 – 7 cm) để đáy ao thoáng khí, tạo điều kiện cho sinh vật đáy phát triển làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá.

- Bón lót cho ao bằng phân hữu cơ, liều lượng 20 – 30 kg/100m2 ao.

- Rải vôi bột xuống đáy ao để hạ phèn, diệt tạp, diệt các mầm bệnh, lượng dùng 8 – 12kg/100m2, sau đó có thể xới đảo bùn đáy để hoà trộn vôi và phân hữu cơ.

- Ao cần phơi đáy 2 – 3 ngày. Những ao ở vùng bị nhiễm phèn thì không phơi đáy
Những ao đã nuôi tôm sú trước đó thì không cần bón lót phân hữu cơ, chỉ nên diệt tạp và cá dữ bằng rễ dây thuốc cá, rải vôi, hạ phèn và diệt mầm bệnh trong đáy ao.

- Lấy nước vào ao qua lưới chắn lọc để tránh địch hại và cá dữ, cá tạp lọt vào ao ăn hại cá và tranh giành thức ăn với cá nuôi. Khi mức nước đạt 0,3 – 0,4m thì có thể thả cá giống. Những ngày sau đó tăng dần mức nước ao cho đến khi đạt theo yêu cầu (0,8 – 1m).

2. Mùa vụ nuôi
Mùa vụ nuôi bống cát từ tháng 4 - 5 khi bắt đầu có con giống tự nhiên, ngoài ra người nuôi còn sử dụng ao nuôi tôm để nuôi bống cát sau khi nuôi tôm vụ 1 (vào tháng 7 - 8).


3. Kích cỡ và mật độ thả giống cá nuôi
- Kích cỡ cá giống: Nên chọn cá giống khoảng 3 – 5cm hoặc 4 – 6cm, cá giống ương nuôi trong ao là tốt nhất vì sẽ có kích cỡ đồng đều hơn, khoẻ hơn vì đã thích nghi với điều kiện trong ao. Chọn cá khoẻ mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không bị nhiễm bệnh, màu sắc tươi sáng, có nhiều nhớt.

- Mật độ thả nuôi: Tuỳ theo điều kiện ao, khả năng quản lý chăm sóc và cỡ cá, có thể thả nuôi với mật độ 30 – 60 con/m2, trung bình 50 con/m2. Nếu cỡ cá nhỏ (3cm) nên thả mật độ cao hơn so với cỡ cá lớn (5 – 6cm) để trừ hao hụt trong khi nuôi. Nếu điều kiện quản lý và kiểm soát chất lượng nước chủ động, có thể tăng mật độ nuôi lên cao hơn 60 con/m2.

4. Chăm sóc và quản lý ao nuôi
a. Thức ăn
- Cá bống cát có tính ăn tạp, ngoài thức ăn tự nhiên có trong ao như phù du động thực vật, sinh vật đáy, rong tảo sống bám, mùn bã hữu cơ… cá còn ăn được các thức ăn do con người cung cấp như ăn thức ăn chế biến và thức ăn viên công nghiệp.

- Để duy trì thức ăn tự nhiên, phải định kỳ bón thêm phân hữu cơ đã ủ hoại 10 – 15 kg/100m2/tuần hoặc 100 – 150g phân vô cơ (DAP, NPK)/tuần. Thức ăn chế biến gồm cám gạo (60 – 70%) và bột cá (30 – 40%) được trộn đều và nấu chín, trộn thêm premix khoáng và vitamin A, D, E, C (tổng cộng 0,2 – 0,3% tổng trọng lượng thức ăn). Hàm lượng đạm trong thức ăn dao động từ 25% ở 2 tháng đầu, sau đó giảm dần xuống 22% rồi 20% ở tháng thứ 3,4 và 18% cho hai tháng nuôi cuối. Khẩu phần ăn 4 – 6% trọng lượng thân/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều mát.

- Cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp cần phải chọn loại kích cỡ thức ăn phù hợp với độ lớn và kích thước miệng để cá có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả nhất. Hàm lượng đạm trong thức ăn cũng dao động từ 25 – 28%, giảm dần theo tuổi của cá. Khẩu phần ăn thức ăn viên công nghiệp từ 1 – 1,5% trọng lượng thân/ngày và cho cá ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát.

- Ngoài ra, trong thời gian nuôi, thức ăn nên có bổ sung thêm một số loại men tiêu hoá nhằm kích thích cho cá ăn ngon và tiêu hoá thức ăn tốt hơn tránh hiện tượng cá bị chướng bụng, đầy hơi.

b. Quản lý ao nuôi
- Quản lý chất lượng nước:
+ Nước ao cần được chủ động điều chỉnh tăng cao hoặc giảm thấp phù hợp với các giai đoạn phát triển của cá nuôi. Giai đoạn hai tuần đầu mới thả cá giống, mực nước ao cần đạt 0,4 – 0,5m, sau đó tiếp tục dâng từ từ, mỗi tuần cao hơn 0,2m cho đến khi mức nước đạt tốt đa.
+ Theo dõi mực nước hàng ngày, kiểm tra các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá của nước ao như nhiệt độ nước, pH, độ trong, độ mặn. Kiểm tra bờ và cống ao đề phòng bờ bị rò rỉ do cua còng đào hang, lưới chắn bị thủng (do bị mục hoặc cua còng kẹp làm rách lưới). Vào mùa mưa, độ mặn nguồn nước cấp và nước trong ao có xu hướng giảm dần, chú ý độ mặn của nước cấp cho ao phải tương đương hoặc không quá chênh lệch với độ mặn nước ao để tránh cá bị sốc. Độ mặn của nước ao nuôi cá bống cát, dù vào mùa mưa cũng không nên để quá thấp dưới 30%0. Định kỳ mỗi tuần thay nước 1 lần, mỗi lần khoảng 30% lượng nước ao. Nếu nước ao bị nhiễm bẩn, màu nước xanh quá đậm hoặc chuyển màu nâu, có mùi hôi thì cần phải thay ngay nước mới trong sạch.

- Phòng trừ địch hại:
+ Có nhiều loài địch hại săn bắt và ăn thịt cá bống cát như chim cồng cộc, rắn nước biển (con đẻn), cá nâu, cá rô phi, cá bống mọi, bống cát…Để phòng trừ địch hại, khâu quan trọng khi cải tạo ao là phải tìm diệt hết mọi cá tạp, cá dữ, khi lấy nước vào ao lúc cấp nước lần đầu hoặc các lần thay nước định kỳ, phải chắn lọc kỹ, không để cá nâu và rô phi, bóng mọi, bóng cát nhỏ lọt vào ao qua đường cấp nước. Đối với chim cồng cộc, nên đặt các bù nhìn trên bờ ao hoặc treo dây ngang dọc trên mặt ao có gắn các ống bơ (lon) sữa bò nhằm tạo ra tiếng kêu để xua đuổi chim. Có thể dùng ná (giàng thun) để bắn chim và đuổi chim cũng có hiệu quả.
+ Ngoài ra, để bắt các loài cá bống cát, bống mọi, có thể điều tiết mực nước trong ao (dâng cao sau đó hạ thấp 5 – 10cm) khi đó các loại cá bống mọi, bống cát có thể nằm lại ở phần mái bờ mà nước đã rút và ta dùng vợt thu gom chúng lại.

5.Thu hoạch cá nuôi
- Sau 5 - 6 tháng nuôi, cá bống cát có thể đạt trọng lượng trung bình là 20-30 g/con (30-50 con/kg), tuỳ theo giá cả thị trường, người nuôi chọn thời điểm để thu hoạch. Theo kinh nghiệm của nhiều ngư dân, việc thu hoạch cá bống cát có nhiều cách, có thể dùng lưới kéo, nhưng cách này không thể thu hoạch hết cá trong ao. Ngư dân lợi dụng đặc tính thích bơi ngược nước của cá bống cát dùng một loại dụng cụ là “xà lú” để bắt cá chạy ngược nước thì có hiệu quả hơn thu triệt để hơn. Trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày, cần giữ cho môi trường ao nuôi thật ổn định. Trước khi thuỷ triều cường thì tháo hoặc tát bớt nước ao, khi bắt đầu thuỷ triều cường thì đưa nước vào ao. Sự chênh lệch mực nước sẽ kích thích cá bống cát bơi ngược dòng nước chui vào trong xà lú. Sau mỗi đợt thu hoạch lại tát cạn ao hơn và tiếp tục cho nước thuỷ triều vào ao để bắt cá cho đến khi ao cạn hoàn toàn và thu hết cá.

- Ngoài ra để thu hoạch những cá còn “ngoan cố” không chịu ngược nước, ngư dân dùng dây thuốc cá với liều lượng thấp rải xuống ao nhằm làm cho cá phải ngoi lên mặt nước và dùng lưới để kéo, nhưng cách bắt này làm cho cá dễ chết, bán không được giá, thường để phơi làm khô cá bống cát.

- Tỷ lệ sống của cá thương phẩm nuôi bằng con giống tự nhiên hiện nay còn chưa ổn định. Theo kết quả khảo sát từ những hộ nuôi cá bống cát tại vùng Vĩnh Châu - Bạc Liêu, Long Phú (Sóc Trăng) và Bến Tre, cho thấy tỷ lệ sống cá nuôi dao động trung bình từ 15 - 50 %. Một thực tế là con giống thu từ tự nhiên thường có tỷ lệ lẫn giống các loài cá khác, có khi lẫn giống tới 30%.

- Năng suất nuôi trung bình ở các địa phương hiện nay đạt trong khoảng 1.000 – 2.000kg/ha. lợi nhuận mang lại do nuôi cá bống cát từ vài triệu đồng đến hàng chục triệu đồng/ha.

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

Sinh sản nhân tạo thành công cá Anh Vũ

Sinh sản nhân tạo thành công cá Anh Vũ


Sinh sản nhân tạo thành công cá anh vũ by Báo NNVN | Sinh san nhan tao ca anh vu

Cá anh vũ (Semilabeo obscorus) là loài cá đặc hữu của vùng Hoa Nam-Trung Quốc và của Việt Nam. Thịt cá mềm, ít xương dăm, thơm ngon, được coi là cá tiến vua, giá bán cao nhất trong các loại cá nước ngọt hiện nay (300.000 - 400.000đ/kg) nhưng muốn ăn phải đặt trước cả tháng, thậm chí cả... năm vì không có hàng.


- Vì vậy đề án ''Bảo tồn, tái tạo và phát triển nguồn gen cá anh vũ Semilabeo obscorus (Lin 1981)'' thực hiện tại Trung tâm Quốc gia giống thuỷ sản nước ngọt miền Bắc (Phú Tảo, Gia Lộc, Hải Dương), trực thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1 với mục tiêu nhằm phục hồi nguồn gen cá anh vũ quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng và phát triển loài cá này thành đối tượng nuôi. Cá anh vũ thu mua từ Tuyên Quang về được bố trí nuôi vỗ trong bể xi măng 50m3 có vòi phun nước tạo thành mưa từ xung quanh xuống và nước chảy ngầm dưới đáy bể. Cá được cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp viên Cargill tỉ lệ đạm 26%, xay nhỏ trộn với bột mì làm chất dính. Thời gian nuôi vỗ từ tháng 11/2005 đến tháng 3/2006. Tổng số lượng đàn cá bố mẹ đưa vào nuôi vỗ là 316 con với trọng lượng trung bình 350g/con.

- Trong thời gian nuôi vỗ loại thức ăn cho mỗi bể được sử dụng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả của từng công thức thức ăn tới sự thành thục của đàn cá bố mẹ. Ba loại công thức thức ăn được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần lặp cho ăn 10% gồm: 100% thức ăn công nghiệp (TN1), thức ăn công nghiệp kết hợp với thức ăn tự nhiên tỷ lệ 1:1 (TN2) và thức ăn công nghiệp kết hợp với thức ăn tự nhiên tỷ lệ 1:5 (TN3). Khi đến độ trưởng thành, cá được cho dùng 2 loại kích dục tố gồm RLH-A + Dom và HCG, tiêm 2 lần. Tiêm liều khởi động: 1/3 số lượng thuốc; liều quyết định: 2/3 lượng thuốc cần tiêm. Lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 cá cái, tiêm 1 lần. Tiến hành tiêm liều khởi động cho cá và liều quyết định sau liều khởi động khoảng 6 tiếng. Kiểm tra thấy cá bắt đầu rụng trứng thì tiến hành vuốt trứng, sẻ vào bát và tiến hành thụ tinh nhân tạo. Sau khi thụ tinh cho trứng xong đưa trứng ra các dụng cụ ấp trứng. Trứng sau khi được thụ tinh được đưa vào ấp trong 3 dụng cụ gồm: Khay ấp trứng cá rô phi, ấp trong bình tôn hình nón nhỏ vẫn dùng cho ấp cá chép hoặc ấp trong bát (ấp tĩnh). Phương pháp sử dụng bình ấp trứng cá chép cho việc ấp trứng cá anh vũ đem lại hiệu quả tốt nhất với tỷ lệ ra cá bột cao (35,8%) và tỷ lệ dị hình thấp tương đương các loài cá khác khoảng 2,8%. Mùa vụ cá thành thục và tham gia sinh sản vào tháng 4. Có thể sử dụng các loại thức ăn như lòng đỏ trứng gà, bột đậu tương để ương nuôi cá anh vũ trong giai đoạn cá bột lên cá hương đạt tỷ lệ sống trên 80% và cá lớn nhanh.

- Nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công mở ra triển vọng phát triển cá anh vũ thành đối tượng cá nuôi. Theo anh Nguyễn Hữu Ninh-Giám đốc Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc thì triển vọng của nghề nuôi cá quý rất tốt : ''Chỉ cần đặt trước, chúng tôi sẵn sàng đáp ứng nhu cầu giống cá anh vũ cho bà con với giá cả không đắt hơn nhiều so với cá thông thường.

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Kỹ thuật ương cá bột lên hương

Kỹ thuật ương cá bột lên hương


Kỹ thuật ương cá bột lên hương by ST | Ky thuat uong ca bot len huong

Sau khi nở kích thước cá bột còn nhỏ, có chiều dài thân 0,6 - 0,8 cm, hoạt động rất yếu, phạm vi ăn hẹp, khả năng hấp thụ thức ăn kém. Thời gian đầu thức ăn của loài cá bột rất giống nhau, đều ăn động vật phù du loại nhỏ. Sau 10 ngày cá lớn dần và bắt đầu phân hoá về thức ăn. Theo quan sát thực tế, từ 14 - 15 ngày trở đi cá trắm cỏ đã ăn thức ăn xanh nh ư bèo trứ ng cá, bèo t ấm; cá trôi, cá Mrigan đã ăn mùn bã hữu cơ; cá mè trắng đã ăn thực vật phù du,… Tuy sự hấp thụ thức ăn còn bị động nhưng sự đồng hoá thức ăn của cá bột còn rất mạnh.


I. Chuẩn bị ao ương
1. Lựa chọn ao ương
- Nguồn nước phải chủ động dẫn và tiêu dễ dàng. Theo qui trình ương thì thời gian đầu dẫn nước vào từ từ và nâng cao dần mực nước. Cá bột thích sống ở những vùng nước nông. Sau một thời gian cho thêm nướ c vào ao để làm cho môi trường sống của cá rộng hơn, đồng thời cải thiện trạng thái hoá học của nước.

- Chất đáy phải thích hợp: Chất đáy có tác dụng điều chỉnh độ béo của nước, nếu chất đáy tốt có độ pH trung bình 6,5 - 7,5 thì dễ dàng tạo ra nguồn nước tốt. Nếu chất đấy kém độ pH thấp hoặc rất cao thì khó gây được màu nước và phân bón cũng lãng phí. Theo kinh nghiệm thự c tế thì đất bùn là tốt nhất. Độ dày của bùn từ 20 - 25cm là vừa, nếu quá dày thì dễ gây ra chất độc và trở ngại chi việc kéo lưới.

- Diện tích và độ sâu vừa phải: Ao ương cá bột vừa nhất là có diện tích khoảng 500 – 1.000m2. Ao rộng quá khó chăm sóc, điều chỉnh màu nước chậm, khi có gió dễ có sóng

đánh dạt cá bột vào bờ. Ngược lại ao quá nhỏ thì ương cá bột được ít, chất nước sẽ thay đổi đột ngột do ảnh hưở ng của những điều kiện ngoại cảnh sẽ không tốt cho sức khoẻ của cá. Độ sâu của ao chỉ từ 1 - 1,2m, cá bột thích sống ở vùng nước nông, gần bờ nên không cần ao sâu.

- Bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ. Bờ ao sẽ hình thành dòng nước chảy, cá tập trung nhiều vào đó không kiếm được mồi sẽ gầy y ếu, đồng thời cá dữ cũng theo nước chảy mà lọt vào ao. Những ao bị rò rỉ không chủ động điều tiết mực nước, mất chất màu mỡ, cá sinh trưởng kém và tỷ lệ hao hụt cao.

- Ánh sáng đầy đủ: Thức ăn của cá bột là sinh vật phù du, sinh vật phù du cần ánh sáng để sinh trưởng và phát triển. Do đó bờ ao không nên có nhiều bụi rậm và cây cao, ao thoáng khí nhiều ánh sáng, thức ăn cho cá phong phú hơn.

- Thuận tiện cho việc quản lý chăm sóc: Để gây thức ăn cho cá ươ ng, thường hay dùng nhiều đến phân chuồng vì vậy ao ương nên ở gần nhà để dễ chăm sóc quản lý. Tuy nhiên, trong thực tế ít có ao đủ các tiêu chuẩn trên, các gia đình nên chú trọng 2 tiêu chuẩn chính là nguồn nước và chất đáy tốt, còn những yêu cầu khác có thể khắc phục dần thông qua những biện pháp tích cực của con người.

2. Chuẩn bị ao ương
- Tu bổ ao: Đắp lại những bờ thấp và rò rỉ, chú ý đến mực nước cao nhất để hàng năm đắp thêm những quáng bờ thấp hoặc bị sạt lở, lấp những hang hốc quanh bờ và san phẳng đáy ao.

- Tẩy ao: Sau khi tu bổ, tiến hành việc tẩy ao nhằm tiêu diệt các loài địch hại cá, có các phương pháp tẩy ao như:
+ Nếu dùng vôi cục để tẩy ao thì tháo nước vào khoảng 7 - 10cm để vôi phân bố đều, lượng vôi dùng là 30 - 40kg/sào, những ao ít bùn dùng 20 - 30kh/sào (tức là khoảng 6 - 10kg vôi cho 100m2 ao). Cách làm: Đào 1 vài hồ ở xung quanh bờ, cho vôi vào tôi rồi dùng gáo vảy đều khắp ao, ngày hôm sau dùng cào, vồ đảo bùn với nước vôi để nước vôi ngầm sâu, tăng hiệu quả của vôi (tuỳ loại nhiều bùn hay ít bùn mà điều chỉnh lượng vôi).
+ Nếu tẩy ao bằng vôi bột cũng có hiệu quả tốt. Ao sau khi tát dọn, dùng vôi bột (10kg/100m2ao) rải đều khắp đáy ao và xung quanh ao. Sau đó cũng dùng cào sục cho vôi ngấm đều.
+ Tẩy vôi nên làm vào ngày nắng, khi làm nên tập trung nhiều vôi vào những nơi nước đọng, các mạch nước rỉ màu vàng hoặc nâu đỏ.
+ Tẩy vôi ao có tác dụng: Diệt trừ cá dữ, trứng ecchs nhái hoặc nòng nọc, một số loại côn trùng có hại, các ký sinh trùng gây bệnh; giải phòng một số chất khoáng bị giữ lại trong bùn; giảm độ chua của ao; giữ độ pH trong ao ổn định.

- Bón lót gây màu: Bón phân trướ c nhằm mục đích tăng cường các chất dinh dưỡng cho đáy ao, gây nuôi các loại sinh vật nổi có kích thước nhỏ bé phát triển làm thức ăn cho cá để sau khi thả là cá đã có sẵn thức ăn ngay. Cá mau lớ n, ít hao hụt. Thời gian bón lót thích hợp nhất là 6 - 7 ngày trước khi thả cá. Bón sớ m quá các loại địch hại có thời gian sinh sản phảttiển. Phân bón thường dùng là phân chuồng. Một sào Bắc bộ dùng 80-100kg phân (khoảng 30 - 50kg/100m2). Nếu dùng phân bắc thì sử dụng 15 - 20kg/100m2 ao. Đối với những ao ở miền rừng núi, trung du khó gaya màu thì số lượng phân nhiều hơn số lượng nêu trên. Phân vẩy đều khắp ao. Nếu có điều kiện thì bừa hoặc cào để trộn đều phân với bùn.

- Tháo nước: Sau khi đã bón lót thì tháo nướcvào ao. Lúc đầu chỉ giữ mức nước 50 - 60cm. Chỉ tháo nước trước khi thả cá 1 - 2 ngày. Khi tháo nước vào phải kiểm tra, lọc sạch sinh vật địch hại của cá không cho chúng theo vào. Những công việc trên cần tiến hành tuần tự và kỹ lưỡng. Công việc chuẩn bị ao làm sao chi sát ngày thả cá bột. Nếu chuẩn bị ao quá sớm, ngoài 10 ngày trở ra thì các loài sinh vật địch hại phát triển trở lại, khi đó phải chuẩn bị lại lần nữa thì rất tốn công và lãng phí phân. Để giải quyết kịp thời, một số gia đình đã áp dụng các biện pháp sau: Tát cạn nước trong ao. Khi ao cạn bắt hết cá giữ đồng thời sửa bờ và sau đó san đáy ao luôn. Nếu có vịt đàn thì cho xuống ao mò một buổi. Sau đó phơi nắng một ngày rồi tháo nước (trường hợp không kịp tẩy vôi vì quá gấp).

- Cách lấy nước vào ao: Khơi một rãnh nhỏ rộng 50cm, một đầu rãnh phía nguồn nước chắn bằng một cái rá đan dày để lọc các loài cá dữ và côn trùng to; một đầu rãnh đặt một ống bương đường kính 10 - 15cm, hai đầu bịt bằng lưới cước, ống bương thông rỗng cho nước chảy.

3. Thả cá bột
- Cá bột để nuôi thành cá hương có chiều dài 0,5 - 0,7cm đã tiêu hất noãn hoàng, có khả năng tự bơi lội kiếm ăn. Thời gian cần thiết để ương cá bột thành cá hương là 20 - 25 ngày.


- Mật độ ương cá bột lên cá hương: Tuỳ theo điều kiện ao ở từng nơi (chất đất, chất nước) và điều kiện cung cấp thức ăn, quản lý ch ăm sóc mà quyết định mật độ từng loại khác nhau. Đối với ao ương cá gia đình nên ương mật độ thưa.
Bảng Mật độ ương cá bột lên cá hương

4. Thức ăn cho cá và cách cho ăn
- Ở giai đoạn cá bột, cá hương đối với cá mè, trắm cỏ, Ro hu, Mrigan tính ăn uống giống nhau và thức ăn sử dụng chủ yếu là chất bột và bón phân gây màu bằng phân chuồng, lá dầm, phân vô cơ (đạm kết hợp lân).

- Các gia đình nên ương cá kết hợp các loại thức ăn trên, dùng hỗn hợp phân chuồng, phân dầm, phân vô cơ sẽ tận dụng hết được nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương.

- Phương pháp này dùng phân chuồng là chính trong quá trình ươ ng. Sau khi thả cá 2 ngày, bón phân dầm và phân vô cơ sẽ gây màu cho nước nhanh. Số lượng phân bón vào 1 sào ao (sào Bắc bộ = 360 m2) là 80 - 100 kg lá dầm, 1 kg phân đạm và 0,5 kg phân lân (Có thể không dùng phân vô cơ cũng được), cứ 4 ngày bón 1 lần. Sau 2 ngày bón phân dầm thì bón hoàn toàn phân chuồng. Số lượng bón 1 lần là 100 - 150 kg/ sào, bón phân chuồng theo chu kỳ 5 - 6 ngày 1lần cho đến hết giai đoạn ương.

- Phương pháp này gây màu nước tốt 1 cách liên tục, có tác dụng tố nhất đến sinh trưởng của cá.

- Phương pháp trên chỉ mới gây thức ăn là sinh v ật phù du cho cá bột ở giai đoạn đầu. Từ ngày thứ 10 trở đi, đối với ao ương cá trắm cỏ thì phải thả thêm bèo trứng cá, bèo tấm cho cá ăn, vì lúc này cá trắm cỏ đã ăn được thức ăn xanh. Khi thấy cá đã ăn hết bèo thì tăng dần s ố lượng lên. Nhữ ng gi đình có điều kiện thì cho cá ăn thêm thức ăn tinh nh ư bột mỳ, cám gạo, bã đậu, như vậy cá sẽ lớn nhanh, khoẻ và tỷ lệ hao hụt thấp.

