Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôm Thẻ - Tôm Sú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôm Thẻ - Tôm Sú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Thị trường tôm đã quay đầu

Thị trường tôm đã quay đầu



Thị trường tôm đã quay đầu by Tổng cục TS | Thi truong tom da quay da

Theo báo cáo của Vụ Nuôi trồng (Tổng cục Thủy sản), tính đến hết tháng 10, diện tích thả nuôi tôm nước lợ trên cả nước là 657.180 ha (bằng 101% so với cùng kỳ năm 2011), trong đó diện tích nuôi tôm sú là 621.601 ha, diện tíchnuôi tôm thẻ chân trắng là 35.579 ha. Diện tích đã thu hoạch tôm là 403.891 ha (bằng 143,9% so với cùng kỳ năm 2011), trong đó diện tích thu hoạch tôm sú là 391.155 ha, diện tích thu hoạch tôm chân trắng là 12.736 ha.



Video hội nghị tổng kết ngành Thủy sản về tôm

Video hội nghị tổng kết ngành Thủy sản về tôm 


 Video hội nghị tổng kết ngành thủy sản về tôm by Vasap | Video hoi nghi tong ket nganh thuy san


Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Quy trình kỹ thuật nuôi tôm Thẻ vùng nước ngọt

Quy trình kỹ thuật nuôi tôm Thẻ vùng nước ngọt 


Quy trình kỹ thuật nuôi tôm thẻ vùng nước ngọt by Viện NCNTTS | Quy trinh ky thuat nuoi tom the vung nuoc ngot

1. Cải tạo ao và diệt tạp 
- Đối với ao mới xây dựng đưa vào nuôi lần đầu, cần san bằng nền đáy, kiểm tra lại bờ và dùng vôi Ca(OH)2 để vệ sinh, khử chua nền đáy.

- Đối với ao đã nuôi, sau mỗi vụ nuôi cần làm vệ sinh đáy ao. Tháo cannj nước vớt sạch lớp bùn đáy dơ lên mặt ao, phơi nắng đáy ao để diệt tạp và mầm bệnh và dùng vôi Ca(OH)2 để vệ sinh, khử chua nền đáy.

- Có 2 phương pháp tẩy dọn ao tùy thuộc vào tình trạng ao có thể phơi khô được hay không.
a) Phương pháp dọn khô: 
+ Áp dụng cho những ao có thể tháo khô nước hoàn toàn.
+ Ao được tháo cạn, chất thải bùn đáy được đưa ra ngoài bằng nhân công hoặc bằng máy đến khu vực xử lý nước thải.
+ Đáy ao dọn sạch được rải vôi và tiếp tục phơi nắng.

b) Phương pháp dọn ướt: 
+ Áp dụng cho những nền đáy không thể làm khô được.
+ Dùng trâu bò bừa trục hoặc kết hợp bơm tháo để tẩy dọn.

- Bón vôi: vôi bột được rải đều trên khắp mặt đáy ao và tả ly bờ, liều lượng vôi rải tùy thuộc vào độ pH của nền đáy, được qui định theo Bảng 1.

- Nên rải vôi vào sáng sớm để tránh gió và tận dụng ánh sáng trong ngày cho khử trùng và diệt tạp.

- Sau khi bón vôi, phơi ao từ 3 – 5 ngày và cho nước vào ao tới độ sâu 30 – 40 cm, giữ nước 1 – 2 ngày, sau đó tháo cạn nước trong ao. Tiếp tục lấy nước rửa ao 2 – 3 lần để loại các chất còn lắng đọng trong cát, diệt tác nhân gây bệnh, đồng thời giảm bớt lượng vôi trong ao, giúp cho pH môi trường ao nuôi thích hợp và ổn định.

2. Gây màu nước cho ao nuôi 
- Nước sẽ được cấp cho các ao nuôi tôm qua túi lọc (lưới lọc có thể dùng bằng lưới nilon dạng hình ống mắt lưới 2a = 2 mm), đến độ sâu 0,8 – 1 m thì tiến hành gây màu nước.

- Phương pháp gây màu nước: có 2 phương pháp sử dụng: phân vô cơ và phân hữu cơ, được qui định theo Bảng 2.
- Sau 4 – 7 ngày, nước lên màu tảo (xanh hay vàng đọt chuối non), đạt độ trong 40 – 50 cm thì tiến hành thả giống. - Cần thiết bón thêm các chế phẩm sinh học xử lý đáy, nước ao. Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

3. Thả tôm giống 
- Trước khi thả giống phải kiểm tra các chỉ tiêu môi trường nước ao nuôi đạt yêu cầu môi trường thả nuôi như Bảng 2. Trước khi thả tôm 1 – 2 giờ phải rải muối NaCl với liều lượng 200 kg/1.000 m2 ao.


- Tôm giống trước khi thả nuôi phải được kiểm dịch và kiểm tra chất lượng đạt qui định tạm thười về yêu cầu kỹ thuật tôm thẻ chân trắng giống của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

- Giống phải được thuần dưỡng về độ mặn 0 – 0,5 ‰. - Mật độ thả giống: > 30 con PL/ m2 - Phương pháp thả giống: thả túi tôm xuống ao, ngâm từ 5 – 10 phút, sau đó từ từ cho tôm ra ao. Thả tôm vào lúc trời mát, tốt nhất là lúc sáng sớm hoặc chiều tối để tiện theo dõi hoạt động của tôm sau khi thả ra ao.

4. Chăm sóc nuôi dưỡng 
- Thức ăn và cho tôm ăn: khối lượng thức ăn cho tôm ăn trong một ngày đêm tùy thuộc vào lượng tôm hiện có trong ao, tình trạng sinh lý tôm (chuẩn bị lột, mới lột) và các yếu tố khí hậu thời tiết.

- Phương pháp tính lượng thức ăn cho tôm ăn: lượng thức ăn cho tôm ăn hàng ngày (g) = số lượng tôm trong ao ( con) x trọng lượng thân tôm trung bình (g/con) x % thức ăn theo trọng lượng.

- Dựa vào lượng thức ăn trong ngày mà phân bố lượng thức ăn vào các bữa ăn.

- Cần theo dõi sát sao để điều chỉnh lượng thức ăn giữa các bữa ăn cho phù hợp.

- Nhá kiểm tra thức ăn: số lượng nhá quy định trong ao 4.000 - 5.000 m2 thường là 4 nhá thay đổi tùy theo diện tích ao. Vị trí đặt nhá nên đảm bảo tính khách quan. Tránh đặt ở những nơi đáy bẩn hoặc lưu tốc dòng chảy lớn để đảm bảo việc kiểm tra chính xác. Quy cách nha thường có diện tích 0,8 x 0,8 m. Có gờ cao 15 - 20cm.

- Phương pháp cho ăn : Cho tôm ăn 4 lần vào các thời điểm : 6h,11h,17h, và 22h. Trong giai đoạn đầu (tôm dưới 1 tháng tuổi), thức ăn có kích cỡ rất nhỏ nên rất dễ bị thổi bay nếu cho ăn khô, do đó trước khi cho ăn cần trộn với một phần nước và dùng ca tạt đều các cạnh ven bờ - cách bờ 1 - 2m. Từ tháng thứ 2 trở đi thức ăn có thể cho ăn khô hoặc trộn với các chất bổ sung để ráo, rồi rải cách xa bờ 2 - 3m, có thể rải thành 2 đương cho ăn để tôm ăn hết thức ăn trong thời gian ngắn nhất. Trong quá trình nuôi cần cho tôm ăn thêm các chất bổ sung như: vitamin, prexix-khoáng, chất bổ sung canxi…(liều lượng theo hướng dẫn cảu nhà sản xuất). Nếu có đập nước, trước khi cho tôm ăn phải ngừng đập nước trước 3 phút để tôm ăn và tránh thất thoát thức ăn do dòng chảy cuốn thức ăn vào chỗ dơ ở giữa ao.

- Quản lý lượng thức ăn cho ăn: Lượng thức ăn cho ăn hàng ngày ngoài quy định theo hướng dẫn chung còn phải căn cứ vào lượng thức ăn còn trên nhá cho ăn (sàn cho ăn) để điều chỉnh cho thích hợp. Nếu trong giờ kiểm tra nhá lượng thức ăn trên nhá hết thì tăng thêm 10%lượng thức ăn vào ngày hôm sau. Ngược lại, nếu còn 20% lượng thức ăn còn trên nhá thì giảm 10% lượng thức ăn vào ngày hôm sau.

5. Quản lý nước ao nuôi 
- Việc quản lý chất lượng nước ao nuôi thông qua theo dõi điều kiện thủy lý, thủy hóa của ao nuôi hàng ngày, hàng tuần.

- Sự phát triển ổn định của tao trong ao nuôi tôm có vai trò quan trọng trong việc giữ vững môi trường nước ổn định. Việc duy trì và quản lý màu tảo ao nuôi được biểu thị qua bảng 4.

- Nước được bổ sung cho ao khi cần thiết và việc thay nước cho ao nuôi được tiến hành khi: độ sâu trong ao nhỏ hơn 25cm; sau khi xử lý Formalin 6 - 8h; tôm bắt mồi yếu.

- Trường hợp tảo phát triển quá mạnh và pH lớn hơn 8.5, cần thay 20 - 30% lượng nước trong ao nuôi hoặc có thể bón đường với liều lượng 3 - 5kg/1.000m2.

6. Quản lý đập nước, sục khí 
Bảo đảm thời gian quạt nước trong ngày, trong trường hợp khẩn cấp tôm thiếu oxy vào ban đêm, có thể bổ sung trực tiếp nước ngọt hoặc bổ sung nước giàu oxy theo liều lượng chỉ dẫn của nhà sản xuất.Thời gian đập nước được quy định theo bảng 5.

7. Quản lý sức khỏe của tôm 
- Việc quản lý sức khỏe của tôm nuôi phải được chú ý trong tất cả các khâu của quy trình kỹ thuật nuôi, từ chất lượng tôm giống thả nuôi, mật độ thả nuôi phù hợp với phương thức nuôi, thức ăn cho tôm ăn phải đảm bảo đủ cả lượng và chất, và đặc biệt quan tâm theo dõi sự biến động của các yếu tố môi trường nước để có sự điều chỉnh kịp thời. Đó là các giải pháp tổng hợp để tăng cường sức đề kháng , giúp tôm nuôi tăng trưởng nhanh,ít phát sinh bệnh.

- Hàng ngày, thường xuyên quan sát hành động của tôm vào sau giờ kiểm tra thức ăn trên nhá, cần quan sát màu sắc, phụ bộ, mang và sợi phân của tôm nhằm phát hiện sớm các sự cố bất thường về sức khỏe của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời.

- Định kỳ 10 ngày kiểm tra tốc độ tăng trưởng của tôm một lần. Tôm nuôi dưới 2 tháng tuổi dùng nhá để thu mẫu tôm, tôm nuôi trên 2 tháng tuổi dùng chài để thu mẫu. Mỗi mẫu thu từ 30 - 50 con.

8. Các hoạt động quản lý khác 
Thường xuyên kiểm tra bờ ao, hệ thống cấp tiêu nước, hệ thống sục khí và quạt nước. Thường xuyên vệ sinh lưới lọc nước, sàng ăn của tôm, vớt váng tảo, rong rêu có trong ao.

9. Thu hoạch tôm 
- Kiểm tra tôm trước khi thu hoạch: Dùng chài thu mẫu tôm để kiểm tra khối lượng và tình trạng sức khỏe của tôm để quyết định thời gian thu hoạch. Trọng lượng tôm có thể cho thu hoạch có thể là 10g/con. Không nên thu hoạch trong trường hợp tôm mềm vỏ với số lượng lớn, cần kéo dài thêm 4 - 6 ngày cho tôm cứng vỏ.


