Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Rau. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Các Loại Rau. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Kinh nghiệm trồng Mồng Tơi

Kinh nghiệm trồng Mồng Tơi


Kinh nghiệm trồng Mồng Tơi by KH Nhà Nông | Kinh nghiem trong mong toi

Mồng tơi được gieo trồng chủ yếu trong vụ xuân và thu hoạch suốt vụ hè thu. Gieo trồng từ đầu tháng 3 đến tháng 5, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 9. Tuy nhiên ở các tỉnh phía Nam có thể trồng quanh năm.


1. Giống
Có 3 loại giống mồng tơi phổ biến trong sản xuất như mồng tơi trắng có phiến lá nhỏ, thân mảnh, thân và lá có màu xanh nhạt. Mồng tơi tía có phiến lá nhỏ, thân và gân lá có màu tím đỏ và mồng tơi lá to nhập từ Trung Quốc, lá dày, màu xanh đậm, phiến lá to, thân mập, thường được trồng dày để dễ cắt tỉa cành non, ít nhớt và cho năng suất cao.

2. Làm đất
Chọn loại đất thịt nhẹ, thịt trung bình, đất cát pha, độ pH từ 6,0 - 6,7. Đất cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo trồng. Làm luống rộng 1 - 1,2m, rãnh luống rộng 0,2 - 0,3m và cao 25 - 30cm.

3. Mật độ khoảng cách trồng
Có thể gieo thẳng theo hàng hoặc gieo cây con rồi tỉa cấy khi có 2 - 3 lá thật. Khoảng cách khoảng 20 - 25cm x 20cm/1 cây. Mật độ 16,5 vạn cây/ha, lượng hạt gieo khoảng 20 - 21 kg/ha.

4. Phân bón
- Phân hữu cơ cần ủ thật hoại, xử lý diệt vi khuẩn theo hướng dẫn. Không nên dùng nước thải sinh hoạt chưa xử lý để tưới cho rau. Không nên dùng phân chế biến từ rác thải thành phố, vì trong loại rác thải này có chứa nhiều kim loại nặng. Phân hữu cơ nên trộn với phân lân bón lót, bón xong rồi cày đất hoặc bón theo luống. Trước lúc thu hoạch rau 7 - 10 ngày nên ngưng tưới phân đạm để lượng nitrat trong rau không quá cao.

- Tuỳ theo từng loại đất, giống, các giai đoạn sinh trưởng của cây mà tính toán lượng phân bón hàng năm cho cây thích hợp. Đặc biệt là các loại phân có hàm lượng chất hữu cơ cao như phân hữu cơ khoáng vedagro dạng viên có hàm lượng hữu cơ 45%; N: 9%; P2O5: 0,3%; K2O: 4,5%, ngoài ra còn có một số dinh dưỡng trung lượng, vi lượng, axít amin và vitamin.

- Sau trồng khoảng 1 tháng thì thu hoạch, dùng dao sắc cắt gốc cách mặt đất 5 - 10cm. Từ đó trở đi khoảng 12 - 15 ngày lại thu được một lứa. Nên thu vào buổi sáng sớm, thu hoạch khi trời nắng nóng rau dễ bị héo, ôi, kém phẩm chất.

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Kỹ thuật trồng Rau Thủy Canh

Kỹ thuật trồng Rau Thủy Canh


Kỹ thuật trồng rau thủy canh by KNVN | Ky thuat trong rau thuy canh

1. Điều kiện che chắn
- Sản xuất rau trong dung dịch tuần hoàn phải thực hiện trong nhà có mái che; vừa hạn chế thời tiết bất thuận, vừa cách ly côn trùng, hạn chế sâu bệnh hại.

- Nguyên tắc chung của nhà có mái che: khung nhà được làm bằng sắt (thép) hoặc bằng bê tông hoặc bằng tre đảm bảo chắc chắn, không bị ảnh hưởng bởi gió bão. Mái nhà lợp bằng tấm lợp plastic hoặc tấm lợp compozit hoặc màng UROZHAI. Xung quanh chắn lưới cách ly côn trùng (có thể dùng lưới nilon hoặc lưới kim loại). Nền nhà cứng, phẳng và sạch. Tốt nhất nên lát nền bằng xi măng + cát + sỏi.