- Để ương cá hương đạt hiệu quả cao hơn có thể áp dụng các công thức sau:

II. Kỹ thuật ương
1. Ương cá trắm cỏ
- Sau khi thả cá bột được 2 ngày, nấu gạo hoặc đậu nành thành cháo tế kháp ao, ngày cho ăn 2 lần từ 0,1 - 0,15 kg cho 1m2 ao.

- Từ ngày thứ 6 - 9, có thể dùng cám rắc nổi trên mặt ao thay cho cháo; mỗi ngày cho ăn 1 lần từ 0,3 - 0,4 kg/m2 ao. Rắc cám ở 1/3 - 1/2 ao phía đầu gió, đồng thời bổ sung từ 1 - 2 lần phân chuồng, mỗi lần 1 - 2 kg/100 m2 ao (phần nguyên chất).

* Lưu ý: Cũng có gia đìng rải thức ăn tinh cám, bột mỳ quanh bờ ao, vì cá hương hay ăn ở ven b ờ. Khi rắc cam hay bột mỳ, nên rắc lên trên bèo tấm, vì chất bột mau chìm xuống đáy ao, cá không kịp hấp thụ.

2. Ương cá mè
- Một tuần đầu cho cá ăn cháo như cá trắm cỏ, từ ngày thứ 7 đến khi thu hoạch bón phân hữu cơ, lá dầm, phân vô cơ.

- Lượng phânbón 1,5 - 2,5kg/100m2 ao, định kỳ 4 ngày bón một lần, phân được rải đều trên mặt ao.

- Lá dầm thả 10 - 15kg/100m2 ao, mỗi tuần lễ bón 1 lần, lá được bó thành bó nhỏ dìm ngập ở góc ao, sau mấy ngày lại đảo bó lá một lần cho lá rữa hết, các cành lá dầm được vớt lên bờ.

- Nếu ao không lên màu có thể bón thêm phân vô cơ với lượng 2lạng đạm + 1lạng lân cho 1m2 ao, 3 - 4 ngày bón 1 lần.

3. Ương cá trôi, rô hu, Mrigan
- Về thức ăn và cách cho ăn tương tự như nuôi cá mè, tuy nhiên nuôi các loài cá này với mật độ dày phải tăng cường lượng thức ăn tinh. Cụ thể là: Phân chuồng 1 tuần bón 2 lần, mỗi lần 10 - 15kg/1m2 ao.

- Phân xanh (lá dầm) mỗi tuần bón 1 lần, mỗi lần 20 - 25kg/100m2 ao. Nếu màu nước lên chậm có thể dùng phân vô cơ (đạm và lân), tỷ lệ N/P=2/1. Một tuần bón 2 lần, mỗi lần 200g/100m2 ao.

- Thức ăn tinh: Bột ngũ cốc các loại, có điều kiện thì cho thêm bột cá nhạt; lượng thức ăn hàng ngày 200 - 300g/100m2 ao, mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng và chiều tối.

4. Ương cá chép
- Thức ăn tự nhiên: Bón phân để gây nguồn thức ăn tự nhiên trong ao, là các loại lá gọi chung là lá dầm (cúc tần, điền thanh, dây lang,…) bó thành từng bó dìm ngập xuống góc ao cho thối rữa.

- Phân lợn, phân trâu bò, phân bắc ủ,… rải khắp mặt ao, lượng dùng 40-60kg/100m2 ao.

- Thức ăn tinh: Dùng cám hoặc bột ngũ cốc rắc đều lên mặt ao như sau:

- Tuần lễ đầu, dùng 0,5kg/10.000 con cá; tuần lễ 2, dùng 1kg/10.000 con cá; tuần lễ 3, dùng 1,7kg/10.000 con cá; tuần lễ 4, dùng 2,8kg/10.000 con cá.

- Trường hợp thiếu thức ăn trên có thể thay bằng các loại thức ăn khác có giá trị dinh dưỡng tương đương.

5. Quản lý ao ương
- Phải thực hiện thường xuyên từ khi thả cá cho đến hết giai đoạn ương. Trong tình hình cá b ột s ống bình thường, tốc độ t ăng về trọng lượng và chiều dài của chúng rất nhanh, từ độ dài 6 - 8mm, sau 20 ngày ương cá mè có thể đạt tớ i kích thước từ 2 - 3cm, trọng lượng có thể tăng 40 - 50 lần. Sự thay đổi của môi trường sống ảnh hưởng rõ rệt đến cá bột, trong thời gian ương hàng ngày phải đi thăm ao 1 - 2 lần.

- Điều chỉnh mực nước: Khi mới thả chỉ giữ nước mức nông từ 50 - 60cm, vì nước nông nhiệt độ dễ tăng lên làm sinh vật thức ăn của cá sinh sôi mạnh. Sau khi ương nuôi được vài ngày, cá lớ n dần, hàm lượng chất béo tăng như ng ôxy giảm đi rõ rệt, thể hiện bằng sự nổi đầu của cá mà có nơi gọi là " Cá dậy" vì vậy cần thiết phải thêm nước vào ao theo định kỳ cứ 3 ngày thêm 1 lần, mỗi lần cho đầy thêm 25 - 30cm. Mỗi khi tháo nước phải chắn bàng lưới cước để cá khỏi ngược ra và cá dữ không lọt vào. Cho thêmnước đếnmức cao nhất của ao, thay thế nước cũ, tăng thêm lượng ôxy hoà tan, c ải thiện môi trường nước. Đây là biện pháp tối ưu, tuy nhiên không phải nơi nào cũng có điều kiện làm được, vì vậy cũng có thể làm theo cách sau:
+ Đối với ao nuôi trắm cỏ, cá trôi ta, trôi ấn Độ, Mrigan: Sau khi ương được 7 ngày thì thêm nước mới vào ao, cứ 2 - 3 ngày/lần, mỗi lần thêm 15 - 20cm, có thể dùng biện pháp vừa cấp vừa xả trong 30 phút.
+ Đối với ao ương cá mè: Một tuần lễ cho thêm nước1 lần, mỗi lần thêm 10cm, không cần xả nước cũ nếu như nước ao không bị thối.

- Diệt địch hại: Chủ yếu là bọ gạo, nòng nọc, chúng giết hại rất nhiều cá bột vì vậy cần phải phát hiện kịp thời và tiêu diệt ngay.
+ Cách diện bọ gậy: Làm một khung nứa hình vuông có diện tích 2m2, đổ dầu hoả vào khung, cứ 10 hoặc 20 phút lại di động khung đi khắp mặt ao. Bọ gạo ngoi lên thở sẽ bị dính dầu mà chết. Cũng có thể đỏ tràn dầu hoả lên trên mặt ao để diệt bọ gạo cũng không ảnh hưởng gì đến cá. Ban đêm có thể thắp đèn treo lên cọc giữa khung dầu hoả để nhử bọ gạo tìm đến ánh sáng sẽ bị chêts vì dính phải dầu.
+ Cách diệt nòng nọc: Nòng nọc là ấu trùng của ếch nhái, cóc còn tồn tại đến tháng thứ 7 nếu trời ít mưa. Nòng nọc dễ lọt vào ao ương sau khi thả cá và ăn hại rất nhiều cá bột. Phương pháp diệt nòng nọc hiệu quả nhất là buổi sáng sớm dùng vợt cá hương hoặc lưới cá hương quây bắt, cá bọt sẽ lọt qua mắt lưới mà không bị ảnh hưởng gì.

- Đùa luyện cá: Trong suốt thời gian ương cá hươ ng phải định kỳ đùa luyện cá hay còn gọi là quấy dẻo. Ương cá được 1 tuấn lễ thì bắt đầu luyện vào buổi sáng thật sớm. Mỗi ao ương cần 1 hoặc 2 người dùng cào, vồ đảo sát đáy bùn cho nước thật đục, cũng có thể dùng trâu cho lội nhiều vòng trong ao đến khi nước đục ngầu là được. Sau mỗi lần đùa ao thì nên dồn hết rêu, rác nổi trên mặt ao, vớt lên rồi cho thêm nước mới vào ao. Việc luyện cá có nhiều tác dụng:
+ Rèn luyện thể chất của cá làm cho cá vận động nhiều, các cơ sẽ rắn chắc hơn, làm cho cá cứng cáp và khoẻ mạnh hơn.
+ Tăng cường sự trao đổi chất của cá, làm cho khả năng vận động bắt mồi và đối phó với địch hại được tăng cường hơn.
+ Tăng cường sức chịu đựng cho cá trong những điều kiện xấu như là ít ôxy, chất dinh dưỡng nhiều,…lúc san cá và lúc vận chuyển cá sẽ chịu đựng được và không bị chết.
+ Xáo trộn chất dinh dưỡng từ đáy ao vào môi trường nước làm cho chất hữu cơ phân huỷ được nhiều không bị lắng đọng đáy ao.

6. Thu hoạch cá hương
- Thời gian ương cá bột lên hương khoảng 25 ngày thì thu hoạch. Trước khi thu hoạch vài ngày ngừng bón phân và thả lá dầm. Khi thu hoạch giảm mức nước trong ao, còn lại 80cm. Dùng lưới cá hương thu dần, thao tác nhẹ nhàng, không làm cs bị xây sát. Nên thu hoạch vào buổi sáng sớ m hoặc ngày mát trời, khi thấy cá trong ao còn ít thì tát cạn ao thu hết.

- Nếu nuôi đảm bảo kỹ thuật như trên thì có thể cho tỷ lệ cá sống là: Cá mè thu được 60 - 70%; Trắm cỏ 50 - 60%; Cá trôi ta khoảng 50%; Cá Rô hu, Mrigan 50 - 60%; Cá chép khoảng 45 - 50%.

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Điêu Hồng

Kỹ thuật nuôi cá Điêu Hồng


Kỹ thuật nuôi cá điêu hồng by Sở NN VL | Ky thuat nuoi ca dieu hong

Cá rô phi đỏ (red Tilapia), thường gọi cá điêu hồng được nhập vào nước ta năm 1985 từ Malaysia. Cá rô phi đỏ là loài cá dễ nuôi, nhanh lớn, chất lượng thịt ngon và rất được giới tiêu dùng ưa chuộng. Cá rô phi đỏ có thể sống được cả môi trường nước ngọt và nước lợ, pH từ 5 - 9, thích hợp nhất là 6,8 - 8,3; nhiệt độ dao động từ 7 – 45 độ C, tốt nhất là từ 25 – 32 độ C. Ở nước ta cá sống nhiều và thích hợp với điều kiện nước ngọt vùng châu thổ sông Mê Kông. Hiện nay giống cá này được gây giống nhân tạo ở hầu hết các cơ sở sản xuất cá giống trong vùng.


1. Điều kiện ao nuôi
- Ao hay ruộng nuôi phải gần sông rạch, có nguồn nước ngọt tốt, thuận lợi cho việc lấy nước và thoát nước.

- Ao nên có hình chữ nhật trên 1.000 m2, sâu trên 1,5 m.

- Bờ bao phải cao hơn đỉnh lũ hàng năm từ 0,5 m trở lên. Mặt bờ trồng được hoa màu, kết hợp trồng cây dây leo như bầu bí, mướp để che mát phía tây, mặt bờ trồng rau muống vừa chống xói mòn, đồng thời là nguồn thức ăn xanh cho cá.

- Cống cần đặt ở đáy ao để rút nước khi thu hoạch hoặc xử lý thuốc, cống điều tiết nước theo thủy triều, khẩu độ cống đảm bảo thay đổi nước theo triều đạt 10 - 15% lượng nước ao trở lên.

2. Kỹ thuật nuôi
- Chuẩn bị ao nuôi: Ao nuôi cần tuân thủ qui trình chuẩn bị ao nuôi. Chú ý ngăn chặn phèn vào ao ở thời kỳ đầu ao mới đào và ở những cơn mưa đầu mùa, đồng thời hạn chế tối đa cá tạp, cá dữ vào ao.

- Mật độ thả nuôi: Tuỳ vào chất lượng ao, nguồn nước cung cấp và khả năng cung cấp thức ăn để quyết định mật độ thả từ 3 - 5 con/m2, cỡ cá giống từ 3 - 7cm.