- Thời gian, biện pháp và dụng cụ thu hoạch: Trên cơ sở theo dõi kiểm tra hàng ngày, dự tính sản lượng có thể thu được để bố trí nhân lực, dụng cụ, biện pháp bảo quản và vận chuyển sản phẩm cho phù hợp. Thời gian thu hoạch tôm vào buổi sáng là tốt nhất.

- Thu tôm bằng lưới điện nhằm đảm bảo tôm sạch, chất lượng tốt, thời gian nhanh và chủ động. Sau khi thu tôm bằng lưới điện với số lượng lớn, phần ít còn lại trong ao được thu bằng tay sau khi tháo cạn nước. Tôm sau khi thu hoạch được rửa sạch, phân cỡ sơ bộ, được ướp đá trong thùng cách nhiệt rồi vận chuyển đến cơ sở chế biến. Thu hoạch và vận chuyển tôm cần yêu cầu thao tác nhanh, dụng cụ vận chuyển phải sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tôm nguyên liệu.

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Nuôi tôm trái vụ nên hay không!

Nuôi tôm trái vụ nên hay không!


Nuôi tôm trái vụ nên hay không! By ST | Nuoi tom trai vu nen hay khong!

Nuôi tôm trái vụ tỷ lệ thành công rất thấp và người nuôi thường phải chuốc lấy những hậu quả thất bại nặng nề, đây là bài học không mới đối với người nuôi tôm. Tuy vậy, vụ tôm năm 2012 này một số bà con nuôi tôm ở ĐBSCL dường như vẫn bất chấp rủi ro dẫm chân vào “vết xe đổ”, và cuối cùng cả cộng đồng người nuôi tôm phải gánh chịu những hậu quả khó lường mà họ để lại.


1. Rủi ro khi nuôi trái vụ
- Theo Chi cục Thủy sản tỉnh Trà Vinh, toàn tỉnh Trà Vinh hiện có 895 hộ thả nuôi trước lịch thời vụ trên diện tích 1.397,2 ha với 80,19 triệu con tôm giống trong tổng số 6.866 ha của 6.047 hộ đang thả nuôi. Trong đó, tính đến thời điểm này đã có có 399 hộ bị thiệt hại trên diện tích 545,4 ha (gần 40% diện tích thả sớm) với 26,19 triệu con tôm giống, tập trung ở huyện Duyên Hải và Cầu Ngang.

- Tại Sóc Trăng, ông Nguyễn Văn Khởi - Phó giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng - cho biết năm nay, toàn tỉnh có hơn 700 ha ao tôm thả giống sớm. Dù trong lịch thời vụ nuôi tôm năm 2012, tỉnh khuyến cáo nông dân chỉ nên thả bắt đầu thả tôm nuôi từ tháng 3/2012 trở đi. Kết quả là những ngày qua đã có hơn 100 ha tôm nuôi (hơn 14% diện tích thả sớm) ở thị xã Vĩnh Châu, huyện Trần Đề, Mỹ Xuyên bị chết.

- Năm 2012 này, tình trạng vi phạm chỉ thị ngắt vụ trong nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giảm mạnh so với năm ngoái. Theo kết quả báo cáo sơ bộ tình hình thực hiện chỉ thị ngắt vụ nuôi tôm năm 2012 của các địa phương, toàn tỉnh có khoảng 40 ha ao tôm thả nuôi sớm so với thời gian cho phép của chỉ thị ngắt vụ (được phép thả giống sau ngày 15/1), giảm gần 90% so với 342,6 ha của năm 2011. Trong đó, diện tích tôm nuôi bị dịch bệnh chết chiếm hơn 50% diện tích ao tôm thả giống sớm.

- Trên đây là những con số thống kê được, thực tế diện tích tôm nuôi bị thiệt hại có thể còn cao hơn nhiều. Ông Trần Thanh Phong là chủ đại lý kinh doanh thức ăn, thuốc thú y thủy sản đồng thời cũng là hộ nuôi tôm ở xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông (Tiền Giang) cho biết: “Hơn 70% hộ nuôi tôm “trái vụ” ở xã Phước Trung này bị “rớt giữa đường” (tôm bệnh chết) do bị hoại tử gan, đốm trắng nhưng người nuôi tôm sợ nhiều người biết nên không báo với cơ quan chức năng.

2. Chưa chắc bán được giá
- Nhiều người nuôi tôm đã quan niệm rằng, nuôi tôm vụ nghịch để bán được giá, có lợi nhuận cao nên không nghĩ đến hậu quả. Đến khi tôm nuôi bị bệnh chết, họ hối hận thì cũng đã muộn rồi. “Cũng vì muốn có tôm bán sớm hơn những hộ nuôi khác để được giá cao chứ tôi đâu nghĩ rằng kết quả lại ra nông nổi này”, ông Nguyễn Văn Rô có ao tôm 4.000 m2 thả sớm hơn chỉ thị ngắt vụ 10 ngày và bị thiệt hại do bị bệnh gan ở xã Tân Thạnh, huyện Tân Phú Đông (Tiền Giang) buồn bã nói.

- Trên thực tế, phần lớn tôm nuôi không được tiêu thụ trong nước mà được chế biến xuất khẩu vì vậy giá tôm nguyên liệu trong nước phụ thuộc rất lớn vào thị trường thế giới. Điều này đã được ông Mai Thành Lộc - Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tiền Giang khẳng định với bà con nuôi tôm trong một cuộc hội nghị lấy ý kiến Chỉ thị ngắt vụ nuôi tôm được tổ chức gần đây.

- Theo ông Lộc, tôm Việt Nam chủ yếu xuất khẩu và Việt Nam cũng chỉ là một nước có thế mạnh về xuất khẩu tôm bên cạnh các nước sản xuất tôm lớn trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc… nên giá tôm trong nước bị ảnh hưởng bởi cán cân cung cầu tôm trên thị trường thế giới chứ không phụ thuộc nhiều vào nguồn cung trong nước.

- Số liệu thống kê giá cả tôm nuôi năm 2011 của Chi cục Thủy sản tỉnh Tiền Giang cho thấy, thời điểm thu hoạch vụ nghịch (tháng 10 - 12) tôm sú loại 40 con/kg chỉ có giá 145 - 155 ngàn đồng/kg, tôm sú loại 30 con/kg có giá 175 - 190 ngàn đồng/kg, giảm 20 – 25 ngàn đồng/kg so với vụ thuận (tháng 6 - 8); tôm thẻ chân trắng loại 100 con/kg có giá 68 - 75 ngàn đồng/kg, giảm 12 - 17 ngàn đồng/kg.

3. Hậu quả khó lường
- Chẳng phải tự nhiên cơ quan chức năng “bày ra” chỉ thị ngắt vụ, lịch thời vụ, rồi dựa vào đó mà không cho người dân thả tôm nuôi, hạn chế khả năng làm giàu của người dân, mà vấn đề chính ở đây chính là lợi ích của chính người nuôi tôm, của cả cộng đồng nuôi tôm.

- Đại diện Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, cho biết có trường hợp chủ xe vận chuyển tôm giống vi phạm thời gian thả nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang theo chỉ thị ngắt vụ của UBND tỉnh nhưng người này chẳng những không biết lỗi mà còn lớn tiếng cho rằng: “Nhà nước làm khó dân, không giúp người dân làm giàu thì thôi chứ sao lại cấm”. Đây quả là một số ít người dân thiếu ý thức, kém hiểu biết làm tăng hiểm họa cho cả cộng đồng người nuôi tôm.

- Thật vậy, theo các tài liệu khoa học, thời gian ngắt vụ là nhằm để ao nuôi có thời gian nghỉ, để cải tạo ao cho tốt, cắt đứt mầm bệnh giữa 2 vụ nuôi liên tiếp nhau, từ đó từ đó duy trì hiệu quả giúp nghề nuôi tôm phát triển bền vững. Ngược lại, nếu vì lợi ích trước mắt mà thả nuôi liên tục thì các vụ tôm càng về sau rủi ro càng cao. Thêm vào đó, ao nuôi nhanh chóng bị lão hóa, mầm bệnh nhiều và vùng nuôi tôm đó nhanh chóng trở thành “vùng nuôi tôm chết”.

- Theo Chi cục Thủy sản tỉnh Tiền Giang, nguyên nhân dẫn đến rủi ro cao trong những ao nuôi tôm thả nuôi trong thời gian ngắt vụ có rất nhiều. Đầu tiên là chất lượng con giống, bởi trong thời gian ngắt vụ, điều kiện khí hậu không thuận lợi cho hoạt động sản xuất giống. Do đó, chất lượng giống sản xuất ra khó đáp ứng cho nhu cầu nuôi thâm canh và bán thâm canh, nhất là thời điểm điều kiện thời tiết không thuận lợi cho sự phát triển của tôm nuôi. Lúc này, khả năng mầm bệnh phát triển là rất cao và đương nhiên là tỷ lệ thành công của những ao tôm nuôi trái vụ là rất thấp.

- Hơn nữa, trong điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, hầu hết bà con nuôi tôm không có hệ thống ao lắng, xử lý nước thải, hoặc tận dụng cả ao lắng để nuôi tôm nên nước thải và bơm bùn đáy ao sau thu hoạch sẽ được bơm thẳng ra kênh rạch mà không qua xử lý đã làm cho hệ thống kênh rạch bị bồi lắng, môi trường nước tự nhiên bị ô nhiễm nghiêm trọng. Việc xả thải liên tục, không có thời gian ngắt vụ đồng loạt để môi trường được phục hồi, mầm bệnh bị cắt đứt sẽ dẫn đến tình trạng mầm bệnh tràn lan, ao nuôi nhanh lão hóa, nguồn nước trong hệ thống kênh rạch trở nên ô nhiễm.

- Tiếp theo, vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả và sự bền vững của nghề nuôi tôm mà rất ít bà con chú trọng, đó là chất đất trong ao nuôi tôm. Đất thường xuyên ngập mặn sẽ làm thay đổi tính chất vật lý và hóa học của đất khiến đất rất chặt, khó thoát nước và dễ nứt nẻ sâu khi phơi khô dẫn đến chua đất khi có nước. Hàm lượng Natri trong nước mặn sẽ dễ bị hấp thu vào trong đất, từ đó các ion Natri này sẽ đẩy các chất dinh dưỡng có lợi trong đất ra ngoài dẫn đến dễ bị rửa trôi. Bên cạnh đó, ion Clo sẽ tồn tại trong đất và tích lũy dần theo thời gian dẫn đến sự suy thoái khó phục hồi của môi trường đất thường xuyên ngập mặn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho đất nuôi tôm liên tục nhiều năm sẽ không còn có hiệu quả nếu không có chế độ cải tạo hợp lý.

- Để nghề nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh phát triển một cách bền vững thì hơn ai hết, chính người nuôi phải thấy rõ trách nhiệm của mình, phải nghiêm túc thực hiện những quy định của pháp luật về thời gian ngắt vụ nuôi tôm, bảo vệ môi trường, quản lý dịch bệnh và tuân thủ khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn về mùa vụ thả nuôi để nghề nuôi tôm biển phát triển bền vững.