- Các dạng nhà lưới hiện đã xây dựng ở các vùng trồng rau có thể sử dụng để sản xuất rau thuỷ canh, song phải cải tạo phần mái để tránh mưa và cải tạo nền cho phù hợp.

2. Lắp đặt hệ thống thuỷ canh tuần hoàn
- Giá sắt để đặt các ống nhựa: Giá sắt được hàn chắc chắn, cao khoảng 70 - 80 cm, dốc về phía bể thu hồi dung dịch 3 độ. Chiều rộng của giá sắt tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất, chiều dài giá sắt 20m.

- Bể cấp dung dịch dinh dưỡng: Xây bể hoặc dùng téc nhựa đựng dung dịch dinh dưỡng, thể tích của bể cấp tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất, song cứ 100 m2 diện tích sản xuất tương ứng với 1 m3. Bể cấp phải đặt cao 1,2 - 1,4 m.

- Bể thu hồi dung dịch: Tốt nhất là xây bể chìm dưới đất, thể tích bể chứa cũng tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất và tương đương thể tích bể cấp.

- Ống dẫn dung dịch: Dùng ống nhựa dẫn nước đường kính 11 cm, dài 20 m. Trên ống đục các lỗ thẳng hàng, cách nhau 5 - 6 cm để đưa rọ cây vào đó (đường kính lỗ tuỳ thuộc vào đường kính rọ nhựa). Các ống được đặt trên các giá sắt, tạo thành mặt phẳng nghiêng 3 độ về phía bể thu.

- Máy bơm nước 2 chiều được gắn với phao để khi dung dịch trong bể cấp còn 1/4 thì bơm 2 chiều đóng, dung dịch được đẩy ngược trở lại từ bể chứa lên bể cấp.

- Tất cả tạo thành hệ thống thuỷ canh tuần hoàn.

3. Chuẩn bị nguyên liệu
- Rọ nhựa ươm cây con và đỡ cây trong quá trình sinh trưởng phát triển

- Giá thể ươm cây con: Dùng giá thể ươm cây con của Trung tâm Nghiên cứu phân bón và dinh dưỡng cây trồng cùng với 20-30% mụn xơ dừa.

- Dung dịch dinh dưỡng: Dung dịch dinh dưỡng để sản xuất rau có bán ở một số cơ sở: Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Sinh học – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Đó là dung dịch mẹ, khi sử dụng, pha 1 lít dung dịch A và 1 lít dung dịch B trong 1 m3 nước.

- Giống rau: Hệ thống sản xuất rau thuỷ canh tuần hoàn có thể sản xuất được tất cả các loại rau ăn lá. Những giống rau cho sản xuất trái vụ là các giống chịu nhiệt, có thể sử dụng các loại giống sau: xà lách, rau cải ăn lá các loại (cải xanh, cải mơ, cải chít), cần tây, rau muống.

4. Ươm cây con
- Xử lý hạt giống trước khi gieo: Ngâm hạt 1 - 2 giờ trong nước nóng 45-50 độ C hoặc ngâm trong dung dịch thuốc tím 0,1% hoặc dung dịch BenlatC 0,1% hoặc dung dịch Ridomil 0,1%; để ráo nước.

- Cho giá thể vào cốc nhựa, lắc nhẹ, tưới nước đủ ẩm rồi gieo hạt, mỗi ngày tưới ẩm 1 - 2 lần tuỳ thuộc vào thời tiết. Sau 4 - 6 ngày, cây mọc, tiếp tục tưới ẩm cho cây sinh trưởng 1 - 2 lần/ngày. Khi cây được 2 - 3 lá thật thì đưa cây lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn (đặt cả cốc vào trong các lỗ đã đục sẵn trên ống dẫn dung dịch).

5. Chăm sóc
- Trước khi đưa cây lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn, phải bơm nước vào bể chứa (cứ 100 m2 diện tích sản xuất tương ứng với 1 m3 nước), đổ 1 lít dung dịch A và 1 lít dung dịch B vào 1 m3 nước. Dùng máy bơm 2 chiều đẩy dung dịch lên bể cấp. Dung dịch từ bể cấp, chảy qua hệ thống ống dẫn và cung cấp dinh dưỡng cho cây. Khi dung dịch trong bể cấp cạn, bơm 2 chiều lại đẩy dung dịch từ bể chứa lên bể cấp. Cứ như vậy dung dịch chảy tuần hoàn trong ống dẫn và nuôi cấy.