- Chọn cá giống: Cần chọn cá ăn mạnh, bơi lội khỏe, màu sắc hồng tươi, đồng cỡ. Loại bỏ cá dị hình, màu nhợt nhạt, gầy ốm, bơi lội lạc đàn, cỡ quá nhỏ hoặc qua lớn. Nếu có điều kiện cần tìm nguồn gốc cá bố và mẹ, kỹ thuật sinh sản và ương nuôi của cơ sở sản xuất cá giống để có thêm cơ sở xác định con giống. Tốt nhất là tìm mua cá giống ở các cơ sở cá giống có uy tín.

- Thả cá giống ra ao: Thời điểm thả cá giống tốt nhất là lúc trời mát. Cho túi chứa cá vào nước ao trong 20-30 phút, tạo điều kiện cho cá quen dần với nhiệt độ môi trường nước ao, kết hợp sát trùng cá giống bằng kháng sinh (Aureomycin hoặc Oxytetracylin) nồng độ 10 - 15 phần triệu trong 5 - 10 phút. Sau đó kéo mạnh hai góc đáy túi cho cá ra ao toàn bộ.

- Cho cá ăn: Thức ăn cho cá rô phi đỏ thiên về nguồn gốc thực vật như cám, bắp xay nhỏ, bã đậu, bèo tấm, rau muống và thức ăn viên dạng nổi có hàm lượng đạm cao từ 28 - 32%. Thức ăn cần được nấu chín, nhồi dẻo tạo dạng viên cho vào sàn ăn (sàn ăn có kích thước 1 X 1 m, đặt cách mặt nước 0,4 - 0,5 m, tùy theo ao nhỏ hay lớn mà bố trí 2 - 4 điểm cho ăn). Nếu có điều kiện làm chòi cho cá ăn thì tốt hơn.

- Riêng rau muống, bèo ngoài phần nấu chín trong hỗn hợp thức ăn còn có thể cho ăn tươi rất tốt. Rau muống, bèo cần chặt nhỏ bằng miệng cá nuôi. Cho cá ăn ngày 2 lần vào 8 - 9 giờ sáng và 5 - 6 giờ chiều. Ngoài thức ăn thực vật thì cần bổ sung thức ăn viên công nghiệp. Khẩu phần ăn ở 3 tháng đầu là 5 - 8% trọng lượng cá nuôi, các tháng về sau giảm dần đến 2 - 3% trọng lượng cá. Chú ý kiểm tra thức ăn trên sàn để điều chỉnh lượng thức ăn lần sau cho thích hợp, tránh tình trạng thừa, thiếu thức ăn. Kết hợp làm vệ sinh sàn ăn và nơi ăn trong ngày.

3. Quản lý chăm sóc
- Kiểm tra nước: Đảm bảo độ sâu nước ao tối thiểu 1 m, nước có màu xanh nõn chuối, vàng nhẹ phù hợp với cá nuôi; nếu nước có màu tối, xám xịt có nhiều hữu cơ, khí độc sẽ gây hại cho cá nuôi; nước trong veo hoặc có váng phèn lớp mặt và tích tụ đáy ao cũng gây hại cho cá. Vào các tháng có nhiệt độ cao, oi bức kéo dài dễ gây hiện tượng cá sốc nhiệt độ, đồng thời chất hữu cơ phân hủy nhanh, tiêu tốn nhiều dưỡng khí và thải ra ao hồ nhiều loại khí độc. Trong những điều kiện như vậy, ao nuôi cá phải bổ sung nước định kỳ 5 - 7 ngày/lần, mỗi lần 15 - 20% lượng nước ao hoặc tháo bỏ 1/3 nước ao và bơm nước mới vào.

- Trong quá trình nuôi cá, nếu thấy bờ ao có hiện tượng nhiều phèn, phải chặn phèn sớm trước những cơn mưa đầu mùa (có thể cuốc bờ bón vôi hoặc bón vôi trực tiếp lên mặt bờ từ 10 - 15 kg vôi/100 m2. Theo dõi diệt cá lóc, cá trê, lươn bằng các dụng cụ thích hợp như câu cắm, câu lươn, hay dùng lá xoan nhét vào hang hốc.

- Kiểm tra tu bổ cống bọng, lấp kín các nơi rò rỉ, hang hốc.

- Theo dõi tình trạng ăn mồi (mạnh hay yếu), bơi lội (theo đàn hay tách đàn), màu sắc cá (bình thường theo đặc trưng loài hay biến màu), những biểu hiện bất thường cho ta dấu hiệu cá suy yếu, cá chết vài con đến nhiều con trong ngày. Các trường hợp này cần nhờ cán bộ thủy sản xem xét và có hướng dẫn điều trị cụ thể.

4. Phòng và trị bệnh
a) Bệnh do ký sinh trùng
- Các bệnh do ngoại ký sinh trùng có tác động mạnh đến cá con trong quá trình ương. Thực tế cho thấy nhiều cơ sở ương giống có tỷ lệ hao hụt từ 50 - 70% chủ yếu là do cá con bị bệnh đốm trắng (trùng quả dưa tấn công), bệnh do trùng mặt trời và tà quản trùng, bệnh do sán lá đơn chủ, bệnh do giáp xác ký sinh (Argulus và Ergasilus).

- Cách phòng trị: Ao ương và nuôi cá phải có sục khí. Khi phát hiện cá bị bệnh cần bón: Formol nồng độ 25 - 30 ml/m3, trị thời gian dài và nồng độ từ 100 - 150 ml/m3 nếu trị trong 15 - 30 phút; CuSO4 (phèn xanh) nồng độ 2 - 5 g/m3 trị thời gian dài và từ 20 - 50 g/m3 trong thời gian 15 - 30 phút, cách này trị một lần; muối ăn để phòng trị bệnh cho cá, nồng độ 1% trị thời gian dài và 1 - 2% trong 10 - 15 phút.

b) Bệnh xuất huyết
- Bệnh do vi khuẩn Aemomas hydrophia hoặc Edwardsiella tarda gây ra. Cá có dấu hiệu toàn thân xuất huyết, hậu môn sưng lồi, bụng trương to, có dịch vàng hoặc hồng, đầu và mắt cá sưng và lồi ra. Bệnh thường xuất hiện với cá rô phi đỏ nuôi bè.

- Biện pháp đề phòng là tránh thả cá nuôi và hạn chế thay nước lúc giao mùa. Nên định kỳ bón và khử trùng nơi cho cá ăn. Cách trị là bón vôi và khử trùng nước, có thể trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cá, tỷ lệ tuỳ theo tình trạng bệnh.

c) Cá trương bụng do thức ăn
Thường xảy ra ở các ao, bè do cá ăn thức ăn tự chế không được nấu chín, không đảm bảo chất lượng làm cá không tiêu hóa được thức ăn, bụng cá trương to, ruột chứa nhiều hơi. Cá bơi lờ đờ và chết rải rác.
Biện pháp khắc phục là kiểm tra chất lượng và thành phần thức ăn để điều chỉnh lại cho thích hợp. Nếu trường hợp nặng, thường xuyên có thể thay đổi thức ăn. Trong thức ăn nên bổ sung men tiêu hóa (các probiotie...).

d) Cá chết do mật độ nuôi thả dày
Hiện tượng này thường xảy ra ở các ao, bè nuôi thâm canh với mật độ quá dày. Cá chết không có dấu hiệu bệnh lý, chỉ nổi lờ đờ và chết hàng loạt. Tỷ lệ cá chết phụ thuộc vào mật độ và chất lượng nước. Mật độ thích hợp để nuôi cá thịt là 100 - 120 con/m3 nước có thể gây chết đột ngột lúc giao nước hoặc sau những cơn mưa lớn. Vì thế cần nuôi với mật độ vừa phải (50 - 70 con/m3 nước) và chất lượng nước phải sạch.

5. Thu hoạch
Thời gian nuôi từ 4 - 5 tháng là thu hoạch được, đến giai đoạn này cá đạt trọng lượng trung bình 0,5 - 0,6 kg/con, nếu có điều kiện nuôi tiếp đến tháng thứ 9 - 10 thì trọng lượng cá đạt khoảng 1 kg/con.

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Rô Phi Đơn Tính

Kỹ thuật nuôi cá Rô Phi Đơn Tính


Kỹ thuật nuôi cá Rô Phi Đơn Tính by Nông Nghiệp VN | Ky thuat nuoi ca ro phi don tinh

I. Tổng quan
- Cá rô phi là loài cá dễ nuôi, lớn nhanh sau 4 - 5 tháng nuôi nếu được cho ăn đầy đủ sẽ đạt trọng lượng 0,4 - 0,6kg/con. Chúng sử dụng được hầu hết các loại thức ăn tự nhiên, các mùn bã hữu cơ, các Ditrit trong môi trường ao nuôi. Do đó nếu được nuôi trong ao, cá rô phí vừa có tác dụng tiêu diệt các loại động vật nhỏ mang mần bệnh vừa có tác dụng làm sạch môi trường và cho sản phẩm có giá trị .

- Gần đây cá đại phương có nghề nuôi cá trong cả nước đã đưa đối tượng cá rô phi vằn O.niloticus đã được chuyển hoá giới tính (cá rô phi đơn tính đực) vào nuôi luân canh, xen vủtong ao nuôi tôm và bước đầu chứng tỏ có hiệu quả cao. Thực hiện chủ trương của Ngành thuỷ sản Ninh thuận từng bước đưa đối tượng cá rô phi đơn tính vào nuôi trong ao nuôi tôm, nhằm thay thế con tôm trong cá vụ phụ và theo yêu cầu của bà con nuôi tôm địa phương. chúng tôi soạn thảo kỹ thuật nuôi cá rô phi giúp bà con có điều kiện tham khảo những kiến thức cơ bản về đối tượng này, trên cơ sở đó vận dụng vào thực tế ao nuôi của mình có hiệu quả.

- Tài liệu chắn chắn không tránh khỏi những sai sót, kính mong bà con, các đồng nghiệp đóng góp nhiều ý kiến bổ sung để tài liệu được hoàn chỉnh hơn.

II. Đặc điểm sinh học
1. Đặc điểm phân loại
- Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống là Tilapia (cá đẻ cần giá thể), Sarotherodon (Cá bố hay cá mẹ ấp trứng trong miệng). Cá rô và Oreochromis (cá mẹ ấp trứng trong miệng). Cá rô phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc :
+ Bộ: cá vược Perciforms
+ Họ: Cichlidae
+ Giống: Oreochromis
+ Loài: Cá rô phi vằn O.niloticus.

- Hiện nay có 3 loài chính được phổ biến tại Việt Nam là :
+ Cá rô phi cỏ Oreochromis Mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm 1953 qua ngã Thái Lan.
+ Cá rô phi văn (Rô phi Đài Loan O.niloticus) được nhập vào Việt Nam năm 1974 từ Đài Loan.
+ Cá rô phi đỏ (Red Tilapia), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm 1985 từ Maliaxia.


2. Đặc điểm về hình thái
Cá rô có thân hình mùa hơi tím, vảy sáng bóng, có 9 - 12 sọc đậm song song nhau từ ưng xuống bụng. Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bổ khắp vi đuôi. Vi lưng có những sóc trắng chạy song song trên nền xám đen. Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt.

3. Đặc điểm môi trường
- Nhiệt độ: Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20 – 32 độ C, thích hợp nhất là 25 – 32 độ C. khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8 – 42 độ C, cá chết rét ở 5,5 độ C và bắt đầu chết nóng ở 42 độ C. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh.

- Độ mặn: Cá rô phi là loài rộng muối, chúng có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối từ 0 - 40‰. Trong môi trường nước lợ ( độ mặn 10 - 25‰) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon.

- Độ pH: Môi trường có độ pH từ 6,5 - 8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ pH thấp bằng 4.

– Oxy hoà tan: Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu Oxy. Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5 - 10 lần so với tôm

4. Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng
a) Tính ăn
Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn dinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ) là chủ yếu (cá 20 ngày tuổi, kích thước khoảng 18mm). Khi cá trưởng thành ăn mùn bả hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh. Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng.Trong thiên nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có mức sâu từ 1 - 2m.

b) Sinh trưởng
- Khi nuôi trong ao, cá sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có kết hợp với thức ăn chế biến, cá rô phi vằn đơn tính lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ 5 - 6.

- Trong điều kiện ao nuôi tôm ( Đầm Nại- Ninh thuận ), cá rô phi vằn sau 5,6 tháng nuôi có thể đạt trọng lượng 0,5 - 0,6 kg/con từ cá giống (0,65g/con).