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Thông tin về bệnh Đốm Trắng ở Thẻ Chân Trắng

Thông tin về bệnh Đốm Trắng ở Thẻ Chân Trắng


Thông tin về bệnh đốm trắng ở thẻ chân trắng by TSTB | Thong tin ve benh dom trang o the chan trang

1. Nguyên nhân
Theo các nhà khoa học bệnh này do 1 loại virus có tên Baculovirus. Virus này có acid nucleic là DNA, kí sinh trong nhân. Virus có độc lực cực mạnh, tấn công nhiều mô tế bào khác nhau: thường trên tế bào biểu mô da. WSSV gây chết trên tất cả các giai đoạn phát triển của tôm từ ấu trùng đến tôm giống và tôm trưởng thành.
2. Triệu chứng
- Bệnh xảy ra trong giai đoạn tôm thương phẩm sau 2 tháng trở lên. Tuy nhiên, bệnh có thể xuất hiện sớm hơn từ vài 3 tuần đến 1 tháng. Vì kích thước tôm nhỏ nên đôi khi không thấy đốm trắng mà chỉ thấy đỏ thân, hay đôi khi độc lực của virus rất mạnh, chưa thấy đốm trắng tôm đã chết.

- Khi tôm bị bệnh, quan sát chúng ta thấy tôm giảm ăn đột ngột (đối với tôm thẻ chân trắng hay ăn nhiều hơn trước khi giảm ăn). Tôm lờ đờ, tấp vào bờ và chết, cơ thịt hơi đục. Đốm trắng xuất hiện ở giáp đầu ngực, đốt bụng cuối trước và lan khắp cơ thể. Đốm trắng nằm trong vỏ kitin. Bệnh thường xuất hiện lúc trời lạnh.

3. Phân bố bệnh trên thế giới
- Tôm thẻ chân trắng có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo Ðông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tinh), Châu Mỹ La tinh và Hawaii). Hiện nay, tôm thẻ được nuôi ở rất nhiều nước trên thế giới như: Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam... Trong quá trình nuôi, tôm thẻ cũng mắc 1 số bệnh truyền nhiễm như bệnh đốm trắng, bệnh Taura, bệnh còi, bệnh đầu vàng, … Đây là những bệnh nguy hiểm do virus gây ra nên khả năng điều trị rất khó.

- Bệnh đốm trắng (tên tiếng anh là White spot disease – WSSD) là loại bệnh được xác định đầu tiên năm 1990 - 1991. Bệnh này xuất hiện ở Đông Bắc Á (Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), từ đó lây sang các nước Châu Á Thái Bình Dương. Năm 1995, lần đầu tiên xuất hiện bệnh ở Tây bán cầu do Châu Mỹ nhập tôm sú Châu Á về nghiên cứu (những con tôm này có thể đã mang mầm bệnh).

- Ở Việt Nam, bệnh bùng phát lần đầu vào các năm 1994 - 1995 tại các tỉnh miền Nam và một số tỉnh miền Trung.

- Bệnh có thể lây truyền theo chiều dọc tức là virus đốm trắng (WSSV) từ bố mẹ truyền sang tôm con. Hoặc bệnh lây truyền theo chiều ngang tức là WSSV lây lan trực tiếp từ nước qua các vết thương tổn hay niêm mạc ống tiêu hóa. Tôm bố mẹ ăn giáp xác nhỏ có mang WSSV. Tôm có tập tính ăn đồng loại nên chúng có thể ăn các con tôm bệnh. Virus trong môi trường nước có thể lây trực tiếp cho tôm thẻ qua các tế bào biểu mô che phủ trên mang. Con bị nhiễm lây sang con chưa bị nhiễm khi nuôi chúng trong cùng ao.

4. Cách phòng bệnh
Bệnh đốm trắng do virus gây ra nên hiện nay vẫn chưa có phương pháp chữa trị, vì vậy, người nuôi cần phải tăng cường các biện pháp phòng bệnh sau để phòng bệnh:
- Thả tôm giống sạch bệnh (có chứng nhận kiểm dịch của địa phương).

- Hạn chế cấp nước trực tiếp vào ao nuôi, nên cấp qua ao lắng đã xử lý và nâng mực nước trong ao nuôi đạt 1,0 – 1,2m.

- Kiểm tra thường xuyên màu sắc, khả năng bắt mồi, tình trạng sức khỏe của tôm để kịp thời phát hiện và xử lý.

- Cách ly ao nuôi với các tác nhân có thể lan truyền bệnh (giáp xác).

- Bổ sung vitamin C vào ao hoặc thức ăn cho tôm.

- Đối với ao tôm bệnh, người nuôi nên vớt tôm chết ra khỏi ao. Sau đó dùng Chlorin với liều lượng 30 kg/1.000 m3; hoặc formol 200 lít/1.000m3 hòa nước tạt đều ao, ngâm 7 ngày rồi tiến hành xổ ra môi trường. Khi phát hiện bệnh tốt nhất là thu hoạch ngay để giảm thiệt hại.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật

Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật


Ấn Độ giảm xuất khẩu tôm sang Nhật by TTKNQG | An Do giam xuat khau tom sang Nhat

Động thái bất ngờ của Cơ quan An toàn thực phẩm Nhật Bản yêu cầu bắt buộc phải kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ đã làm giảm hẳn lượng tôm mà Nhật nhập khẩu từ các bang ở Ấn Độ như Andhra Pradesh và Orissa.
 
- Nhiều hộ nuôi tôm ở hai bang trên đang rất lo lắng về tình hình xuất khẩu tôm sang Nhật Bản - một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Ấn Độ (60% sản lượng tôm của bang Orissa được xuất sang Nhật), kể từ sau khi Nhật Bản phát hiện dư lượng ethoxyquin trong tôm Ấn Độ xuất sang nước này và ban hành lệnh bắt buộc kiểm tra dư lượng chất ethoxyquin trong tôm Ấn Độ kể từ đầu tháng 8 vừa qua. Việc Nhật Bản đột ngột hạ mức dư lượng ethoxyquin trong tôm nhập khẩu từ Ấn Độ xuống 0,01 ppm mà không thông báo trước cho các nhà xuất khẩu hay cơ quan chức năng của Ấn Độ, đã tác động mạnh tới lĩnh vực xuất khẩu tôm của Ấn Độ: hàng loạt lô tôm của Ấn Độ bị trả về, nhiều công ty phải tạm ngừng xuất khẩu tôm sang thị trường này và các nhà xuất khẩu không dám tiếp tục thu mua tôm từ người nuôi, giá tôm Ấn Độ trên thị trường thế giới giảm từ 20 - 25%.

- Chính phủ Ấn Độ đã cử nhiều đoàn sang đàm phán với cơ quan chức năng của Nhật Bản nhưng tình hình chưa được cải thiện. Vào đầu tháng 9 vừa qua, Cơ quan Phát triển xuất khẩu thủy sản Ấn Độ (MPEDA) cũng cử một phái đoàn của MPEDA do Chủ tịch cơ quan này dẫn đầu, tới Nhật Bản để tái khẳng định với các nhà chức trách Nhật Bản rằng sản phẩm tôm xuất khẩu của họ là “hoàn toàn an toàn” và mức dư lượng ethoxyquin trong tôm do Nhật Bản đơn phương áp đặt (chỉ là 0,01 ppm) là “phi lý vì không dựa trên các nghiên cứu khoa học tầm quốc gia và quốc tế”. Đoàn công tác trên cũng đã gặp Bộ trưởng Sức khỏe, Lao Động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản Yoko Komiyama yêu cầu xem xét và can thiệp gấp vấn đề trên. Bộ trưởng Komiyama đã chuyển vấn đề này sang cho ủy ban an toàn thực phẩm Nhật Bản xem xét và giải quyết.

- MPEDA cũng chỉ ra rằng không có các tiêu chuẩn quốc tế nào đối với giới hạn tối thiểu cho dư lượng chất ethoxyquin trong tôm do chưa có chứng cứ khoa học thuyết phục nào cho thấy nó có hại cho sức khỏe con người.

- Theo thống kê của Cơ quan Quản lý Nghề cá biển Mỹ (NMFS), trong năm 2011, Ấn Độ là nước cung cấp tôm lớn thứ ba cho thị trường Nhật Bản sau Thái Lan và Việt Nam, với 30.936 tấn, tăng 9,1% so với năm 2010.

- Số liệu ngày 1/10 của Bộ Thương mại Ấn Độ cho biết, xuất khẩu của Ấn Độ từ tháng 4 - 8/2012 giảm 5,96% xuống còn 119,5 tỷ USD, so với 127,5 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái; trong khi nhập khẩu giảm 6,2% xuống mức 191,1 tỷ USD. Thâm hụt mậu dịch của Ấn Độ trong thời gian này là 71 tỷ USD.

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

Tìm hiểu bệnh đóng rong trên tôm Sú

Tìm hiểu bệnh đóng rong trên tôm Sú 

Tìm hiểu bệnh đóng rong trên tôm sú by C.ty UVVN | Tim hieu benh dong rong tren tom su

1. Tổng quan
 - Tôm sú (P. monodon) là đối tượng nuôi nước lợ quan trọng và phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Nuôi tôm sú thành công đã và đem lại nguồn thu nhập lớn cho nhiều hộ dân ven biển ĐBSCL. Hình thức nuôi tôm đa dạng như thâm canh, bán thâm canh và quảng canh cải tiến phù hợp cho quy mô hộ gia đình.


- Tuy nhiên, hiện nay tình hình bệnh xảy ra thường xuyên làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Bên cạnh những bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm sú nuôi thâm canh do tác nhân vi rút hay bệnh liên quan đến gan tụy thì bệnh do các sinh vật bám (bệnh “đóng rong”) cũng gây thiệt hại đáng kể cho nghề nuôi. Các sinh vật bám gây bệnh “đóng rong” bao gồm động vật nguyên sinh, vi khuẩn dạng sợi, tảo bám, vi nấm...
Tôm sú bị bệnh đóng rong 
A: Tôm sú bị đóng rong khắp cơ thể 
B và C: Mang tôm chuyển màu hồng 
D: Mang tôm chuyển màu đen
E: Vỏ tôm bị hà bám
F: Vỏ tôm có lớp nhớt

 2. Dấu hiệu bệnh
 Tôm sú khi bị bệnh đóng rong có biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào những loại sinh vật bám và cả những chất bẩn bám trên bề mặt cơ thể (Hình 1A, E và F). Hiện tượng đóng rong ở mang tôm thường làm cho mang đổi màu thậm chí bị đen (Hình 1B, C và D). Hiện tượng đóng rong ở vỏ tôm thường làm vỏ tôm trơn giống như phủ lớp nhớt, vỏ tôm trông có tảo bám trên bề mặt, vỏ tôm không sạch. Bệnh đóng rong rất dễ nhận biết, toàn thân bị dơ, tập trung ở phần đầu ngực hay toàn thân, mang và các phụ bộ. Tôm bị bệnh đóng rong, trên vỏ thường có màu xanh của tảo, màu đen khói đèn hay màu xám đục giống như bùn. Tôm bị bệnh này rất yếu, bỏ ăn, ít di chuyển và cặp mé bờ, đồng thời mang thường bị tổn thương hoặc biến đổi màu sắc. Tôm bị bệnh đóng rong thì hoạt động khó khăn. Bệnh nặng phá hủy vỏ tôm và xâm nhập vào cơ thịt tôm. Ngoài ra bệnh còn tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn và ký sinh trùng xâm nhập.

3. Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh
Bệnh đóng rong xảy ra do sự phát triển của các sinh vật bám và sự tích tụ các vật chất vô cơ trên bề mặt cơ thể tôm. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những tôm có sức khỏe kém. Tôm yếu không thể tự làm sạch cơ thể hay cũng không lột xác bình thường như những tôm khác vì thế trên vỏ tôm thường bị các chất dơ bẩn bám vào. Bên cạnh đó điều kiện ao nuôi xấu thường làm tôm bị suy yếu, các chất dinh dưỡng ngày càng tăng trong quá trình nuôi thúc đẩy sự phát triển của các sinh vật gây bẩn bề mặt. Các loài sinh vật có thể gây bệnh đóng rong ở tôm bao gồm động vật nguyên sinh Zoothamnium spp., Vorticella spp., Suctoria spp.; các động vật chân tơ (barnacles); tảo Spirulina subsalsa, Schizthrix calcicola, Enteromorpha sp., Amphora sp., Nitszchia sp.; nấm Fusarium sp.; vi khuẩn dạng sợi Leucothrix spp. và các loại khác. Bệnh dễ xảy ra ở những ao nuôi có mức nước thấp, rong và tảo phát triển nhiều, những ao có đáy dơ hoặc nguồn nước xấu, nhiều chất hữu cơ.
 