- Định kỳ bổ sung dinh dưỡng: Trong một vụ sản xuất xà lách, cải xanh và cần tây, cần bổ sung dinh dưỡng 3 lần: 10 ngày, 15 ngày, 20 ngày sau khi đưa cây vào dung dịch, với lượng 0,4 - 0,5 lít dung dịch mẹ trong 1 m3 dung dịch trồng cây. Trước khi thu hoạch 10 ngày, không bổ sung dinh dưỡng. Đối với cây rau muống, sau khi hái lứa đầu mới bổ sung dinh dưỡng cho lứa hái sau; cứ như vậy, chỉ bổ sung dinh dưỡng sau mỗi đợt thu hái.

- Tỉa định cây: Sau khi đưa cây lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn 4 - 5 ngày, tiến hành tỉa định cây. Tỉa bổ những cây xấu, còi cọc, chỉ để lại 2 cây/hốc.

- Thường xuyên nhổ sạch cỏ và theo dõi sự phát sinh sâu bệnh trong khu sản xuất để phòng trừ kịp thời.

6. Thu hoạch
- Với rau cải ăn lá các loại: Thu hoạch sau khi đưa cây con lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn 23 - 25 ngày. Dùng dao cắt sát gốc, tỉa bỏ lá gốc, cho vào túi nilon khối lượng 0,5 kg/túi rồi đưa đi tiêu thụ.

- Với cây xà lách, cần tây: Thu hoạch sau khi đưa rọ cây lên hệ thống thuỷ canh tuần hoàn 25 - 30 ngày. Dùng dao cắt sát gốc, tỉa bỏ lá gốc, cho vào túi nilon khối lượng 0,2 kg/túi rồi đưa đi tiêu thụ.

- Với cây rau muống: Cứ 10 ngày hái 1 lứa. Thời gian thu hoạch kéo dài khoảng 3 tháng. Hái bằng tay những ngọn đủ tiêu chuẩn (tránh không làm ảnh hưởng đến những ngọn nhỏ cho lứa sau), cho vào túi nilon khối lượng 0,5 kg/túi rồi đưa đi tiêu thụ.

- Sau thu hoạch cần vệ sinh đường ống bể chứa và thay dung dịch để trồng rau khác hoặc trồng lứa mới.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Kỹ thuật trồng rau Mồng Tơi an toàn

Kỹ thuật trồng rau Mồng Tơi an toàn


Kỹ thuật trồng rau mồng tơi an toàn by TTKNQG | Ky thuat trong rau mong toi an toan

Cây mồng tơi sinh trưởng tốt tại những nơi đất thấp trong vùng nhiệt đới lên đến độ cao 500 m so với mặt biển, thậm chí có thể mọc cả ở những khu vực cao 3000 m trong vùng ôn đới. Trong điều kiện ngày dài trên 13 giờ, mồng tơi sẽ không ra hoa. Mồng tơi có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất, nhưng đất cát là thích hợp nhất, độ ẩm trong đất có tác dụng kích thích mồng tơi ra hoa.


1. Thời vụ
Mồng tơi được gieo trồng chủ yếu trong vụ xuân và thu hoạch suốt vụ hè đến mùa thu. Thời vụ gieo trồng từ đầu tháng 3 đến tháng 5, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 9.

2. Giống
Có 3 loại giống phổ biến trong sản xuất:
- Mồng tơi trắng: Phiến lá nhỏ, thân mảnh, thân và lá có màu xanh nhạt.

- Mồng tơi tía: Phiến lá nhỏ, thân và gân lá có màu tím đỏ.

- Mồng tơi lá to: Nhập từ Trung Quốc, nhưng đã được thuần hoá, lá dày, màu xanh đậm, phiến lá to, thân mập, thường được trồng dày để dễ cắt tỉa cành non ít nhớt và cho năng suất cao.

- Lượng hạt gieo: 0,7 - 0,8 kg/sào (20 - 21 kg/ha).

3. Làm đất
Chọn loại đất thịt nhẹ, thịt trung bình, đất cát pha, pH từ 6,0 - 6,7. Đất cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo trồng, luân canh với cây trồng khác họ. Làm luống: mặt luống rộng 1 - 1,2 m, rãnh luống 0,2 - 0,3m, cao 25 - 30 cm.