III. Kỹ thuật nuôi cá rô phi đơn tính
1. Chuẩn bị ao nuôi
- Đối với ao nuôi luân canh, xen vụ, một vụ tôm-một vụ cá với mật độ 1 - 2 con/m2 thì việc chuẩn bị ao nuôi trở nên đơn giản, nhưng chú ý đến vấn đề diệt cá tạp, rắn nước. Có thể bón thêm vôi sống được xay trực tiếp từ đá vôi, vỏ sò, ốc … số lượng từ 300 - 500 kg/ha và phân hữu cơ (phân heo, gà, trâu, bò …) ủ thật hoai, bón lót vào nền đáy ao từ 300 - 500 kg/ha.

- Đối với các ao nuôi tăng sản, mật độ từ 5 - 7 con/m2 trở lên, thời gian nuôi
kéo dài, việc chuẩn bị ao cần làm kỹ các khâu dọn bùn dơ, phơi nắng 5 - 7 ngày, cày xới nền đáy. Lượng vôi và phân bón nhiều hơn so với mật độ nuôi thưa và phải bón bổ sung thêm trong quá trình nuôi.

2. Gây màu nước
- Sau khi thu hoạch tôm và công việc bón vôi, phân, diệt tạp đưụơc thực hiện xong, đóng khung lưới lọc cá tạp và cho nước vào 30 - 40 cm sau 4 - 5 ngày nước lên màu xanh nhạt, xanh vàng hoặc xanh lá chuối thì tiếp tục cấp nước vào ao đạt mực 1m và chuẩn bị thả cá giống.

- Một số điều cần lưu ý khi nuôi cá trong ao:
+ Nên tận dụng lại các nguồn nước thải ra từ các ao nuôi tôm vì nguồn nước này chứa nhiều loại tảo là nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào cho cá rô phi.
+ Có thể nuôi cá rô phi trong ao nước ngọt hoặc ao ương 1 - 2 tháng với mật độ dày (15 - 20 con/m2) vào thời điểm tháng 6,7. Đến khi thu tôm ( tháng 9,10 ) chuyển số cá này sang ao nuôi tôm, cá sẽ lớn nhanh, rút ngắn được thời gian nuôi.

3. Cá giống
- Cá giống đạt các tiêu chuẩn:
+ Hình dạng cân đối, không dị hình, không xây xát.
+ Màu sắc tươi sáng, bơi lội nhanh.


- Khi thả cá ta phải để bao, túi chứa cá xuống ao từ 15 - 20 phút, sau đó đổ cá ra các thau, chậu để thuần dưỡng độ mặn. Thêm nước mặn từ từ vào thau, chậu để tăng dần sau 1 giờ tăng lên 2 - 3‰ và tăng dần đến khi bằng độ mặn của nước ao. Đối với ao đìa có độ mặn từ 15‰ trở xuống thì không cần phải thuần dưỡng mà có thể thả cá giống trực tiếp xuống.

4. Mật độ nuôi
- Khi mới thả cá giống có trọng lượng 0,5 - 1 gam/con tương đương với 1.000 – 2.000 con/kg. Cá giống có thể thả nuôi trong ao nhỏ với mật độ 15 - 20 con/m2, sau một tháng chuyển sang ao lớn hơn, giảm mật độ xuống còn 7 - 10 con/m2 và sau 2 tháng có thể chuyển sang ao có mật độ nuôi phù hợp 2 - 3 con/m2.

- Trong điều kiện bình thường nuôi luân canh một vụ tôm, một vụ cá có thể nuôi ở mật độ 2 - 3 con/m2.

- Trong điều kiện chăm sóc quản lý tốt và quản lý tốt có thể nuôi ở mật độ 3-5 con/m2 .
- Trong nuôi tăng sản, có máy quạt nước có thể nuôi ở mật độ 5-10 con.m2

5. Cho cá ăn
- Sử dụng thức ăn tự chế biến gồm các thành phần:
+ Cá tạp, cá vụn, cua, ghẹ nhỏ hoặc các chế phẩm từ các lò mổ gia súc tỷ lệ: 40 - 50%
+ Bột bắp, bột mì, bột khoai lang, bột gạo: 20 - 30%
+ Cám gạo: 10 - 20%
+ Bã đậu nành, đậu phộng: 10 - 20%

- Cách chế biến: Các thành phần trên được nấu chín, trộn với cám gạo, xay đùn ra sợi, phơi ráo và cho ăn hết trong ngày.

- Cho ăn: Cho ăn mỗi ngày 2 lần: sáng vào lúc 5 - 6 giờ và chiều vào lúc 17 - 18 giờ. Lượng thức ăn cho ăn:
+ Tháng đầu: lượng thức ăn trong tháng bằng 3 - 5% trọng lượng đàn cá.
+ Tháng thứ 2: lượng thức ăn trong ngày bằng 2 - 3% trọng lượng đàn cá.
+ Tháng thứ 3 trở đi: lượng thức ăn trong ngày bằng 0,5 - 1 % trọng lượng cá.

- Trong nuôi cá rô phi cần chú ý kết hợp cho ăn với việc bón phân hữu cơ sẽ gia tăng năng suất cá nuôi.

- Để tạo thức ăn tự nhiên phong phú có thể bón phân hữu cơ ( thường là phân heo, gà, vịt, trâu, bò ...) và phân vô cơ ( Urê, N.P.K…) hai loại phần này được dùng kết hợp hoặc riêng lẻ tuỳ điều kiện màu mỡ của từng ao nuôi. Việc tạo ra thức ăn tự nhiên tốt (màu nước đậm, mật độ tảo dày) hoặc những ao đìa giàu dinh dưỡng được xem là biện pháp hữu hiệu nhất để tăng năng suất cá nuôi trong ao, đìa.

6. Chăm sóc quản lý
- Hàng ngày quan sát rò rỉ xung quanh bờ ao, khung lưới cống và hoạt động của cá.

- Nếu thấy cá nuôi nổi đầu từ lúc sáng sớm thì phải cung cấp thêm nước.

- Định kỳ 10 - 15 ngày kiểm tra cá bằng chài, cân đong tự tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn của cá hàng ngày.

7. Thu hoạch
Sau khi nuôi 5 - 6 tháng, cá đạt trọng lượng 0,5 - 0,6 kg/con, có thể thu hoạch cá thịt, có hai cách thu.
- Thu tỉa: tháo nước ao cạn ở mức nước 40 - 50cm, kéo lưới thu tỉa cá lớn.

- Thu sạch: kéo lưới bắt nhiều lần sau đó bơm cạn bắt hết số cá còn lại.

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Trắm Cỏ

Kỹ thuật nuôi cá Trắm Cỏ


Kỹ thuật nuôi cá trắm cỏ by Nông Nghiệp VN | Ky thuat nuoi ca tram co

I. Nuôi ao
1. Tẩy dọn ao
- Tát hoặc tháo cạn, dọn sạch cỏ, tu sửa bờ, đăng cống, vét bùn nếu lượng bùn quá nhiều.

- Bón vôi khắp đáy ao để diệt cá tạp và các mầm bệnh bằng cách rải đều từ 7 - 10 kg vôi bột cho 100 m2 đáy ao.

- Sau tẩy vôi 3 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao từ 20 - 30 kg phân chuồng và 50 kg lá xanh cho 100 m2 (loại lá cây thân mềm để làm phân xanh). Lá xanh được băm nhỏ rải đều khắp đáy ao, vùi vào bùn hoặc bó thành các bó nhỏ từ 5 - 7 kg dìm ở góc ao.

- Lấy nước vào ao ngập từ 0,3 - 0,4 m, ngâm 5 - 7 ngày, vớt hết bã xác phân xanh, lấy nước tiếp vào ao đạt độ sâu 1 - 1,5 m. Cần phải lọc nước vào ao bằng đăng hoặc lưới đề phòng cá dữ, cá tạp xâm nhập.


- Cá trắm cỏ sống ở tầng nước giữa, thức ăn chính là cây xanh như cỏ thân mềm, rau, bèo dâu, bèo tấm, lá chuối, lá sắn, cây chuối non băm nhỏ, rong, thân cây ngô non , cá trắm cỏ cũng ăn các loại bột ngô, khoai, sắn, cám gạo. Cá nuôi sau 10 - 12 tháng đạt trọng lượng từ 0,8 - 1,5 kg/con (trung bình 1 kg mỗi con).

2. Thả cá giống
- Có 2 thời kỳ thả cá giống:
+ Vụ xuân từ tháng 2 đến tháng 3;
+ Vụ thu từ tháng 8 đến tháng 9.

- Cần thả cá giống lớn, khoẻ mạnh, không sây xát, không có bệnh.

- Mật độ thả từ 1 - 2 con/m2. Cỡ cá thả 8 – 10 cm .

3. Quản lý - chăm sóc ao
a) Thức ăn
- Thức ăn xanh gồm : các loại cỏ, rong, bèo tấm, bèo dâu, lá chuối, lá sắn nên cho cá ăn đủ hàng ngày. Sau khi cá ăn cần vớt bỏ các cọng cỏ, cây, lá già cá không ăn được. Cho cá ăn thêm cám gạo, cám ngô... Cứ 100 con cho ăn từ 2 đến 3 kg thức ăn xanh, sau tăng dần theo sự lớn lên của cá bằng cách theo dõi hằng ngày.

- Muốn tăng trọng 1kg thịt cá trắm cỏ cần từ 30 - 40kg thức ăn xanh như: rong, cỏ, bèo...

- Với cỏ tươi cho ăn 30 - 40% trọng lượng thân; với rong, bèo cho ăn 70% trọng lượng thân.

b) Quản lý ao nuôi
- Theo dõi thường xuyên bờ ao, cống thoát nước, xem mực nước ao vào các buổi sáng.

- Vào sáng sớm theo dõi xem cá có bị nổi đầu vì ngạt thở không, cá có nổi đầu kéo dài không. Nếu có, tạm dừng cho ăn và thêm nước vào ao.

- Khi thấy cá bị bệnh hoặc chết rải rác cần hỏi cán bộ kỹ thuật hoặc khuyến ngư để biết cách xử lý.

4. Thu hoạch
- Sau 5 - 6 tháng nuôi có thể đánh tỉa số cá lớn để ăn hoặc bán và thả bù cá giống để tăng năng suất nuôi. Phải ghi lại số lượng cá đã thu và thả lại sau mỗi lần đánh tỉa (ghi cả số con và số kg cá).

- Cuối năm thu toàn bộ cá (có thể chọn những cá nhỏ giữ lại làm giống cho vụ nuôi sau).

- Sau khi thu hoạch toàn bộ phải ghi lại sản lượng cá thu được (bao gồm cả cá đánh tỉa và cá thu cuối năm) nhằm sơ bộ hạch toán trong quá trình nuôi để có cơ sở cho đầu tư tiếp ở vụ nuôi sau.

II. Nuôi ở lồng bè trên sông, hồ
- Lồng có dạng hình khối chữ nhật hoặc mùng, kích thước dài x rộng x cao: Kích thước phổ biến hiện nay là: 3m x 2m x 1,7m hoặc 4m x 3m x 1,7m

- Lồng làm bằng tre hóp cả cây, gỗ hoặc nhựa composite. Hai đầu để khe hở từ 0,5 - 1 cm để nước lưu thông dễ dàng, hai mặt bên và đáy thường bằng ván gỗ khít không để lọt thức ăn.
+ Do nuôi ở sông nên tốc độ dòng chảy 0,2 - 0,3 m/giây. Đặt mỗi cụm 20 lồng, các cụm cách nhau 150 - 200 m.
+ Nuôi ở hồ chứa nước lưu thông 0,1 - 0,2 m/giây. Nuôi cụm 15 lồng, các cụm đặt cách nhau 200 - 300 m.

- Trước khi thả cá giống vào nuôi, lồng bè phải được cải tạo, vệ sinh. Đối với lồng bè phải cọ rửa sạch, phơi khô và dùng nước vôi hoặc Clorua vôi phun đều toàn bộ lồng nuôi cá. Sau đó phơi khô 1 - 2 ngày, cọ rửa sạch và hạ thuỷ. Lồng đặt ngặp nước 1,2 - 1,5 m, cách đáy 3 - 4 m.

1. Tiêu chuẩn cá giống, mật độ nuôi
- Tiêu chuẩn cá giống:
+ Ngoại hình cân đối, không dị hình, vây, vẩy hoàn chỉnh, cỡ đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn.
+ Không có dấu hiệu bệnh lý.
+ Kích cỡ cá 8-10cm.

- Mật độ nuôi: Nuôi trong lồng bè 70 - 80 con/m3 . Cá có trọng lượng lớn hơn thì 30 - 50 con/m3.