Đặc điểm hình thái của tác nhân gây bệnh 
A: Acineta sp.
B và C: Zoothamnium sp.
D: Epistylis sp.
E: Vi khuẩn dạng sợi Leucothrix mucor trên mang tôm

4. Phương pháp phòng bệnh
 - Bệnh đóng rong gây ra bởi các sinh vật bám khác nhau nên phải chú ý dấu hiệu ban đầu để xử lý hiệu quả nhất. Nên cải tạo chất lượng nước, cho ăn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng để kích thích tôm hoạt động và lột xác thường xuyên. Chỉ xử lý tôm bằng hóa chất khi nào bệnh kéo dài dù đã cải thiện chất lượng nước. 

- Cung cấp đầy đủ oxy giúp tôm dễ dàng lột xác hơn. Sử dụng men vi sinh định kỳ. Quản lý chất lượng nước ao tốt, ổn định tảo trong ao và luôn đảm bảo nhu cầu oxy cho tôm.

5. Phương pháp trị bệnh
 - Có thể dùng formalin (37 - 40% formaldehyde) với liều lượng thường dùng là 25 - 30 mL/m3 nước ao nuôi, nên dùng ban ngày và sục khí liên tục trong quá trình xử lý. Formalin có tác dụng trực tiếp diệt sinh vật bám và kích thích sự lột xác của tôm.

- Có thể dùng BKC 80 với liều 0,8 mL/m3, đối với các loại BKC có hàm lượng hoạt chất thấp hơn thì sử dụng theo chỉ dẫn nhà sản xuất.

- Sử dụng chế phẩm vi sinh để phân hủy các chất hữu cơ để làm sạch đáy ao thường xuyên. - Sử dụng một số hóa chất diệt tảo, diệt nguyên sinh động vật khi chúng phát triển mạnh trong ao nuôi.

Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Ts. Phạm Minh Đức – Khoa Thủy sản – ĐH Cần Thơ.

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

Hiện trạng tôm chết sau khi lột vỏ ở Long An

Hiện trạng tôm chết sau khi lột vỏ ở Long An


Hiện trạng tôm chết sau khi lột vỏ ở Long An by C.ty STVN | Hien trang tom chet sau khi lot vo o long an

Trong vài tháng trở lại đây bà con nuôi tôm ở Long An thường gặp tình trạng tôm thẻ sau khi lột không cứng vỏ mà chết rải rác và liên tục, mặc dù số lượng tôm chết không nhiều và không đồng loạt nhưng đã mang lại những tổn thất không nhỏ cho người nuôi.


- Tôm là loài giáp xác có vỏ Kitin bao bọc bên ngoài cơ thể, sự sinh trưởng của tôm mang tính gián đoạn và đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng. Tôm muốn gia tăng kích thước hay sinh trưởng phải tiến hành lột bỏ lớp vỏ cũ để cơ thể tăng kích thước. Quá trình này thường tùy thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, môi trường nước và điều kiện dinh dưỡng của cá thể.

- Chu kỳ lột xác: là thời gian giữa 2 lần lột xác liên tiếp nhau, chu kỳ này mang tính đặc trưng riêng biệt cho loài và giai đoạn sinh trưởng của tôm. Chu kỳ lột xác của tôm con ngắn hơn tôm lớn tùy theo từng giai đoạn.

- Để lớn lên được thì Tôm phải thực hiện loại bỏ lớp vỏ kitin bên ngoài bám vào lớp biểu bì của cơ thể tôm. Giai đoạn lột vỏ của tôm chỉ xảy ra trong thời gian vài phút, bắt đầu là lớp biểu bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng nứt ra, các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các phần phụ phía sau, rút ra khỏi lớp vỏ cứng, với động tác uốn cong mình toàn cơ thể. Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1 - 2 giờ với tôm nhỏ, 1 - 2 ngày đối với tôm lớn. Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với môi trường sống thay đổi đột ngột. Trong quá trình nuôi tôm, thông qua hiện tượng này, có thể điều chỉnh môi trường nuôi kịp thời.

- Hormone hạn chế sự lột xác lột xác (MIH, molt - inhibiting hormone) được tiết ra do các tế bào trong cơ quan của cuống mắt, truyền theo sợi trục tuyến xoang, chúng tích luỹ lại và chuyển vào trong máu, nhằm kiểm tra chặt chẽ sự lột xác. Các yếu tố bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, dinh dưỡng đều có ảnh hưởng tới tôm đang lột xác. Khi lột bỏ lớp vỏ bên ngoài thì tôm sẽ hút nước để tăng kích cỡ khi lớp vỏ mới bên ngoài còn mềm, sau đó lớp vỏ mới sẽ cứng nhanh nhờ các nguyên tố vi lượng (Minerals) và Protein. Chính quá trình này làm cho tăng trưởng của tôm mang tính gián đoạn, ở mỗi lần lột xác tôm có sự gia tăng kích thước.

- Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên. Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm. Sự lột xác đi đôi với việc tăng thể trọng, cũng có trường hợp lột xác nhưng không tăng thể trọng do trong môi trường không đủ dinh dưỡng cũng như các yếu tố lý hóa trong ao nuôi không phù hợp cho quá trình làm cứng vỏ của tôm.

- Do đó, để tôm lột xác đều và phát triển tốt, ngoài việc quản lý môi trường, cần quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng của tôm. Cần cho tôm ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng bằng cách bổ sung SittoMix và Forte, cung cấp đầy đủ chất khoáng bằng cách định kỳ sử dụng khoáng tạt Sitto SeaMiner để tôm hình thành vỏ hoàn chỉnh một cách dễ dàng và cơ thể sinh trưởng tốt.

- Đến với ao nuôi của ông Sáu ở ấp Tân Hòa, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, Long An. Diện tích ao nuôi của ông khoảng 2.500 m2, tôm Thẻ thả nuôi được 45 ngày thì tôm giảm ăn và bắt đầu chết rãi rác, nguyên nhân là do sau khi lột tôm không cứng vỏ được và chết. Sau khi kiểm tra tại phòng xét nghiệm công ty Sitto các yếu tố môi trường đều tốt, sau đó ông được tư vấn sử dụng khoáng tạt Sitto SeaMiner kèm Sitto Yucca Powder thì sáng hôm sau không còn tôm chết nữa và tôm ăn lại bình thường như trước đây. Lượng tôm mềm thân cũng không còn xuất hiện mỗi ngày, từ đó ông đã tin dùng khoáng tạt Sitto SeaMiner định kỳ để phòng hiện tượng tôm mềm thân và chết như trước đây.

- Không như ông Sáu sau khi tôm bệnh mới chữa, ông Trần Văn Chín ở Ấp Đông Bình xã Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc, Long An ông đã chọn sản phẩm Sitto Mineral để sử dụng ngay đầu vụ nuôi và ông đã dùng định kỳ suốt vụ, kết quả tôm ông lớn nhanh do lột thường xuyên và nhanh cứng vỏ. Vụ nuôi vừa rồi dù giá tôm không được cao nhưng với diện tích ao 4.000 m2 ông đã có lãi rất cao. Thêm vào đó ông Chín đã tham gia chương trình Sitto Club, với số mã thẻ in trên mỗi bao bì SeaMiner ông tích lũy được trong vụ nuôi ông đã nhắn tin về công ty và đã tích lũy được hơn 2.000 điểm (tương đương 650.000 đồng) chỉ với mỗi sản phẩm này.

- Ngoài ra, nếu tôm nuôi chậm lột xác, bà con cũng có thể thay nước, việc thay nước sẽ kích thích tôm lột xác. Không nên nóng vội sử dụng các loại thuốc kích thích lột xác cho tôm vì khi vỏ mới chưa hình thành mà tôm đã lột xác sẽ dễ làm tôm chết, chỉ sử dụng khi nào tôm bị bệnh đóng rong không thể lột xác được.

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Thông tin về bệnh hoại tử cơ trên Tôm Thẻ

Thông tin về bệnh hoại tử cơ trên Tôm Thẻ


Thông tin về bệnh hoại tử cơ trên tôm thẻ by C.ty UVVN | Thong tin ve benh hoai tu co tren tom the

Bệnh hoại tử cơ là một bệnh truyền nhiễm do tác nhân vi rút gây ra (infectious myonecrosis virus – IMNV). Đây là một trong những bệnh vi rút trên tôm được phát hiện trong thời gian gần đây nhất. Năm 2002, bệnh xảy ra lần đầu tiên ở các ao nuôi tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei miền Đông Bắc Braxin. Sau đó, bệnh lây lan sang các nước khác thuộc khu vực Châu Á như Indonesia, Thái Lan và tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Quá trình lây lan của IMNV qua các châu lục khác nhau được ghi nhận là do sự nhập chuyển của tôm bố mẹ P. vannamei.

- IMNV là vi rút có vật chất di truyền là ARN mạch đôi, với kích thước 7.560bp, cấu trúc không có lớp màng bao. Phân tích phát sinh loài dựa vào gen RNA-dependent RNA polymerase (RdRp) đã phân loại IMNV vào họ Totiviridae, giống Giardiavirus.

- Tôm thẻ chân trắng được ghi nhận là vật chủ chính của IMNV do khả năng gây tỉ lệ chết cao ở loài tôm này. IMNV thường gây tỉ lệ chết cho tôm thẻ chân trắng trong khoảng từ 40 cho đến 70% quần đàn. Tuy nhiên, trong các vùng nuôi tôm thẻ chân trắng có xảy ra dịch bệnh thì tỉ lệ chết do IMNV có thể lên đến 100%. Trong điều kiện phòng thí nghiệm đã cho thấy IMNV có khả năng cảm nhiễm với hai loài tôm, tôm xanh Nam Mỹ (Penaeusstylirostris) và tôm sú (Penaeus monodon).Nhiệt độ và nồng độ muối được xem là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến quá trình bộc phát của bệnh hoại tử cơ.

- Ở giai đoạn cấp tính, tôm bệnh hoại tử cơ thường có các dấu hiệu bệnh lý như phần cơ bụng và cơ đuôi trắng đục, do vậy có thể dẫn đến hiện tượng hoại tử và đỏ ở các vùng cơ này. Trong một số trường hợp, cơ quan lympho trương to lên gấp 2-4 lần kích thước bình thường (Hình). Ao tôm nhiễm IMNV mức độ nặng có thể chết đột ngột và kéo dài trong nhiều ngày. Bệnh hoại tử cơ với tỉ lệ chết cao đột ngột, thường xảy ra vào sau các thời điểm hay các hoạt động có thể gây sốc cho tôm ví dụ chài tôm, độ mặn hay nhiệt độ thay đổi một cách đột ngột... Một số tôm bệnh chết do IMNV vẫn ở trạng thái no với ruột đầy thức ăn, đó là do tôm vừa được cho ăn no ngay trước thời điểm xuất hiện của các nhân tố gây sốc kể trên.

- Bệnh hoại tử cơ IMN trên tôm thẻ chân trắng có dấu hiệu lâm sàng và đặc điểm mô bệnh học tương tự với bệnh trắng đuôi trên tôm biển gây ra bởi một loài vi rút khác có tên là Penaeus vannamei novavirus – PvNV. Do vậy, cần lưu ý đặc điểm này trong quá trình chẩn đoán bệnh.