4. Mật độ khoảng cách
Mồng tơi có thể gieo thẳng theo hàng hoặc gieo cây con rồi tỉa cấy khi có 2 - 3 lá thật. Khoảng cách: hàng cách hàng 20 - 25 cm; cây cách cây 20 cm. Mật độ: từ 16 -17 vạn cây/ha.

5. Phân bón
- Lượng bón:


Tuyệt đối không được dùng phân chuồng, phân bắc và nước phân tươi để bón hoặc tưới. Có thể dùng phân hữu cơ sinh học hoặc phân rác chế biến thay thế phân chuồng với lượng bằng 1/3 lượng phân chuồng.

- Cách bón thúc:
+ Lần 1: Sau trồng 10 ngày.
+ Lần 2: Sau trồng 25 - 30 ngày (đã thu hái vỡ).
+ Xới đất, vun gốc, làm cỏ, kết hợp với các đợt bón thúc.
+ Chỉ được thu hoạch sau khi bón hoặc tưới phân ít nhất 7 - 10 ngày.

- Có thể dùng nitrat amôn, sulfat amôn thay cho urê, clorua kali thay cho sulfat kali hoặc các phân hỗn hợp NPK với liều lượng nguyên chất tương đương, hoặc phun các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng qua lá theo hướng dẫn của hãng sản xuất.

6. Tưới nước
Sử dụng nguồn nước sạch để tưới (nước sông hoặc nước giếng), luôn giữ độ ẩm đất 80%.

7. Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu hại: Thường bị sâu khoang (Spodoperalitura) và một số sâu ăn lá khác gây hại nhưng ít nghiêm trọng, cần sử dụng biện pháp thủ công bắt sâu và ngắt ổ trứng sâu. Trong trường hợp bị sâu hại nặng mới dùng thuốc NPV hoặc Sherpa 25EC.

- Bệnh hại: Chủ yếu có bệnh đốm mắt cua (Cercospora sp), nếu chăm sóc tốt, cây phát triển mạnh sẽ hạn chế bệnh. Khi bệnh nặng mới dùng thuốc Rovra 50WP, Score 250EC, Anvil 5SC. Phun theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc, thời gian cách ly tối thiểu là 10 ngày.

- Cần thu hoạch đúng lứa bảo đảm chất lượng rau non và phải đảm bảo thời gian cách ly thuốc hoá học bảo vệ thực vật và phân đạm bón thúc.

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

Kỹ thuật trồng rau ứng dụng Công Nghệ Cao

Kỹ thuật trồng rau ứng dụng Công Nghệ Cao


Kỹ thuật trồng rau ứng dụng công nghệ cao by Sở KHCN Bình Phước | Ky thuat trong rau ung dung cong nghe cao

1. Lý thuyết về kỹ thuật trồng rau ứng dụng công nghệ cao
- Nông nghiệp công nghệ cao là ứng dụng những công nghệ mới vào sản xuất từ công nghệ sinh học, đến công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, cơ giới hóa… sao cho sản xuất nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao, đầu tư lao động thấp, không những đạt hiệu quả lớn hơn về mặt kinh tế mà còn hài hòa và thống nhất lợi ích xã hội và sinh thái môi trường.

- Trồng rau theo công nghệ cao trước hết là việc gia tăng hàm lượng khoa học, kỹ thuật trong sản phẩm, từ việc tạo, chọn và sử dụng các giống cây có năng suất, chất lượng, kháng hoặc chống chịu tốt với các loại dịch hại, đây có thể là những giống lai thế hệ F1, gốc ghép, nuôi cấy mô; ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong canh tác từ gieo trồng, bón phân, tưới nước, phòng trừ dịch hại, thu hoạch, sơ chế, bảo quản và tiêu thụ.


- Các kỹ thuật canh tác này có thể được thực hiện trong các nhà lưới, nhà kính hoặc nhà màng, có thể trên mặt đất, trên không hoặc dưới lòng đất, canh tác trong môi trường đất, các loại giá thể khác nhau (địa canh), trong môi trường nước (thủy canh) hoặc trong không khí (khí canh).