- Trước khi thả cá xuống ao, cá giống được khử trùng bằng ngâm tắm trong nước muối 3% từ 10 - 15 phút.

- Thời vụ nuôi: ở miền Bắc bắt đầu từ tháng 4.

2. Thức ăn và chế độ cho ăn
Thức ăn xanh: cỏ, rong, bèo, lá ngô, sắn....Với cỏ tươi cho ăn 30-40% trọng lượng thân; với rong, bèo cho ăn 70% trọng lượng thân.

3. Chăm sóc cá nuôi
- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của cá, nếu thấy cá bơi lội khác thường phải vớt lên kiểm tra.

- Nếu nổi đầu do thiếu ôxy phải kéo lồng ra xa khu vực môi trường ô nhiễm. Có thể tăng cường khuấy sục khí làm tăng lượng ôxy hòa tan.

- Kiểm tra sàn ăn để xác định khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn, cứ 3 ngày vệ sinh lồng cá 1 lần và kiểm tra lồng.

4. Phòng trị bệnh cho cá nuôi
- Một số bệnh: Nấm thuỷ mi, trùng bánh xe, trùng quả dưa, sán lá đơn chủ. Mỗi loại bệnh có triệu chứng và bệnh lý riêng, cần thường xuyên theo dõi biểu hiện của cá để phòng trị.

- Để chủ động phòng ngừa bệnh cho cá nuôi, trong quá trình nuôi nên tiến hành dùng vôi để cải tạo môi trường.
+ Đối với vôi: Đựng trong bao treo ở đầu nguồn nước, cách mặt nước khỏang 1/2 độ sâu của nước trong lồng. Liều lượng 3 - 4kg vôi cho 10m3 nước trong lồng.
+ Sulphat đồng (CuSO4) phòng ký sinh đơn bào, liều lượng 50g/10m3 nước, tuần 2 lần.

- Không dùng thuốc, hoá chất kháng sinh đã cấm sử dụng.

Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa

Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa


Cách phòng bệnh cho cá khi chuyển mùa ST | Cach phong benh cho ca khi chuyen mua

Nhằm hạn chế khả năng dịch bệnh xảy ra, ngoài việc tuân thủ quy trình phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao, chọn giống...từ đầu vụ, thì vào giai đoạn này người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật.


Điều kiện thời tiết khí hậu giai đoạn chuyển mùa thường làm cho môi trường ao nuôi có nhiều biến động bất lợi đối với sức khoẻ của cá. Nhiệt độ nước có thể thay đổi đột ngột, tăng cao, khoảng dao động ngày đêm lớn vào mùa hè và những cơn dông ảnh hưởng đến PH môi trường ao nuôi làm cho cá bị stress, bỏ ăn, suy yếu tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh lấn át.

- Để hạn chế khả năng dịch bệnh xảy ra, ngoài việc tuân thủ quy trình phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao, chọn giống...từ đầu vụ, thì vào giai đoạn này người nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật sau đây:

1. Quản lý tốt môi trường ao nuôi
- Nhiệt độ nước ao: Cá là động vật biến nhiệt, chúng không có khả năng sinh lý duy trì sự ổn định của nhiệt độ cơ thể, do vậy khi nhiệt độ nước thay đổi lớn sẽ gây stress, thậm chí gây chết cá. Để đảm bảo nước ao ít bị dao động quá lớn vào mùa hè cần giữ mức nước đủ sâu (thường từ 1,2 - 2m) để nước ao không bị nóng.

- Độ trong nước ao: Thông qua chỉ tiêu của độ trong mà người nuôi có thể đánh giá được tình trạng của hệ sinh vật phù du trong ao để có biện pháp xử lý. Độ trong thích hợp cho việc nuôi cá khoảng 30 - 45 cm.

- Vào giai đoạn chuyển mùa xuân sang hè, giờ nắng trong ngày nhiều hơn, nhiệt độ không khí cao hơn dẫn đến tình trạng tảo phát triển mạnh gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường ao nuôi. do đó cần thay nước định kỳ nửa tháng 1 lần, mỗi lần thay khoảng 30% lượng nước trong ao, duy trì màu nước ao nuôi có màu xanh vỏ đậu xanh hoặc màu xanh nõn chuối trong suốt quá trình nuôi; đối với những ao không thể thay được nước thì nên sử dụng các loại chế phẩm sinh học để cải thiện môi trường;

- Ổn định PH: PH nước ao nuôi cá thích hợp nhất từ 7,5 - 8,0; khi PH quá cao hoặc quá thấp sẽ làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối - nước giữa cơ thể cá và môi trường bên ngoài. Khi PH xuống thấp (< 5,5) sẽ giảm khả năng vận chuyển ôxy của Hemoglobin làm mang cá tiết ra nhiều chất nhầy dẫn đến giảm khả năng đề kháng đối với bệnh, nhất là bệnh cá do vi khuẩn. Khi PH cao (> 9) sẽ làm cho các tế bào ở mang cá và các mô của cá bị phá huỷ, dẫn đến cá bị chết. Vì vậy, việc duy trì ổn định PH môi trường ao nuôi cực kỳ quan trọng. Để làm được điều này cần bón vôi bột định kỳ 15 ngày/ lần với liều lượng 2 - 3kg/100m3 nước ao; khi trời mưa to cần rải vôi bột quanh bờ ao với lượng 1,5 - 2kg/10m2 bờ ao (tính theo phần mặt bờ phía trong ao).

2. Chăm sóc
- Cá chỉ bị bệnh khi có sự tác động qua lại đồng thời giữa 3 yếu tố: tác nhân gây bệnh đủ nhiều và đủ mạnh; môi trường nuôi kém dẫn đến tăng sự nhạy cảm của vật chủ hoặc tăng tính độc của tác nhân gây bệnh và ngay chính bản thân cá bị yếu. Điều đó có nghĩa rằng bệnh cá không chỉ là những yếu tố lây nhiễm, môi trường sống mà gồm cả vấn đề dinh dưỡng của cá. Do đó, cần tăng cường sức khoẻ nhằm tăng khả năng kháng bệnh cho cá bằng cách cho cá ăn những thức ăn có chất lượng tốt, đủ lượng, đúng thời gian.

- Ngoài ra, cá nuôi thiếu vitamin C cũng giảm sinh trưởng và khả năng chống chịu sốc và sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh. Để phòng bệnh, cần cho ăn bổ sung với lượng 30 g vitamin C/100 kg cá mỗi ngày, cho ăn liên tục trong 5 - 7 ngày.

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đồng

Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đồng (Channa striata Bloch, 1793)


Hiện nay cá lóc cá lóc được nuôi phổ biến trong các ao và bè gồm các loài sau: cá Lóc bông Channa micropletes, cá Lóc đen C. striata và cá Lóc môi trề Channa sp. Cá lóc là đối tượng nuôi quan trọng và là nguồn thực phẩm tốt cho người dân.

I. Đặc điểm sinh học
1. Phân bố và thích nghi


- Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông, thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nươc lợ, cóthể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 30 độ C. Cá thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dể ẩn mình rình mồi. Vào mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt. Mùa đông cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn.

- Cá lóc là loài cá dữ có kích thước tròn dài. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày to hình chử Y. Cá là loài cá dữ, ăn động vật điển hình. Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94 %, ếch nhái 1,03 % và 0,02 % là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ.

2. Đặc điểm sinh sản
- Cá lóc 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 - 8, tập trung vào tháng 4 - 5. Cá thườngf đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tỉnh có nhiều thực vật thủy sinh. Ở nhiệt độ 20 – 35 độ C sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bất đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.

- Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột. Ngoài ra chó thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột. Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muổi đỏ. Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá. Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào.

- Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu. Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125µm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính. Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên. Cá lớn nhanh vào mùa xuân - hè.

II. Kỹ thuật sản xuất giống cá Lóc
Cá Lóc bố mẹ sau khi nuôi vỗ thành thục, có thể dung hormone HCG hay não thuỳ thể cá Chép để kích thích cá sinh sản. Thông thường liều dung cho cá Lóc sinh sản hiệu quả là HCG với lượng dao động từ 3.000 – 4.000 UI/kg cá sinh sản.

III. Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá lóc
1. Ương cá giống
- Ương trong giai: Cá lóc đẻ tự nhiên trong ao hồ, đầm lầy. Mùa vớt cá giống từ tháng 5 - 7. Dùng vợt , te xúc trong thời gian cá con tập trung thành đàn. Cá con bắt đem về ương trong giai rộng 4 x 2 x 2 m, mật độ thả 70 con /m2. Cho ăn bằng cách nấu cháo thật nhừ trộn một ít cá tươi xay nhuyển và lòng đỏ trứng vịt luộc chín cho cá ăn ngày 3 - 4 lần. Trước khi cho ăn phải kiểm tra thức còn thừa hay thiếu để điều chỉnh cho phù hợp, cứ hai tuần trộn thêm Vitamin C và kháng sinh vào thức ăn để phòng bệnh cho cá, 1 - 2 tuần phải vệ sinh giai ương 1 lần. Sau hai tháng cá sẻ đạt trọng lượng 20g/con.


- Ương cá Lóc trong ao đất: Diện tích ao: 100 - 300 m2, ao sâu 0,8 - 1m. Ao cần tẩy dọn sạch, bón lót phân gây màu nước trước khi ương để gây động vật phù du làm thức ăn ban đầu, mỗi tuần cần bón thúc 1 lần phân ủ mục. Mật độ ương từ 30 - 40 con/m2. Từ ngày thứ 20 trở đi cho cá ăn bằng cá tạp, tép băm nhỏ là chính. Cần cho cá ăn đều, no, đủ, cứ 10 - 15 ngày san thưa và lọc cá một lần.

2. Nuôi cá lóc thương phẩm
2.1 Nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất
- Mùa vụ nuôi: Do nguồn cá giống còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nên mùa vụ thả nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết hàng năm. Thông thường mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.

- Giống nuôi: Giống cá lóc chọn thả nuôi phải có kích cở đồng đều, khỏe mạnh, nhiều nhớt, không bị thương tích hay bệnh tật. Cở cá giống phải đạt từ 20 - 30g/con, trong giai đặt ở ao đất mật độ thả từ 60 - 90 con/m3 là tốt nhất.

- Thức ăn: Thành phần thức ăn: Cá lóc là loài cá ăn động vật, thành phần thức ăn bao gồm nhiều loại động vật tươi sống như: cá, tép, ếch nhái... Trong quá trình nuôi, có thể tập luyện cá giống quen dần với loại thức ăn chế biến từ cá nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp tấm cám, bắp, và VitaminC...có hàm lượng protein cao hơn 20 % hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế biến để nuôi cá.

- Khẩu phần ăn: Khẩu phần thức ăn cho cá hàng ngày sẽ được định lượng cho phù hợp với các nhu cầu dinh dưỡng và tình hình sức khỏe ở các giai đoạn phát triển của cá có thể tóm tắt ở bảng sau:

Khẩu phần thức ăn cho cá Lóc (% so với trọng lượng cá thả nuôi)


- Cách cho cá Lóc ăn: Thông thường ở thời điểm đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn; đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp vào bè nuôi. Việc dùng sàn cho cá ăn được kẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi.

- Chăm sóc và quản lý: Hoạt động chăm sóc và quản lý cá lóc cần phải được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động này bao gồm: kiểm tra giai ( hệ thống dây, lưới...) và tình hình sức khỏe của cá nuôi, vệ sinh giai tránh rong bám nhiều gây mùi hôi thối.

- Thu hoạch: Để đạt kích thước thương phẩm, thời gian nuôi cá Lóc thường ít nhất là 6 tháng, thông thường là 7 - 8 tháng. Trọng lượng cá khi thu hoạch có thể đạt kích cở trung bình 1,2 - 1,5 kg/con. Trước khi thu hoạch 1-2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá bị chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt nhằm hạn chế cá bị sây sát. Vợt thu hoạch cá phải không có gút, các phương tiện khác phải nhẳn. Sau khi thu hoạch có thể dùng ghe đục hoặc thùng chứa để vận chuyển.

2.2 Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất
- Kỹ thuật nuôi cá lóc ở ao đất chưa được phổ biến nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên ở một số nước Châu Á khác nghề nuôi cá lóc trở thành một hoạt động thông thường đối với nghề nuôi thủy sản nước ngọt.

- Trong quá trình nuôi, để góp phần nâng cao năng suất, các giải pháp kỹ thuật thông thường cần chuẩn bị tốt ao nuôi tránh cá thất thoát.