Hình: Bệnh hoại tử cơ do Infectious myonecrosis virus (IMNV). (a) Hình chụp dưới kính hiển vi điện tử, IMNV nhiễm tự nhiên trên tôm thẻ chân trắng ở Brazil; (b) (c) dấu hiệu bệnh hoại tử cơ trên tôm thẻ chân trắng; (d) kích thước của cơ quan bạch huyết của tôm nhiễm IMNV tăng gấp 2-4 lần so với kích thước thông thường (đánh dấu trong vòng tròn). Nguồn: Lightner, 2011.

- Tôm thẻ chân trắng ở giai đoạn ấu niên, tiền trưởng thành là thường nhạy cảm nhất với IMNV. Trong đó, cơ quan đích của IMNV được ghi nhận là cơ vân, mô liên kết, tế bào máu, và cơ quan bạch huyết. Do vậy, đây là một trong những cơ quan được sử dụng cho các qui trình chẩn đoán bệnh. Trường hợp tôm nhiễm IMNV mãn tính, cơ quan bạch huyết được ưu tiên dùng để phân lập IMNV. Chân bơi là cơ quan được khuyến cáo nên dùng cho quá trình phát hiện IMNV trên tôm bố mẹ.

- Về phương thức lây nhiễm, IMNV được xác định có khả năng truyền bệnh nếu tôm khỏe ăn tôm bệnh nhiễm IMNV. Ngoài ra, IMNV còn được ghi nhận lây lan thông qua nguồn nước. Phương thức lây nhiễm theo chiều dọc từ bố mẹ truyền qua cho thế hệ con vẫn chưa được xác định là do sự nhiễm bên ngoài trứng hay bên trong buồng trứng. Vẫn chưa có số liệu về vật truyền bệnh IMN. Tuy nhiên, do tác nhân gây bệnh hoại tử cơ có cấu trúc ARN mạch đôi, không có màng bao cho nên rất có khả năng là IMNV vẫn còn giữ khả năng lây nhiễm khi tồn tại trong ruột và chất thải của một số loài chim biển đã ăn những con tôm bệnh chết do IMNV.

- Trong các trại sản xuất tôm giống, phương thức tiệt trùng trứng và ấu trùng được xem là một trong những phương pháp phòng bệnh hiệu quả. Sàng lọc và thả tôm giống không nhiễm IMNV được xem là giải pháp phòng bệnh trong các ao nuôi tôm thịt. Trường hợp ao nuôi thịt vừa xuất hiện vài con tôm chết với dấu hiệu của bệnh hoại tử cơ, nên thực hiện các bước xử lý: (i) ổn định môi trường ao nuôi, chú trọng đến nhiệt độ, nồng độ muối, pH; (ii) tăng cường sục khí; (iii) giảm lượng thức ăn hoặc ngừng cho tôm ăn. Trường hợp bệnh xảy ra với tỉ lệ chết cao, ao nuôi tôm thịt cần được xử lý với chorin 30ppm trong vài ngày.


Bài viết đã được mua tác quyền, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Ths. Trần Thị Tuyết Hoa, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.

Sự thành thục của Tôm Sú

Sự thành thục của Tôm Sú


Sự thành thục của tôm sú by ST | Su thanh thuc cua tom su

Giới tính của tôm sú được xác định qua vị trí lỗ sinh dục và sự hiện diện của túi tinh. Tôm đực có lỗ sinh dục mở ra ở gốc đôi chân 5. Tôm cái có lỗ sinh dục mở ra ở gốc đôi chân 3, và có túi tính gắn ở gốc đôi chân 4.


- Do tôm sú đạt kích thước thương phẩm lớn hơn rất nhiều so với tuổi thành thục, nên không thể có tôm bố mẹ trong ao nuôi. Người ta dựa vào nghề khai thác tôm để thu tôm mẹ. Do không thường gặp tôm cái thành thục, và cũng cần có những kĩ thuật riêng để nhận biết và giữ cho tôm cái sống, ngư dân Đài Loan không thể cung cấp đủ tôm bố mẹ theo yêu cầu của các trại giống. Vả lại, mùa vụ hoạt động ở các trại giống ở Đài Loan là từ tháng Giêng đến tháng Năm trong khi đó tôm bố mẹ lại thu được chủ yếu từ tháng Bảy tới tháng Mười Một. Trong mùa sản xuất, nhu cầu tôm mẹ rất lớn nhưng đánh bắt không được nhiều. Sự tranh giành tôm bố mẹ của các trại tôm giống đã làm nâng cao giá tôm bố mẹ. Năm 1976, giá một con tôm mẹ cỡ lớn là 800 đôla Mĩ, năm 1977 là 1900 US$. Vì vậy thông qua Singapore, Đài Loan đã phải nhập tôm mẹ từ Philippines, Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Ngay cả khi có tôm nhập cảng, giá tôm mẹ cũng biến động từ 50 đến 500 US$. Giá cả tôm mẹ như vậy, rõ tang là cần sớm có kĩ thuật thúc đẩy noãn sào tôm phát triển, có thể từ những tôm bắt được trong tự nhiên với buồng trứng chưa phát triển hoặc từ những tôm nuôi.

- Tôm có 2 huyệt xoang ở 2 cuống mắt tiết ra kích tố ức chế sự thành thục của trứng. Cắt bỏ cuống mắt của tôm sẽ loại bỏ hoặc giảm sự ức chế này, giúp tôm thành thục. Tuy nhiên, những thí nghiệm cắt bỏ cả hai cuống mắt luôn làm tôm chết. Lần đầu tiên kích thích tôm sú thành thục sinh dục thành công ở Đài Loan nhờ kĩ thuật cắt bỏ một bên cuống mắt, đó là kĩ thuật cắt cuống mắt hay là kĩ thuật diệt nhân cuống mắt, được hoàn chỉnh năm 1977 (Chen, 1977). Kĩ thuật chuẩn lúc này là bóp nát một bên mắt ngay đầu cuống mắt, bằng kẹp hoặc bằng kềm nung đỏ. Bằng cách đốt cháy chỗ cắt sẽ giúp bít kín vết thương tránh chảy máu. Khoảng 50 – 70% tôm cái đã thành thục và đẻ trứng trong vòng 3 – 4 ngày. Sauk hi cắt mắt, tôm cái đẻ trứng nhiều lần, có khi tới 20 lần, nhưng thường là 2 – 4 lần, mỗi lần cách nhau 2 – 4 ngày, cho tới khi chết.

- Với kiểu sinh sản nhiều lần như vậy, người nuôi tôm tin chắc rằng sức sinh sản của tôm sẽ giảm và tôm con cũng yếu đi. Bên cạnh đó, một số kĩ thuật viên trại giống khi gặp trục trặc về chất lượng tôm bột cũng đổ thừa cho tôm mẹ. Một điều có thể mà một số trại đã làm là sử dụng thức ăn bổ sung để cải thiện chất lượng của những lần đẻ sau. Theo trao đổi riêng với ông Min-nan Lin của trung tâm Tainan thuộc viện nghiên cứu thủy sản Đài Loan, kích thước trứng của những lần đẻ sau biến động đáng kể, nhưng không có sự sút giảm rõ rang về sức sinh sản cũng như về sức sống của tôm bột.

- Bằng kĩ thuật cắt mắt, tôm nuôi trong ao cũng cho kết quả tốt như tôm bắt ngoài tự nhiên. TUy nhiên so với tôm tự nhiên, tôm nuôi nhỏ hơn và sức sinh sản cũng thấp hơn. Kĩ thuật cắt mắt hình như có hiệu quả với mọi tôm cái có kích thước lớn (80g trở lên, lớn hơn càng tốt), và khỏe mạnh, bất kể mức độ phát triển của tuyến sinh dục. Sau khi hoàn chỉnh kĩ thuật cắt mắt, giá tôm mẹ giảm xuống. Năm 1987, giá một tôm mẹ (dài 30 cm, năng 250 cm) nhập từ Singapore khoảng 60 – 150 US$ lúc chính vụ, và khoản 36US$ khi các trại giống không sản xuất.

- Cuống mắt của tôm có một số tuyến nội tiết, trong đó có tuyến nội tiết tạo ra kích tố ức chế quá trình lột xác. Cắt bỏ cuống mắt làm giảm lượng kích tố ức chế lột xác, giúp tôm lột vỏ và chuyển găn túi tinh. Việc này sẽ xảy ra khoảng 2 tuần một lần kể từ khi cắt mắt. Tôm cái phải được giao phối ngay sau khi lột xác, và nhận thêm tinh trùng vào túi tinh. Những con không được phối sẽ không có túi tinh, trứng đẻ ra không thể thụ tinh được. Sau khi lột xác, khi vỏ tôm còn chưa cứng, nắp đậy cơ quan sinh dục tôm cái (cũng là túi chứa tinh) còn mềm. Vào thời điểm này người ta có thể lẩy túi tinh từ con đực gắn vào túi chứa tinh của con cái. Kĩ thuật này trên tôm sú đã được phát triển ở Đài Loan từ năm 1984, nhờ đó ngày nay người ta có thể lai tạo được các loài tôm khác nhau.

- Việc di dời túi tinh ra khỏi tôm đực có thể được làm bằng nhiều cách. Tôm đực phải nặng khoảng 40g hoặc hơn, và gốc chân 5 có màu trắng. Tùy vào mức độ sẵn sàng của tôm người ta có thể ép đẩy túi tinh ra khỏi lỗ sinh dục bằng cách bóp mạnh vào gốc chân 5. Người ta cũng có thể dung kẹp nhỏ (loại kẹp của thợ sửa đồng hồ) kéo túi tinh ra khỏi lỗ sinh dục; hoặc mổ lấy túi tinh. Kĩ thuật mới hiện nay là gây sốc gián đoạn bằng dòng điện 1,6 – 4,2 V; 1 – 7,5A qua 2 điện cực gắn ở gốc chân 5 của tôm, kéo dài từ 2 – 50 giây. Để tránh tôm giãy giụa trong quá trình lấy và cắt túi tinh, người ta dùng khăn ướt quấn tôm lại, chỉ để hở ra nơi cần thao tác mà thôi..

- Ngày nay, kĩ thuật cắt mắt là biện pháp kĩ thuật căn bản trong vận hành trại tôm giống. Ở Đài Loan, nhờ có kĩ thuật này mà khối lượng công việc ở các trại giống đã giảm đi, đồng thời nó cũng làm giảm nhu cầu tôm mẹ hang năm.


Nguồn: Lo-Chai Chen (trích từ “Nuôi thủy sản ở Đài Loan, 1990).

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

Cách khắc phục rủi ro trong nuôi Tôm

Cách khắc phục rủi ro trong nuôi Tôm


Cách khắc phục rủi ro trong nuôi tôm by ST | Cach khac phuc rui ro trong nuoi tom

Theo kỹ sư Lê Anh Xuân, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Trúc Anh (Công ty Trúc Anh), thời gian gần đây, nuôi tôm công nghiệp ở các tỉnh ĐBSCL đã bộc lộ những khó khăn nhất định, như: tôm nuôi chậm lớn hơn so với những năm đầu chuyển đổi; bệnh tôm xuất hiện nhiều và diễn biến phức tạp; thời tiết thay đổi bất thường…


- Trong khi đó, các giải pháp nuôi tôm bằng quy trình hóa chất, kháng sinh trước đây chưa mang lại hiệu quả ổn định mà ngược lại do áp dụng lâu ngày đã làm cho nghề nuôi tôm đứng trước những thách thức lớn về dịch bệnh, ô nhiễm môi trường khiến nhiều hộ nuôi tôm phải lâm vào cảnh khó khăn. Điều bất cập hiện nay là một số hộ nuôi vẫn còn thiếu ý thức: xả nước thải, nước tôm nhiễm bệnh trực tiếp ra kênh rạch công cộng gây ảnh hưởng chung đến vùng nuôi. Trong khi tình trạng bồi lắng quá nhanh của các tuyến kênh dẫn đến thiếu nước cục bộ ở một số khu vực; dịch bệnh có xu hướng lây lan mạnh, khó kiểm soát. Ngoài nguyên nhân khách quan như: thời tiết biến đổi, con giống kém chất lượng, nguồn nước ô nhiễm trầm trọng... thì sự chủ quan trong quy trình nuôi, đặc biệt là việc lạm dụng hóa chất, kháng sinh đã ảnh hưởng không nhỏ đến nghề nuôi tôm ở ĐBSCL.


- Ở Bạc Liêu, mô hình nuôi tôm công nghiệp sử dụng các chế phẩm vi sinh bắt đầu xuất hiện từ năm 2003 và ngày càng phát triển mạnh về quy mô, diện tích. Mô hình nuôi này đã nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro so với sử dụng hóa chất, kháng sinh như trước đây. Theo thống kê ngành nông nghiệp Bạc Liêu, diện tích nuôi tôm công nghiệp dao động hằng năm khoảng 12.000 ha và cho đến nay số hộ sử dụng chế phẩm vi sinh định kỳ hoặc không định kỳ chiếm khoảng 90%, trong đó có trên 65% hộ nuôi đạt hiệu quả. Qua đó cho thấy, phần lớn hộ nuôi tôm công nghiệp sử dụng chế phẩm vi sinh đều đạt hiệu quả cao so với chỉ đơn thuần sử dụng hóa chất. Do đó, thực hiện quy trình nuôi tôm sạch sử dụng chế phẩm vi sinh hiện nay có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì nó tạo nên một môi trường sạch, giúp tôm nuôi tăng sức đề kháng, cho năng suất và lợi nhuận cao. Ngoài ra, môi trường nhờ đó mà không bị phá hoại, tạo thuận lợi cho người nuôi có thể khai thác lâu dài, vòng quay nhanh với chi phí thấp nhất. Thực tế chứng minh việc sử dụng hóa chất, kháng sinh trong nuôi tôm vừa đắt tiền, vừa bị thị trường, người tiêu dùng tẩy chay.

- Kỹ sư Lê Anh Xuân cho biết Công ty Trúc Anh luôn hướng tới mục tiêu phát triển nghề nuôi thủy sản bền vững ở khu vực ĐBSCL, sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng quy trình nuôi giảm rủi ro theo hướng cộng đồng, phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái và điều kiện kinh tế của các nông hộ. Công ty Trúc Anh luôn tiên phong trong ứng dụng, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tối ưu nhất để chuyển giao cho nông dân. Với diện tích 70.000 m2 (20 ao nuôi tôm tại ấp Công Điền, xã Vĩnh Trạch, TP.Bạc Liêu), qua nhiều năm nuôi khảo nghiệm, công ty rút ra cho mình một quy trình nuôi tôm sạch chỉ sử dụng các sản phẩm vi sinh do công ty sản xuất. Để tiếp tục nghiên cứu, khảo nghiệm, gần đây công ty mạnh dạn đầu tư, mở rộng thêm 9 ha (24 ao tại khu ấp Biển Tây A, xã Vĩnh Trạch Đông, TP.Bạc Liêu). Từ kết quả thực tiễn, trong nhiều năm công ty đã tận tình tư vấn, hướng dẫn, chia sẻ quy trình nuôi cho hàng nghìn lượt hộ thông qua các buổi hội thảo, tham quan trực tiếp khu nuôi tôm của công ty. Qua đó nhiều hộ dân từ nuôi tôm thua lỗ, nợ nần nay nuôi tôm hiệu quả và ổn định hơn. Hiện quy trình nuôi tôm sạch của Công ty Trúc Anh đang được nhiều hộ dân ở ĐBSCL ứng dụng rộng rãi, đều mang lại hiệu quả khả quan.

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Tác hại của Tảo độc trong ao nuôi Tôm

Tác hại của Tảo độc trong ao nuôi Tôm


Tác hại của tảo độc trong ao nuôi tôm by C.ty UVVN | Tac hai cua tao doc trong ao nuoi tom

1. Tổng quan
a) Cơ chế gây độc của tảo
- Độc tố tảo là độc tố sinh học được sản sinh ra từ tảo, chủ yếu thuộc 3 ngành: tảo hai rãnh (Dinophyta), tảo lam (Cyanobacteria), tảo silic (Diatom). Ngoài ra, tảo lông roi bám (Haptophyta) và tảo vàng kim (Chrysophyta) cũng được phát hiện có chứa các độc tố. Ở Việt Nam, đã xác định 61 loài tảo độc hại ở các vùng ven biển Bắc bộ,Trung bộ, riêng Nam bộ có khoảng 20 loài (Chu văn Thuộc, 2007).

- Cơ chế gây độc của độc tố tảo lên thủy sinh vật là làm tắc nghẽn mang hay gây độc khi phân hủy giải phóng độc tố ra môi trường hoặc có thể tích lũy trong các sinh vật và thông qua chuỗi thức ăn, chúng gây nguy hại cho các loài động vật ăn thịt bao gồm cả con người (Landsberg, 2002; Backer và ctv, 2003; Hallegraeff, 2004). Các loài động vật thân mềm có vỏ và cá sống rạn là sinh vật chủ yếu tích lũy độc tố tảo,một số sinh vật biển khác như cua, rùa biển và cá mập cũng có thể tích lũy các độc tố này (Shumway, 1990; Landsberg, 2002). Tùy loài tảo, hàm lượng độc tố phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Tảo hai rãnh Alexandrium có hàm lượng độc tố cao nhất là giai đoạn tăng trưởng (Cembella, 1998), tảo silic Pseudonitszchia độc tố được sản sinh chủ yếu vào giai đoạn ổn định (Bates, 1998) còn tảo Prorocentrum cordatum chỉ độc ở giai đoạn tàn lụi (Grzebyk và ctv., 1997).

b) Các dạng nở hoa của tảo độc
- Các loài tảo không chứa độc tố, khi nở hoa có thể tăng đến mật độ rất cao ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nước như làm cho pH, oxy hòa tan dao động lớntheo chu kỳ ngày-đêm, tăng hàm lượng ammonia, cạnh tranh dinh dưỡng, khi tảo tàn dễ gây hiện tượng thiếu oxy cục bộ trong ao nuôi, tăng hàm hàm lượng các khí độc gây chết trực tiếp đối với các đối tượng nuôi thủy sản.Một số loài thường gặp là: Gonyaulax polygramma, Noctiluca scintillans (tảo hai rãnh),Trichodesmium erythraeum (tảo lam)...


- Các loài tảo sản sinh ra các độc tố mạnh gây tác động trực tiếp đến đối tượng nuôi và cả con người (Liopo, 2001). Các dạng độc tố này thường gặp ở nhóm tảo hai rãnh, tảo silicvà tảo lam:
+ Đối với tảo 2 rãnh và tảo silic(độc tố thường tích lũy trong nhóm hai mảnh vỏ) có thể gây ra 4 dạng hội chứng: ASP (Amnesic Shellfish Poisoning) gây mất trí nhớ, DSP (Diarrhetic Shellfish Poisoning) gây tiêu chảy, NSP (Neurotoxic Shellfish Poisoning) gây bệnh trên hệ thần kinh và PSP (Paralytic Shellfish Poisoning) gây liệt cơ, độc tố được tiết ra từ các loài Alexandrium acatenella, A. catenella; Dinophysis acuta, D. acuminata, D. fortii; Pseudonitzschia multiseries…Ở loài tảo 2 rãnh sống đáy như là Gambierdiscus toxicus, Ostreopsis spp., Prorocentrum spp.... (độc tố tích lũy trong nhóm cá sống trong rạnsan hô) thường gây ra hội chứng CFP (Ciguatera Fish Poisoning) là độc tố gây bệnh cả trên hệ thần kinh và hệ tiêu hóa.
+ Độc tố tảo lam được chia thành 2 nhóm chủ yếu là độc tố gan (hepatotoxin) và độc tố thần kinh. Độc tố gan được tìm thấy trong các loài tảo như Microcystisaeruginosa, M. ichthyoblabe, M. novaceki, M. viridis, M. Wesenbergi. Trong tự nhiênhơn 65% các đợt nở hoa của tảo lam có độc tố là do Microcystis aeruginosa gây ra(Sivonen, 1990).Ngoài ra, Oscillatoria nigroviridis vừa có khả năngsản sinh ra độc tố gan hepatotoxin, vừa sản sinh ra độc tố thần kinh (Ostensvik et al., 1981). Đối vớigiống Nostoc có các loài sản sinh ra độc tố gan dạng hepta và pentapeptide như là: N. linckia, N. paludosum, N. rivulare, N. zetterstedtii.Trong khi đó, một số loài chỉ sản sinh ra độc tố thần kinh như là: Oscillatoriaformosa,Anabaena circinalis, A. flosaquae, A. hassallii, A. variabilis, A. lemmermannii, A. spiroides var. Contracta (Carmichael, 1988; Sivonen, 1990).

- Một số loài tảo không độc với người nhưng lại độc với cá và các động vật không xương sống (đặc biệt trong các hệ thống nuôi thâm canh) do phá hủy hoặc làm tắc nghẽn mang của chúng như là Chaetoceros convolutus (tảo silic), Gymnodinium mikimotoi (tảo 2 rãnh)…

2. Sự phát triển của tảo trong ao nuôi tôm
- Dall et al. (1990)cho rằng có mối liên quan mật thiết giữa phytoplankton và sự phát triển của tôm. Nhìn chung, môi trường nước ở các ao tôm khá giàu chất lơ lững, vật chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng hòa tan (Paez-Osuna, 2001), điều này phụ thuộc vào mức độ thâm canh (bao gồm: mật độ thả, nguồn nước, phân bón và thức ăn) chất thải càng nhiều thì nitơ và phospho bị thải ra ngoài môi trường càng cao và đó là điều kiện thuận lợi cho tảo nở hoa trong ao tôm (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003). Có nhiều nguyên nhân gây hiện tượng nở hoa như: bón phân bất hợp lý, sản phẩm thải từ động vật thủy sản và các điều kiện môi trường kể cả nồng độmuối. Các loài gây nở hoa chủ yếu thuộc các giống loài tảo ưa môi trường giàu dinh dưỡng. Tôm cũng có thể ăn tảo khi nó sử dụng chất vẫn ở đáy ao (Gomez-Aguirre và Martınez-Cordova, 1998). Tuy nhiên, khi tảo nở hoa trong ao tôm có nhiều bất lợi, có thể gây hại đến sinh trưởng của tôm (Ming -Yuan và Jians-Heng, 1993; Cortes-Altami và Licea-Duran, 1999). Hiện tượng nở hoa ở tảo trong ao nuôi thường kéo dài khoảng 5-10 ngày tùy vào giống loài tảo và điều kiện môi trường dinh dưỡng. Trong ao, tảo nở hoa có thể gây bệnh đốm nâu (Stirling và Day, 1990) hoặc gây thiếu oxy cục bộ vào ban đêm từ đó dẫn đến sự thiếu oxy trong máu làm tôm chết hàng loạt (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003).