- Chuẩn bị ao
+ Diện tích ao: 100 - 1000 m2, độ sâu: 1,5 - 2 m, nhiệt độ 23 – 32 độ C, pH
6.5 - 8.
+ Ao được cải tạo, dọn dẹp môi trường xung quanh, xãm lổ mọi, cống bọng chắc chắn. Bờ bao phải cao hơn đỉnh lủ cao nhất 0,5m. Dùng lưới chắn hoặc đăng tre cao 0,8 - 1m để tránh cá nhảy ra ngoài.
+ Mật độ thả nuôi: Mật độ nuôi trung bình 30 - 50 con/m2, không nên nuôi quá dày ảnh hưởng đến sức lớn của cá. Mật độ nuôi tùy thuộc vào kích cở cá giống thả, có thể thực hiện theo bảng đề nghị sau:

Mật độ nuôi cá Lóc trong ao đất


- Cho ăn và quản lý chăm sóc
+ Thức ăn giống như ở nuôi cá bè, khẩu phần ăn 5 - 7 % trọng lượng cá.
+ Dùng sàng để cho cá ăn và dể theo dõi cá. Ngày cho ăn hai lần vào buổi sáng và buổi chiều.
+ Thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động của cá. Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ 2-3 tuần thay nước một lần. Nếu có điều kiện thì cho nước lưu thông nhẹ thường xuyên.

2.3 Phòng và trị bệnh cho cá nuôi
- Cần định kỳ 15 ngày/lần sát trùng ao nuôi bằng vôi bột với liều lượng 2 - 4 kg/100m2, vôi được hoà tan và lấy nước trong tạt đều khắp ao để phòng bệnh cho cá.

- Một số bệnh thường gặp
+ Bệnh gió: Triệu chứng cá lồi mắt, bơi lờ đờ ở ven bờ. Dùng khoảng 200g lá trầu ăn, 200g cỏ mần trầu giã lấy nướctrộn với 150 ml dầu lửa và trộn đều vào thức ăn để cho cá ăn, xác bã rãi đều xuống ao.
+ Bệnh đỏ xoang miệng: Dùng cỏ mực giã nát vắt lấy nước trộn thức ăn cho cá ăn, xác bã rãi xuống ao.
+ Bệnh ghẻ lở: Dùng Tetracyline trộn vào thức ăn cho cá ăn.2.4

2.4 Thu hoạch
Hạ mực nước ao còn khoảng 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Khi thu hoạch toàn bộ thì phải tát cạn. Chu kỳ nuôi kéo dài, ít nhất là 5 - 6 tháng, trọng lượng trung bình 0,8 – 1 kg/con.

Kỹ thuật nuôi cá lóc đồng, Nguồn: Ts. Dương Nhựt Long - Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ.

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

Kỹ thuật nuôi cá lồng hồ chứa

Kỹ thuật nuôi cá lồng hồ chứa


Kỹ thuật nuôi cá lồng hồ chứa by Sở NN Bình Phước | Ky thuat nuoi ca long ho chua

1. Thiết kế hệ thống lồng nuôi
1.1. Hệ thống khung lồng bằng tiếp thép
a. Vật liệu
Toàn bộ khung lồng làm bằng ống tiếp thép Φ34, mỗi cây dài 6m và ống nối thép Φ34. Thùng phuy sắt 200lít, dây thép để liên kết phuy sắt với khung lồng. Ngoài ra còn có dây neo cố định khung lồng.


b. Thiết kế khung lồng
- Khung lồng có kích thướt 24x12m, gồm 2 dãy mỗi dãy 5 ô để mắc lưới lồng nuôi, mỗi ô kích thướt 4,5x4m. Phao làm bằng thùng phuy 200 lít và được cố định với khung lồng ở những vị trí như hình vẽ.

- Các tiếp sắt Φ34, mỗi cây có chiều dài 6m được nối thẳng với nhau bằng tiếp nối Φ34. Toàn bộ các tiếp sắt dọc và ngang được hàn gắn chặt với nhau tạo thành khung lồng như hình 1, các phuy sắt làm phao được liên kết với khung lồng bằng dây thép. Lồng làm bằng lưới dệt có kích thướt 4,5 x 4x 3m có kích thướt mắc lưới (2a) 1,5cm, đáy lưới lồng được cố định dây giềng nối với đá chẻ.


1.2. Hệ thống khung lồng bằng tre
a. Vật liệu
Khung lồng làm bằng tre đặc thẳng mỗi cây dài khoảng 4m đến 5m, liên kết nhau bằng dây thép. Phao bằng phuy sắt 200lít. Toàn bộ khung lồng được cố định bằng dây neo 4 góc.

b. Thiết kế khung lồng
Khung lồng có kích thướt 16 x 10m làm thành 2 dãy, mỗi dãy 3 ô nuôi, mỗi ô thướt 5x4m để mắc lưới lồng. Các cạnh của khung lồng gồm 5cây tre ghép sát nhau rộng khoảng 0,6m bằng dây thép. Phao được làm bằng thùng phuy sắt và liên kết với khung lồng bằng dây thép. Lồng lưới có chiều sâu 2,5m, chiều sâu mức nước thả nuôi là 2,0m.


1.3. Hệ thống khung lồng bằng gỗ
a. Vật liệu
Thanh gỗ 5x10cm có chiều dài từ 4 - 6m, ốc10 dài 20cm. Phao bằng thùng phuy sắt 200lít và dây thép.

b. Thiết kế khung lồng
- Các thanh gỗ 5x10 cm có chiều dài từ 4 - 6m được liên kết bằng ốc10 dài 20cm. Phao bằng thùng phuy sắt 200 lít, được liên kết với khung lồng bằng dây thép. Khung lồng có kích thướt 14x10,5m được chia làm 2 dãy, mỗi dãy 3 ô nuôi, ô kích thướt 4,5x 4m. Khung lồng nhìn trên xuống chưa lắp ván đi có hình như sau:



- Lồng lưới có chiều sâu 3m, chiều sâu mức nước thả nuôi là 2,5 m. Như vậy kích thước mỗi lồng nuôi là 4,5 x 4x 3 m.

- Tất cả các lồng dù thiết kế bằng vật liệu gì trên các mặt của thành lồng đều có lớp lưới chắn cao 0,5 m để ngăn thức ăn trôi ra ngoài.

2. Kỹ thuật nuôi cá lồng hồ chứa
2.1. Lựa chọn địa điểm nuôi
- Địa điểm đặt lồng bè phải có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp.

- Môi trường nuôi phải đảm bảo các yếu tố sau: pH 7,0 – 8,0; oxy hoà tan > 5 mg/lít; NH3 nhỏ hơn 0,01 mg/lít; H2S < 0,01 mg/lít. Chọn nơi thông thoáng, không nên nuôi tại các điểm cuối của eo nghách. Độ sâu điểm đặt lồng trên hồ chứa có độ sâu lớn hơn 4 m tại thời điểm mực nước hồ xuống thấp nhất - Mật độ lồng nuôi trên hồ chứa không quá dày. Mỗi cụm lồng không quá nhiều lồng tốt nhất khoảng mỗi cụm nuôi khoảng10 - 15 lồng. Các cụm lồng cách nhau 10 - 15 m. Tại hồ chứa tổng diện tích lồng không quá 0,2% diện tích khu vực đặt lồng. Cụ thể là 1 ha mặt thoáng hồ chứa chỉ được nuôi 1 lồng 20m2. Nuôi nhiều hơn sẽ bị ô nhiễm không tốt.

2.2. Chọn giống và thả giống

- Con giống: Đối với nuôi thương phẩm trong lồng trên hồ chứa hiện nay chúng ta nên sử dụng cá rô phi đơn tính đực dòng GIFT hay cá rô phi đỏ (cá điêu hồng). Nên mua giống ở các cơ sở tin cậy, có chất lượng.

- Cá giống phải khỏe mạnh, không dị hình, xây xát, kích cỡ đồng đều, không bị mất nhớt. Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn, bơi chìm .

- Kích cỡ cá giống: Đối với nuôi trong lồng lưới yêu cầu kích thước cá giống trên 25 g/con. Cá giống này đã được nuôi trong ao cho đến khi đạt kích thước trên mới đưa ra thả trong lồng.

- Mật độ thả: Nuôi lồng trên hồ chứa thả 100 con/m3 lồng.

- Mùa vụ thả giống: Tốt nhất nên thả giống nuôi vào tháng 3 – tháng 10 và nuôi 2 vụ/năm.

- Cá giống mới vận chuyển về thả chung một lồng kích cỡ mắt lưới 0.2 cm để lựa chọn đưa vào các lồng nuôi thương phẩm.

- Khi thả cá, cân bằng môi trường bằng cách ngâm bao chứa cá vào lồng nuôi trong thời gian 10 – 15 phút, sau đó cho nước từ từ vào miệng túi và tiến hành thả cá.

2.3. Cho ăn
- Thức ăn cho cá rô phi sử dụng trong quá trình nuôi chủ yếu là 2 loại : thức ăn công nghiệp và thức ăn chế biến.

- Dùng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi và không tan trong nước sẽ hạn chế sự thất thoát thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm nước ao nuôi. Cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn chế biến có hàm lượng đạm 18 - 30%.

- Thức ăn chế biến được làm từ các nguyên liệu sẵn có ở địa phương để phối chế thành thức ăn cho cá rô phi. Các nguyên liệu cần tính toán hợp lý để đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng, quan trọng nhất là đạm theo nhu cầu của cá rô phi. Thành phần thức ăn chế biến ta có thể sử dụng 1 trong 2 công thức sau:
+ Công thức 1: Cám gạo 60 %+ bột ngô (bắp) 20% + bột cá 20%.
+ Công thức 2: Cám gạo 40% + bột ngô (bắp) 20% + khô dầu lạc 40%

- Các loại thức ăn được nấu chín để nguội vo lại thành nắm nhỏ để cho cá ăn trong sàn ăn. Cho cá ăn từ từ, từng ít một cho đến khi hết thức ăn, tránh hiện tượng cá tranh giành thức ăn quá mạnh, làm thức ăn tan vào nước ao gây thất thoát. Không nên cho cá rô phi ăn thức ăn dạng bột vì thức ăn bị tan trong nước vừa lãng phí vừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi.

- Thức ăn được chia đều làm 2 phần, cho cá ăn vào lúc sáng (6 - 7 h) và chiều (17 - 18h). Cho cá ăn đúng giờ để tạo phản xạ cho cá.

- Trong quá trình nuôi cần theo dõi tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Chu kỳ điều chỉnh thức ăn là 10 ngày/1lần. Cứ 10 ngày kiểm tra tốc độ sinh trưởng cá 1 lần trên cơ sở đó ước lượng được khối lượng cá trong ao. Lượng thức ăn cho ăn trong giai đoạn đầu bằng 5 - 6% khối lượng cá nuôi. Khi cá đạt cỡ 100g cho ăn 3 - 4%, khi cá đạt trên 200g cho ăn 2%.

2.4. Quản lý lồng nuôi
- Hàng ngày quan sát hoạt động của cá trong các lồng nuôi, tình hình sử dụng thức ăn và các hiện tượng bất thường khác xảy ra.

- Mỗi tuần vệ sinh lồng một lần, dùng bàn chải nhựa cọ sạch các cạnh bên lồng lưới. Việc vệ sinh lồng tiến hành trước các bữa ăn của cá.

- Trong quá trình vệ sinh cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp thời các vết rách, rạn nứt để kịp thời khắc phục các vết rách nhằm hạn chế cá đi mất.

- Loại bỏ rác trôi nổi và các vật cứng vào khu bè nuôi.

- Vào mùa mưa lũ phải kiểm tra cá dây leo bè, di chuyển lồng vào vị trí an tan khi có bão, lũ .

2.5. Thu hoạch
- Sau 4 - 5 tháng nuôi cá đạt kích cỡ cá thương phẩm có thể tiến hành thu tỉa cá đạt kích thước lớn. Ca nhỏ hơn tiếp tục được nuôi cho đến cuối vụ thu hoạch toàn bộ.