- Thông thường trong ao nuôi, các loài tảo silic phát triển thì có lợi hơn các nhóm tảo khác. Do đó, để tảo silic phát triển tốt cần bón phân nhiều lần với liều lượng ít để đạt tỉ lệ N/P là 20:1 (Boyd và Daniel, 1993).Khi nồng độ muối giảm, nhiều ngành tảo khác sẽ phát triển ưu thế dưới sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, độ muối và hàm lượng chất dinh dưỡng...Theo Boyd (1989), tảo silic thường chiếm ưu thế trong ao nước lợ, mặn. Trong khi đó,tảo lục phát triển mạnh ở các ao có độ mặnthấp, muối dinh dưỡng thấp đến trung bìnhvà nhiệt độ ôn hòa. Tuy nhiên, trong các ao tôm ở vùng cận nhiệt đới, nhiệt đới, tảo lam lại là nhóm tảo phát triển ưu thế nhất, kế đếnlà tảo tảo silic và ít nhất là tảo hai rãnh (Cortes-Altam et al., 1994; Rungsupa et al., 1999). Theo Sevrin và Pletikosic (1990), tảo lam thường ưu thế ở mùa hè, tuy nhiên chúng là nhóm tảo có thể chịu đựng môi trường khắc nghiệt nên có thể phát triển cả trong mùa đông ở các ao nông, ít thay nước và ánh sáng mạnh (Santoyo, 1972). Theo nghiên cứu của Barraza-Guzman (1994), tảo lam nở hoa với mật độ cao nhất đạt 3,5 triệu tế bào/lít.

3. Hiện tượng tảo độc nở hoa trong ao nuôi tôm
- Sự nở hoa của nhóm tảo hai rãnh (Dinoflagellate) gây nên thủy triều đỏ ở các ao nuôi tôm đã gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với nghề nuôi (Alonso-Rodriguez và Paez-Osuna, 2003). Trên các ao nuôi tôm sú Penaeus monodon và P. orientalis ở Đài Loan, Trung Quốc và Malaysia có nhiều giống loài tảo nở hoa do môi trường giàu dinh dưỡng bao gồm: Euglena spp., Noctiluca scintillan,Alexdrium tamarense, Chattonella spp., Protoperidinium balechii; chúng gây ra tình trạng thiếu oxy máu, tiết ra độc tố PSP, ASP làm giảm sinh trưởng ở tôm, gây bệnh, hoặc trực tiếp gây chết tôm (Chen và Gu, 1993; Huei-Meei et al., 1993; Jiasheng et al., 1993; Mingyuan và Jiansheng, 1993; Kotaki et al., 2000). Trong ao tôm thẻ chân trắng Liptopenaeus vannamei, L. stylirostris ở Ecuador và Mexico, một số giống loài tảo nở hoa được phát hiện: Gyrodinium instriatum,Synechocystis diplococcus,Schizothrix calcicola, Prorocentrum minimum, Gymnodinium catenatum. Các loài này thường nở hoa khi môi trường giàu dinh dưỡng hay do sự thay đổi nồng độ muối, chúng tiết ra độc tố PSP và gây thiếu oxy máu làm giảm sinh trưởng và gây chết ở tôm (Jimenez, 1993; Cortes-Altamirano, 1994; Delgado et al., 1996; Cortes-Altamirano và Alonso-Rodrıguez (1997); Cortes-Altamirano và Licea-Duran (1999).

- Ở Việt Nam, tảo độc nở hoa làm thiệt hại về kinh tế đã được ghi nhận vào tháng 5 và tháng 6/1995, tảo Noctiluca scintillans nở hoa ở khu vực vịnh Vân Phong thuộc vùng biển Khánh Hòađã làm chết khoảng 20 tấn tôm hùm với thiệt hại ước tính khoảng 6 tỷ đồng (Nguyễn Ngọc Lâm và ctv., 1996).Theo Kotaki et al., (2000) ở ao nuôi tôm sú tại Đồ Sơn, tảo Nizschia navis-varingica nở hoa do môi trường giàu dinh dưỡng tiết ra độc tố ASP (1,7pg/tế bào, 1 pg = 1/1.000.000 mg) gây chết tôm.


(Một số giống loài tảo độc hại - A: Pseudoniszchia pungens, B: Dinophysis caudata, C: Noctiluca Scintillans, D:Microcystis aeruginosa, E:Noctiluca scintillans nở hoa ở Newzealand)


Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn: Ths. Dương Thị Hoàng Oanh – Khoa Thủy sản – ĐH Cần Thơ.

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Mô hình nuôi tôm Thẻ ruộng Lúa

Mô hình nuôi tôm Thẻ ruộng Lúa


Mô hình nuôi tôm thẻ ruộng lúa by C.ty UVVN | Mo hinh nuoi tom the ruong lua

Hiện nay, HTX lúa - tôm Hòa Lời đang là một trong số HTX của huyện Mỹ Xuyên thí điểm áp dụng Quy phạm thực hành quản lý tốt hơn (BMP) hướng đến chứng chỉ ASC của Hội đồng Quản lý nuôi tốt do Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) thúc đẩy và hỗ trợ.


- Ông Mai Văn Chánh (ảnh), Chủ nhiệm HTX lúa tôm Hòa Lời, huyện Mỹ Xuyên, Sóc Trăng vui vẻ chia sẻ về kết quả bước đầu của việc nuôi tôm thẻ chân trắng trong ruộng lúa: Tôi vô cùng bất ngờ khi thấy tôm chân trắng có thể sống trong ruộng lúa nước ngọt hoàn toàn.

- Hiện trong ấp Hòa Lời, chỉ có hai hộ nuôi thử nghiệm tôm thẻ chân trắng trong ruộng lúa, và vụ lúa năm 2011 đều cho kết quả khả quan, năng suất tôm đạt 0,35 và 1,67 tấn/ha/vụ. Lợi nhuận khoảng 25 - 80 triệu đồng/ha/vụ. Dù lợi nhuận chưa thật sự lớn nhưng đối với người nông dân Mỹ Xuyên thì khoản thu bổ sung này rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh thời tiết diễn biến phức tạp, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.

- Hệ thống nuôi tôm thẻ chân trắng trong ruộng lúa của ông Chánh có diện tích 6.000m2, chia làm hai ao. Ban đầu tôm thẻ chân trắng được ươm trong ao nhỏ có diện tích 2.000m2 với độ mặn 2‰, sau đó tôm được chuyển sang ruộng lúa nước ngọt hoàn toàn. Sau 2,5 tháng nuôi, cho thu hoạch 1.000 kg tôm, bán được 110 triệu đồng, lợi nhuận đạt 50 triệu đồng.

- Theo ông Chánh, vụ lúa năm 2012 sẽ tiếp tục thả nuôi tôm thẻ chân trắng trong vụ lúa nhưng với mật độ thấp hơn 4 - 5 con/m2. Kinh nghiệm rút ra từ năm 2011, tỷ lệ sống tôm thẻ chân trắng đạt gần 100% nên trong một số thời điểm tôm quá dày ông phải san từ ao này sang ao khác.

- Ông Chánh khẳng định: “Nuôi tôm theo phương thức này sẽ không ảnh hưởng đến việc lan truyền mầm bệnh từ tôm thẻ chân trắng sang tôm sú ở vụ nuôi tiếp theo, vì sau khi thu tôm thẻ chân trắng 1,5 tháng mới thu hoạch lúa và sau 3 - 3,5 tháng mới thả tôm sú vụ sau”.

- Hợp tác xã lúa - tôm Hòa Lời, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng trong nhiều năm liền là điểm sáng về mô hình lúa - tôm ở ĐBSCL. Năm 2009, lúa của HTX đã được cấp chứng nhận GlobalGAP.

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

Kỹ thuật nuôi Tôm Sú công nghiệp

Kỹ thuật nuôi Tôm Sú công nghiệp

1. Chuẩn bị ao lắng
Nước mặn/lợ được đưa vào ao lắng, trữ lắng 7 - 10 ngày, sát trùng, diệt mầm bệnh bằng Chlorin 15 - 30ppm (theo qui trình sử dụng clorin).

2. Chuẩn bị ao nuôi

a) Thiết kế ao nuôi
- Diện tích ao 0,3 – 0,5 ha. Ao có dạng hình chữ nhật, chiều dài gấp 2 - 3 lần chiều rộng.
- Bờ phải cao, không rò rỉ, xung quanh bờ có lưới chắn để hạn chế địch hại từ bên ngoài vào ao nuôi.
- Ao phải giữ được nước trong suốt thời gian nuôi. Mức nước trong ao từ 1,2 - 1,5m.
- Đáy ao có độ dốc nghiêng về phía cống. Ao có cống cấp và thoát nước riêng.
- Ao nuôi thâm canh cần phải thiết kế quạt nước và bố trí phù hợp.

b) Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi tôm được tiến hành chuẩn bị cải tạo theo yêu cầu kỹ thuật như sau:
- Dọn sạch các loại cây cỏ xung quanh ao.
- Tiến hành tát cạn nước sên vét lớp bùn đáy ao, lắp hang cua, lổ mọi.
- Diệt tạp bằng cách bón vôi bột ở xung quanh bờ và đáy ao với liều lượng 10 - 15 kg/100 m2. Đối với ao mới đào phải rửa phèn nhiều lần trước khi bón vôi.
- Phơi khô đáy ao từ 3 - 5 ngày.
- Tiến hành lấy nước vào hệ thống nuôi thông qua lưới lọc nhằm hạn chế địch hại và trứng các loài cá tạp vào ao nuôi, khi mức nước trong ao đạt 1,2m, 2 - 3 ngày sau tiến hành thả giống.
- Kiểm tra, bảo trì hệ thống quạt nước và hệ thống cung cấp oxy. Lấy nước đã xử lý từ ao lắng vào ao nuôi (nên qua túi lọc), chiều cao nước: 0,8 - 1,2m.

3. Gây màu nước (tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao)

Trước khi thả tôm giống 7 ngày, sử dụng phân DAP và bột dinh dưỡng (đậu nành...) hoà với nước và bón ao hàng ngày đến khi đạt độ trong 0,3 - 0,4m.

4. Thả tôm giống

- Sau giai chuẩn bị, khi các chỉ tiêu pH, độ mặn, độ trong, màu nước... đạt yêu cầu, có thể thả tôm giống. Post thả nên chọn loại Pl15 - Pl20, cần thuần hoá tôm giống để thích nghi với nuớc trong ao trong vòng 1 - 3 giờ . Tôm giống mới vận chuyển về nên thả túi xuống ao chừng 15 - 30 phút để nhiệt độ giữa nước trong túi tôm và nhiệt độ nước trong ao cân bằng. Sau đó nên đổ các túi tôm vào thau, tránh để tôm dính lại trong túi, múc nước ao pha vào thau dần dần, mỗi lần 1 ít. Vừa pha vừa quan sát tôm đã thích nghi được thì thả vào ao nuôi. Tôm chưa thích nghi khi thả ra thường bơi nổi trên mặt nước, vẻ yếu ớt.
- Đứng ở đầu hướng gió, thả tôm giống ra từ từ, tránh làm đục nước ao. Sau khi thả xong quan sát khả năng phân tán của tôm trong ao nuôi, nếu tôm tụ lại từng đám thì dùng tay hoặc thau khua nước nhè nhẹ để phân tán tôm đều trong ao.
- Sau khi thả tôm xong, cần theo dõi hàng ngày để tính tỉ lệ sống, xác định lượng tôm có trong ao để điều chỉnh thức ăn khi nuôi.
- Nên thả tôm lúc thời tiết mát mẻ, tốt nhất là thời điểm từ 5 - 7 giờ sáng hoặc 4 - 6 giờ chiều. Không nên thả tôm lúc trời sắp mưa hoặc đang mưa to.
- Mật độ thả tuỳ phương thức nuôi: quảng canh cải tiến (dưới 5 con/m2), bán thâm canh (10 - 20 con/ m2), thâm canh (trên 25 con/m2) ngoài ra còn thùy thuôc vào kích cỡ tôm thả nuôi, mùa vụ sản xuất.

5. Chăm sóc ao nuôi tôm
5.1. Cho ăn:
Nhà cung cấp thức ăn phải cung cấp cho bạn bảng hướng dẫn cho ăn, trong đó gồm:
- Số lần cho ăn trong ngày
- Tỉ lệ thức ăn theo các bữa trong ngày
- Lượng thức ăn tỉ lệ theo tuổi và trọng lượng của tôm. Tỉ lệ thức ăn cho vào vó (sàng ăn).
- Thời gian kiểm tra vó sau khi cho ăn.

- Có thể sử dụng thêm các thức ăn tăng cường sinh trưởng cho tôm phối trộn chung với thức ăn.
- Lưu ý cho tôm ăn tránh các khu vực dơ trong ao, khi tôm lột vỏ nhiều nên giảm lượng thức ăn, khi tôm yếu /bệnh hoặc nước trong ao bẩn/đục cũng nên giảm bớt lượng thức ăn.

5.2. Kiểm tra tôm
Thường xuyên quan sát tôm, nhất là vào ban đêm, theo dõi để phát hiện những bất thường.
- Quan sát màu sắc.
- Kiểm tra các bộ phụ: chân, râu, ...
- Kiểm tra mang.
- Kiểm tra thức ăn trong hệ tiêu hoá
- Kiểm tra cường độ bắt mồi và các hành vi khác của tôm.
- Xét nghiệm vi khuẩn, PCR định kì. Chài tôm để kiểm tra trọng lượng trung bình của tôm, theo dõi sự tăng trọng của tôm và tính toán lượng thức ăn phù hợp. Nên chài tôm vào lúc trời mát sáng sớm hoặc chiều mát (4 – 6 giờ)

5.3 Kiểm tra nước
- Kiểm tra pH: 2 lần/ngày (sáng, chiều).
- Kiểm tra độ trong của nước, Đo hàm lượng oxy hoà tan, Đo độ mặn, Đo độ kiềm: hàng ngày.
- Đo Sulfat, đo Amonia, nitrat, nitrit, vi khuẩn, tảo: hàng tuần. Thay nước (một phần) hoặc xử lý (vi sinh, hoá chất) khi các chỉ tiêu đo không đạt yêu cầu (biến động pH lớn trong ngày, độ trong giảm quá nhiều ...). Sử dụng thêm các sản phẩm sinh học để làm sạch nước và đáy ao trong suốt quá trình nuôi.

5.4. Kiểm tra ao
- Kiểm tra bờ, cống, mương, lưới ngăn cua... hàng ngày
- Vệ sinh sàng ăn (vó), vớt tảo (láp láp), bọt...

5.5. Quạt nước và sục khí
- Thời lượng quạt nước và cấp oxy tăng theo tuổi của tôm.
+ Từ 1 - 5 tuần đầu: quạt 1 giờ/ngày.
+ Từ 5 - 8 tuần tuổi: quạt từ 2 - 4 giờ/ngày.
+ Từ 9 - 12 tuần tuổi: quạt từ 6 - 8 giờ/ngày.
+ Từ 13 - 15 tuần tuổi: quạt từ 9 - 10giờ/ngày.
+ Từ tuần 15 đến thu hoạch: quạt 11 - 12 giờ/ngày.
- Sục khí chạy máy sục khí thường xuyên vào ban đêm, vào những ngày có mưa hay ít nắng, thời gian chạy sục khí cũng tăng theo tuổi tôm:
+ Tháng thứ 1: 4 - 8 giờ/ngày.
+ Tháng thứ 2: 8 - 12 giờ/ngày.
+ Tháng thứ 3: 12 - 18 giờ/ngày.
+ Tháng thứ 4: 18 - 24 giờ/ngày.

6. Thu hoạch

Tùy theo thị trường, và môi trường ao nuôi, tình hình sức khoẻ của tôm... mà quyết định thu hoạch. Trọng lượng tôm lí tưởng khi thu hoạch là ≥ 25g/con. Thu tôm bằng phương pháp xả cống hoặc kéo cào (xung điện).

Kỹ thuật nuôi tôm sú, Nguồn: Viện Nuôi trồng Thủy sản I.

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Tìm hiểu lịch sử nghề nuôi Tôm

Tìm hiểu lịch sử nghề nuôi Tôm


Tìm hiểu lịch sử nghề nuôi tôm by C.ty UV VN | Tim hieu lich su nghe nuoi tom

1. Tổng quan
- Bước đột phá đầu tiên trong công nghệ nuôi tôm diễn ra ở Nhật Bản vào cuối những năm 1930. Tuy nhiên, khí hậu và các loài tôm của nước này không phù hợp với sản xuất quy mô nhỏ. Năm 1970, công nghệ của Nhật Bản đã được chuyển giao sang các nước khác ở châu Á và châu Mỹ.


- Hình thức nuôi tôm đầu tiên được bắt đầu ở châu Á cách đây vài thế kỷ khi mà tôm giống tự nhiên bị thủy triều đẩy vào các đầm nuôi cá măng, cá đối và các loài cá khác. Điều này đã tạo thu hoạch khoảng từ 100 - 200 kg tôm/ha/năm mà không cần mất công cho ăn hay chăm sóc.

- Đến cuối thế kỷ 20, bắt đầu xuất hiện một vài tiến bộ về công nghệ cho việc nuôi tôm. Trở ngại chính đầu tiên trong việc phát triển nuôi tôm là vốn hiểu biết hạn hẹp về chu kỳ sống của tôm, bao gồm cả giai đoạn sinh sản ở đại dương, giai đoạn phát triển phức tạp từ ấu trùng đến con giống.

2. Bước đột phá bởi Fujinaga
- Những tiến bộ đầu tiên diễn ra theo hướng hoàn thành vòng đời của tôm nuôi trong tình trạng nuôi nhốt vào năm 1934, khi Tiến sỹ Motosaku Fujinaga, Nhật Bản thành công trong việc kích thích sinh sản cho tôm he Nhật Bản (Penaeus japonicus) từ ấp nở trứng và ương nuôi ấu trùng từ giai đoạn Nauplii sang Mysis nhờ sử dụng tảo silic.

- Trong hai thập kỷ sau Chiến tranh Thế giới thứ II, Tiến sỹ Fujinaga vẫn tiếp tục phát triển các kỹ thuật sinh sản cho tôm, nuôi ấu trùng và thương phẩm và cho đến nay, các kỹ thuật đó vẫn là nền tảng của công nghệ nuôi tôm. Do đó, Tiến sỹ Fujinaga được xem là cha đẻ của nghề nuôi tôm và Nhật Bản trở thành điểm khởi đầu cho sự phát triển của ngành tôm.


- Những thành tựu của Tiến sỹ Fujinaga và các cộng sự của ông có tầm ảnh hưởng to lớn và lâu dài cho ngành tôm nuôi. Thành công này cho phép sản xuất tôm ở giai đoạn hậu ấu trùng ở quy mô thương mại cho các chương trình nuôi và tái tạo. Mặc dù đã đạt được thành công đáng kể tại Nhật Bản, nhưng nuôi tôm thương mại và những loài phù hợp hơn chỉ được phát triển khi chuyển sang những khu vực có thời tiết, đất đai thuận lợi hơn.

- Những năm 1960, làn sóng phát triển thứ hai của ngành tôm bắt đầu trỗi dậy khi các nhà khoa học cố gắng chuyển giao các phương pháp của Tiến sỹ Fujinaga sang các khu vực khác và nhiều loài khác. Địa điểm chuyển giao ban đầu là Mỹ và Đài Loan.

3. Sự tăng trưởng nhanh chóng của tôm sú
Trong số các loài tôm thuộc họ tôm he (Penaeid) thì tôm sú (Penaeus monodon) là loài có sự tăng trưởng nhanh nhất và khả năng thích ứng tốt nhất với các điều kiện canh tác. Kỹ thuật nuôi thâm canh tôm sú đã nhanh chóng lan rộng khắp châu Á và thành loài thống trị của tôm nuôi. Trong những năm 1980, năng suất nuôi tôm sú thâm canh hiếm khi dưới mức 10 tấn/ha, cỡ tôm khoảng 30 gram/con, sử dụng tôm bố mẹ tự nhiên. Tuy nhiên, dịch bệnh gia tăng trong các quần đàn tôm tự nhiên khiến chất lượng giống liên tục sụt giảm.

4. Tầm quan trọng của tôm giống sạch bệnh
Trong những năm 1990, dịch bệnh Hội chứng đốm trắng lan rộng trên toàn cầu, do đó việc xem xét lại các biện pháp vệ sinh và an toàn sinh học là điều cần thiết. Đúng lúc đó, Hiệp hội Nuôi tôm biển Mỹ đã phát triển ra một dòng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) sạch bệnh mới và giới thiệu sang châu Á. Loại tôm sạch bệnh này được nuôi trong ao và cho năng suất cao. Nông dân nhanh chóng chuyển từ tôm sú tự nhiên, mang nhiều bệnh sang nuôi tôm thẻ chân trắng, sạch bệnh. Đồng thời, thay đổi phương pháp sản xuất để giảm nguy cơ dịch bệnh bằng cách giảm thay nước, khử trùng nước và không sử dụng sinh vật tự nhiên làm thức ăn.

5. Giải pháp toàn diện
- Nghề nuôi tôm đang phải đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh, nguồn tài nguyên co hẹp và chi phí ngày càng tăng. Thị trường tôm đang phát triển theo hướng chú trọng hơn đến chất lượng, chứng nhận phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc. Lịch sử của nghề nuôi tôm cho thấy, để duy trì khả năng cạnh tranh, các nhà sản xuất phải liên tục nâng cao năng suất và hiệu quả trong mọi quá trình của chuỗi cung ứng, bao gồm cả vấn đề về sức khỏe, trại giống, chăn nuôi, quản lý ao, xây dựng nguồn cấp dữ liệu, hệ thống thông tin, chế biến và giấy chứng nhận thực hành để quảng bá người mua...

- Dịch bệnh do virus có ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành tôm từ những năm 1980 cho đến cuối thế kỷ 20, nhưng chính điều này lại khiến cho việc thắt chặt trong vấn đề quản lý để nâng cao hiệu quả và giảm sự phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên được tăng cường. Một trong bước ngoặt đáng chú ý là sự chuyển biến khi châu Á chuyển từ tôm sú với giống tự nhiên sang tôm thẻ chân trắng được cải thiện gen và sạch bệnh.

6.Một số vấn đề đáng chú ý
- Khi ngành công nghiệp nuôi tôm phát triển thì nhiều vấn đề về môi trường, xã hội, an toàn thực phẩm và mối quan hệ thương mại quốc tế cũng phát sinh. Hiện, sự thay đổi sâu rộng trong quản lý đã được cải thiện, hướng đến việc phát triển bền vững bằng cách giảm thiểu các tác hại đến môi trường sống, giảm ô nhiễm do chất thải và kháng sinh. Các tổ chức như Liên minh Nuôi trồng Thủy sản toàn cầu (GAA) đang xây dựng các tiêu chuẩn chứng nhận để đảm bảo với các nhà bán lẻ và người tiêu dùng việc áp dụng các phương pháp có ích và bền vững.

- Lịch sử nghề nuôi tôm có nhiều điểm khó khăn như chịu sự kiểm soát chặt chẽ trên toàn cầu bởi các nhà môi trường và các nhà quản lý. Tuy nhiên, cùng với những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ, nó đã và đang vượt qua những thách thức, khó khăn và có điểm tựa vững chắc để đối mặt với tương lai.

Bài viết đã được mua tác quyền từ tác giả, bất cứ hình thức sao chép nào đều phải có trích dẫn nguồn.