- Có thể nuôi đến 5 – 6 tháng toàn bộ cá đạt kích cỡ thương phẩm tiến hành thu toàn bộ. Sản phẩm có thể được tiêu thụ ngay tại địa phương hay chuyển các tỉnh lân cận như Gia Lai, ĐăK LăK …

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Kinh nghiệm ương cá giống

Kinh nghiệm ương cá giống


Kinh nghiệm ương cá giống by Nông Nghiệp VN | Kinh nghiem uong ca giong

1. Môi trường nước ao nuôi
- Nguồn nước cấp vào phải thật sạch, các chỉ tiêu phải nằm trong khoản cho phép: PH = 6,5 - 8,5; NH4/NH3 < 0,05 mg/l; NO2 < 0.01 mg/l. Trong đó: + Độ pH đo 2 lần vào 8h và 14h. Trường hợp pH <6,5: dùng vôi CaCO3 02 kg/1.000m3. Trường hơp pH >8,5: thay nước, giảm cho ăn, kết hợp cắt tảo bằng BKC. Liều sử dụng 0,3 – 0,4 ppm hoặc CuSO4 0,1 – 0,2ppm.
+ NH4/NH3: Nếu lớn hơn giới hạn 0,05 mg/l, phải lập tức giảm mồi kết hợp thay nước, xử lý men làm giảm NH3, bổ sung men vi sinh, cung cấp oxy viên vào ban đêm.
+ NO2: Nếu lớn hơn giới hạn 0.01 mg/l, chú ý giảm cho ăn kết hợp thay nước, bổ sung men vi sinh và cung cấp thêm oxy viên vào buổi tối. Ngoài ra, xử lý muối vào buổi chiều với liều 30kg/1.000m3.

- Mực nước của ao nuôi cũng phải thay đổi theo giai đoạn. Cụ thể từ ngày thứ 8 đến 10, mực nước từ 1,5 - 1,6m; và 1,8 - 2,0m cho ngày thứ 15 - 17.

2. Phòng trừ dịch hại
- Với các loại giáp xác như ấu trùng chuồn chuồn, bấp cày, bọ gạo: Tạt dầu trên mặt nước vào buổi tối ngày thả cá bột và ngày thứ 4 sau khi thả cá. Liều sử dụng là 1,5 lít/1.000m2.

- Đối với ấu trùng ếch nhái: Vớt trứng ếch trong 3 ngày liên tiếp, từ lúc bắt đầu bơm nước.

- Ngày thứ ba đến ngày thứ năm: Sau khi bơm nước, quan sát bờ ao dưới gió có nòng nọc, dùng vôi tạt xuống nước xung quanh bờ và dùng vợt vớt khi nòng nọc nổi lên mặt nước.

3. Quản lý thức ăn
- Trong 2 tuần đầu:
+ 3 ngày đầu: Chỉ cho cá ăn thức ăn tự nhiên bằng các chế phẩm tạo thức ăn tự nhiên như Super Benthos trước khi thả 1 ngày, liều 5 - 10kg/1.000m2 ao.
+ Ngày thứ 3 và ngày thứ 9: Ngưng cho cá ăn, xử lý nước bằng Iod 0,15ppm vào buổi chiều.
+ Ngày thứ 11 - 13 cho ăn thuốc trị nội ngoại ký sinh trùng, sử dụng VimeClear 5 - 7g/kg trộn vào thức ăn vào buổi sáng, buổi chiều cho cá ăn hỗn hợp dinh dưỡng.
+ Ngày thứ 14: Tùy theo tình hình sức khỏe cá, có thể dùng 1 trong 2 loại hóa chất BKC: 0,7 lít/1.000m3 hoặc Iod 0,15 kg/1.000m3 để xử lý.

* Lưu ý: Những ngày đầu pha loãng thức ăn, tạc đều ao, sau đó pha cô đặc dần.

- Từ tuần 3: Xuất cá chuyển ao. Lưu ýlượng cho ăn theo khả năng bắt mồi của cá và tình hìnhthời tiết, chất lượng nước ao. Tập cho cá ăn cầu 45- 60 phút/lần để gom cá nhằm kiểm soát thức ăn và sức khỏe cá.
+ Ngày 15 - 17 ngày: Cho ăn 2 lần/ngày (sáng 7h, chiều 15h), sử dụng thức ăn dạng mảnh 01 (loại MINI 40 6306 M1 của GreenFeed), trộn hỗn hợp dinh dưỡng.
+ Từ ngày 18 trở đi: Cho ăn 3 lần/ngày (Sáng 7h, trưa 10h30, chiều 16h), sử dụng thức ăn dạng mảnh 01 (loại MINI 40 6306 M1 của GreenFeed) và viên nổi 0,8 li (loại MINI 35 6316A của GreenFeed), trộn hỗn hợp dinh dưỡng.
+ Ngày thứ 21, 28, 35: Ngưng cho ăn, xử lý nước. Tùy theo tình hình sức khỏe cá có thể dùngBKC: 0,7 kg/1.000m3 hoặc Iod 0,2 kg/1.000m3 để xử lý.

4. Kỹ thuật chăm sóc
- Cụ thể ngày thứ 3 và 9: Sử dụng Iod 0,15 kg/1.000m3; Ngày thứ 14: Tùy theo tình hình sức khỏe cá có thể dùng: BKC: 0,7 kg/1.000m3 hoặc Iod 0,15 kg/1.000m3. Ngày thứ 21, 28, 35: Ngưng cho ăn, xử lý nước. Tùy theo tình hình sức khỏe cá có thể dùng BKC: 0,7 kg/1.000m3 hoặc Iod 0,2 kg/1.000m3.

- Trước thu hoạch 2 ngày, có thể chọn CuSO4: 0,3 kg/1.000m3 hoặc BKC: 0,7 kg/1.000m3 để xử lý nước.

- Ngoài ra có thể bổ sung thêm dinh dưỡng tăng cường sức đề kháng co cá.

5. Thu hoạch cá hương


- Trước khi thu hoạch, cho ăn thuốc sổ ký sinh trùng 2 - 3 ngày và dinh dưỡng bổ sung từ 3 - 5 ngày. Ngưng cho cá ăn và tắm cá bằng Chorine hoặc BKC trước khi kéo lưới 36 - 40 tiếng.

- Trong điều kiện nuôi bình thường: Sau 28 ngày cá đạt cỡ 1.000 - 1.500 con/kg; Sau 35 ngày: 500 - 800 con/kg; Sau 42 ngày: 200 - 250 con/kg.

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Kỹ thuật ương cá giống

Kỹ thuật ương cá giống


Để ương cá thành công phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật từ cách chọn ao đến cách chăm sóc, thu hoạch. Hải Dương online giới về kỹ thuật ương cá giống cá mè trắng, mè hoa, trắm cỏ và cá trôi.


1. Ương cá bột lên cá hương
Do các cơ quan dần dần hình thành và hoàn thiện nên khả năng vận động và tự vệ của cá còn kém, khả năng chịu đựng môi trường kém, đối tượng địch hại lại nhiều. Sự thay đổi pH, oxy, các chất khí độc của môi trường đều có thể làm chết cá hàng loạt. Ở giai đoạn này cá có cường độ trao đổi chất lớn, đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao. Vì vậy phải tạo điều kiện môi trường thuận lợi và cho cá ăn đầy đủ để cá lớn nhanh, đạt tỷ lệ sống cao.

1.1 Lựa chọn ao ương
- Ao gần nguồn nước tốt và có điều kiện chủ động cấp thoát nước.

- Ao có diện tích vừa phải 300 – 1.000 m2 , mức nước sâu 1,2 – 1,5 m. Ao có dạng hình chữ nhật ngay ngắn, đáy ao phẳng. Độ dầy của bùn ở đáy ao vừa phải 15 - 20cm.

- Ao nhận được nhiều ánh sáng, không bị cớm rợp.

1.2 Chuẩn bị ao ương
- Tát cạn ao sau đó tẩy dọn ao để tạo ra môi trường ao nuôi thuận lợi. Dùng vôi bột tẩy ao: 7 - 10kg/100m2 (Tuỳ độ chua của đáy ao mà tăng hay giảm lượng vôi cho phù hợp). Vôi có tác dụng tiêu diệt cá dữ, cá tạp, các đối tượng địch hại, ký sinh trùng, ngoài ra còn làm xốp đáy, tạo ra sự thoáng khí của đáy, giúp cho vi sinh vật chuyển hóa đạm, lân hoạt động.

- Bón lót: làm tăng chất dinh dưỡng cho ao, gây thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao. Bón lót trước khi thả cá 3 - 4 ngày, không bón quá sớm hoặc quá muộn. Bón phân chuồng 30 - 50 kg/100m2.

- Lọc nước vào ao cẩn thận để tránh cá tạp và sinh vật hại cá vào ao.

1.3 Mật độ ương
- Cá mè trắng: 20.000 - 30.000 con/ 100m2.

- Cá mè hoa: 20.000 - 25.000 con/ 100m2.

- Cá trắm cỏ: 20.000 - 25.000 con/ 100m2 .

- Cá trôi: 25.000 - 30.000 con/ 100m2

- Cá chép: 15.000 - 20.000 con/ 100m2

1.4 Quản lý và chăm sóc
Phải đảm bảo nước ao có chất lượng tốt, đủ dinh dưỡng cho cá. Tăng dần mực nước trong ao để mở rộng môi trường hoạt động của cá. Bón phân chuồng 30 - 50 kg/100m2/tuần, phân xanh bón từ 30 - 40 kg/100m2/tuần. Cho cá ăn thức ăn tinh hàng ngày từ 0,2 – 0,4 kg/10.000 cá bột. Rải thức ăn đều khắp ao. Trong tuần đầu tiên thức ăn tinh phải được nấu chín. Sau 10 ngày phải tiến hành luyện cá bằng cách dùng cào, vồ xáo trộn đáy ao để cá tăng cường vận động và có sức chịu đựng.

2. Ương cá hương lên cá giống
2.1 Đặc điểm của giai đoạn ương từ cá hương lên cá giống
Khi kết thúc giai đoạn ương cá hương, ở các loài cá có sự phân hoá thức ăn theo loài: cá mè trắng ăn thực vật phù du, cá mè hoa ăn động vật phù du, cá chép ăn sinh vật đáy, cá trôi ăn mùn hữu cơ, v.v. Nếu cứ tiếp tục ương theo chế độ từ cá bột lên cá hương thì không phù hợp.

2.2 Lựa chọn ao ương và chuẩn bị ao ương
Tương tự như ương cá bột lên cá hương, song diện tích lớn hơn, thường từ 1.000 – 2.000m2, mức nước sâu từ 1,5 - 2m.

2.3 Mật độ
- Cá mè trắng: 2.000 - 3.000 con/100m2.

- Cá mè hoa: 2.000 - 2.500 con/100m2.

- Cá trắm cỏ: 20.00 - 2.500 con/100m2

- Cá trôi: 2.500 - 3.000 con/100m2

- Cá chép: 1.500 - 2.000 con/100m2

2.4 Quản lý và chăm sóc
- Đối với cá trắm cỏ không cần bón phân mà cho ăn thức ăn trực tiếp như bèo tấm, bèo hoa dâu. Lượng bèo tăng dần theo cỡ cá: cá từ 3 - 5 cm chỉ cho ăn từ 20 - 30kg/10.000 cá/ngày, cỡ cá 5 - 8cm cho ăn từ 80 - 100kg bèo/ngày. Cho cá ăn thức ăn tinh cùng một lúc với thức ăn xanh và cũng tăng dần từ 2 - 4 kg/1 vạn cá/ngày theo sự tăng trưởng của cá.

- Đối với cá mè, cá trôi cho ăn thức ăn tinh với lượng từ 2 - 4 kg/1 vạn cá/1 ngày. Bón phân chuồng từ 40 - 50 kg/100m2/tuần, phân xanh từ 30 - 40 kg/100m2/1 tuần. Bón phân hoá học (gồm phân đạm và phân lân) theo tỉ lệ đạm/lân là 2:1, bón từ 0,5 - 1kg/100m2/lần. Cứ 3 - 5 ngày bón 1 lần. Khi bón phân hoá học phải hoà thành nước để té đều khắp ao.

2.5 Thu hoạch cá giống
Trước khi thu hoạch phải dọn sạch bờ ao và vớt hết cuộng phân xanh và ngừng cho ăn từ 2 - 3 ngày. Phải luyện cá từ 3 - 4 ngày liền vào các buổi sáng sớm bằng cách sục bùn khắp đáy ao làm cho nước đục, ngày sau đục nhiều hơn ngày trước. Thu cá bằng lưới, gạn hết cá mới làm cạn để thu toàn bộ. Tuyệt đối không thu cá khi nhiệt độ nước trên 30 độ C.

Kỹ thuật ương cá giống, Nguồn: Trung tâm khuyến nông khuyến ngư quốc gia.