- Hoàn toàn chủ động, điều khiển và quản lý bằng các chương trình, trang thiết bị và phương tiện hiện đại như việc cung cấp dinh dưỡng theo nhu cầu của cây trồng và theo mục tiêu năng suất, chất lượng mong muốn của nhà sản xuất và những nông dân canh tác theo phương thức này cũng phải được đào tạo, thực hành và ứng dụng nhuần nhuyễn có thể được gọi là các công nhân nông nghiệp. Tất cả các yếu tố nêu trên sẽ mang lại giá trị cao cho sản phẩm khi được đưa vào thị trường.

2. Ứng dụng kỹ thuật trồng rau ứng dụng công nghệ cao vào thực tiễn
- Từ năm 2003, một số địa phương đã đầu tư những khu nông nghiệp công nghệ cao ở Hà Nội, Hải Phòng với công nghệ và trang thiết bị hiện đại nhập khẩu trọn gói nhưng hàng chục tỷ tiêu tan mà chưa có mô hình nào thành công. Tại TP Hồ Chí Minh, Cty CP BVTV An Giang, một doanh nghiệp có vốn “khủng” sau nhiều năm đầu tư cho rau sạch cũng đành chấp nhận thất bại.

- Phong trào Khu nông nghiệp công nghệ cao một thời đâu đâu cũng râm ran nay đã im ắng. Tuy nhiên nếu chỉ phiến diện đánh giá qua những mô hình thất bại mà vội kết luận rằng Việt Nam chúng ta không nên trồng rau bằng công nghệ cao thì không thỏa đáng và trên thực tế đã có nhiều mô hình thành công mặc dù hàm lượng khoa học chưa thật cao.

- Lâm Đồng là địa phương dẫn đầu cả nước về trồng rau theo hướng công nghệ cao, việc hầu hết bà con nông dân chuyển từ việc mua cây con thay cho việc tự gieo ươm, trồng rau trong nhà màng hở với chi phí thấp và lợi nhuận từ việc trồng rau lên tới 200 triệu/ha/năm là một thực tế không thể phủ nhận. Rau Lâm Đồng cũng được coi là an toàn nhất khi rất nhiều năm liền các xét nghiệm tồn dư hóa chất ở các chợ đầu mối, siêu thị đều cho kết quả thấp nhất so với nguồn rau từ các địa phương khác.

- Khu nông nghiệp công nghệ cao ở TP Hồ Chí Minh mặc dù mới khánh thành giai đoạn 1 nhưng không còn đủ đất cho các doanh nghiệp trồng rau công nghệ cao thuê. Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước cũng đang hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao do các doanh nghiệp đầu tư 100% vốn. Thực tế đầu tư khu nông nghiệp công nghệ cao bằng vốn nhà nước vừa qua khiến nhiều người liên tưởng đến việc đầu tư cho chương trình 1 triệu tấn đường trước đây, ý tưởng và tính toán khoa học không sai nhưng không thể ồ ạt sử dụng đồng vốn của nhà nước.

- Nông dân có thể trồng rau theo hướng công nghệ cao không? Chắc chắn là không chỉ nông dân Lâm Đồng làm được mà tất cả các vùng miền khác đều có thể. Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam đang xây dựng mô hình nhà màng với chi phí đầu tư chỉ vào khoảng 800 triệu/ha dùng trong 5 năm ở TP Hồ Chí Minh qua 2 năm sản xuất được đánh giá là có tính khả thi cao nhất trong điều kiện nông dân VN.

- Sản xuất rau công nghệ cao là hướng đi tích cực, khả năng ứng dụng trên một vùng chuyên canh lớn có sự đầu tư cao, khai thác các lợi thế tự nhiên và lao động, tạo ra một khối lượng hàng hóa chất lượng cao đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của những đối tượng phù hợp. Tuy nhiên cần lựa chọn các bước đi phù hợp về đối tượng cây trồng, công nghệ áp dụng, quy mô và khả năng đầu tư, đầu ra của sản phẩm và cuối cùng là phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng của vùng đầu tư, khai thác.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Kỹ thuật trồng rau trái vụ

Kỹ thuật trồng rau trái vụ


Kỹ thuật trồng rau trái vụ by KHCN Cao Bằng | Ky thuat trong rau trai vu

- Từ lâu, rau là nguồn thực phẩm cần thiết trong đời sống của chúng ta. Mỗi loại rau đều có những yêu cầu ngoại cảnh riêng như thời tiết, đất đai, dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển, vì thế chúng cần có thời vụ gieo trồng thích hợp thường là vụ Đông Xuân. Trong mùa mưa, rau sinh trưởng kém, năng suất thấp, dễ bị sâu bệnh và thậm chí có loại còn không ra hoa kết trái. Tuy sản xuất trái vụ có nhiều khó khăn, nhưng điều hấp dẫn đối với người sản xuất là giá cao (thường gấp 3 - 5 lần lúc chính vụ) nên đem đến cho người nông dân nguồn thu nhập đáng kể.


- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công trong sản xuất rau trái vụ là: Giá cả và các biện pháp kỹ thuật.

- Chúng tôi giới thiệu các biện pháp kỹ thuật trồng rau trái vụ nhằm giúp bà con nông dân có thêm tư liệu để vận dụng thích hợp vào từng vùng sản xuất.

- Trước hết là chọn giống trồng thích hợp. Đây là một yếu tố rất quan trọng vì mỗi giống chỉ sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trong một số vùng nhất định.

- Bên cạnh yếu tố giống, sự thành công của mùa vụ còn được quyết định bởi các biện pháp canh tác nhằm phát huy hiệu quả giống. Sau đây là các yêu cầu chung trong sản xuất rau trái vụ.

1. Giống, hạt giống và kỹ thuật canh tác
- Đất gieo phải sạch, tơi xốp. Vườn ươm bố trí nơi quang đãng, không bị che rợp để cây con cứng cáp, ít sâu bệnh. Liếp ươm cần cao ráo, dễ thoát nước, bằng phẳng, để ánh sáng, nước tưới được phân bố đều.

- Hạt giống phải được xử lý trước khi gieo bằng cách: phơi nắng nhẹ vài giờ hoặc ngâm nước ấm (2 sôi + 3 lạnh) để kích thích sự nẩy mầm. Hoặc xử lý hạt bằng Benlate, Zineb, Ridomyl bằng cách trộn hạt với thuốc, để tạo thành một lớp áo mỏng quanh hạt.

- Hạt gieo ở mật độ vừa phải, tránh làm lãng phí hạt giống và cây con không mọc chen chúc, yếu ớt. Có thể tỉa bớt cây con ở nơi dầy để cấy sang nơi khác. Nếu có khả năng nên gieo hạt vào bầu bằng nilon có đục lỗ. Hoặc gieo hạt trên luống ương thật dầy rồi nhổ cấy vào bầu khi cây có lá thật đầu tiên.

- Vào mùa mưa, nên làm giàn che cho luống ương với các vật liệu như lưới, vòng kẽm hoặc tre, lá để che mưa cho cây con và giở ra khi trời nắng. Làm như vậy, cây con ít bệnh.

2. Đất trồng
- Chọn chân đất cao, thoát nước tốt.

- Luống trồng phải cao ráo, rãnh rộng để dễ thoát nước. Đồng thời chuẩn bị mương nội đồng để dẫn nước tưới khi có hạn và thoát nước khi trời mưa.

3. Phân bón
Dùng phân hữu cơ hoai mục để giảm thiểu nguồn bệnh. Bón đầy đủ, cân đối N.P.K. Cần chia lượng phân bón thành 4 - 5 lần thay vì 2 - 3 lần như trong mùa nắng, để giảm thiểu sự thất thoát phân bón do rửa trôi. Cần chú ý bón tăng cường thêm Kali cho các loại rau cho quả như cà, ớt, cải bắp... Có thể dùng thêm các loại phân bón lá như Komix, HVP,... phù hợp cho từng chủng loại rau.

4. Kỹ thuật chăm sóc
- Tưới tiêu đúng kỹ thuật: Cần cung cấp đủ nước cho cây trồng, không để ngập úng khô hạn, nhất là thời kỳ cây ra hoa kết trái để tránh làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

- Tỉa bớt những cành vô hiệu, lá vàng, lá bị sâu bệnh để ruộng luôn được thông thoáng. Dùng dao kéo sắc bén khi cắt tỉa, để vết thương không bầm giập, tỉa khi trời khô rào, sau khi tỉa có thể phun Ridomyl, Kasuran...

- Làm sạch cỏ dại để cỏ không tranh giành dinh dưỡng với cây trồng, làm mất nơi ẩn náu của sâu bệnh. Nếu có thể, nên phủ luống bằng rơm hoặc nhựa đen, tuy đầu tư cao lúa đầu nhưng tiện lợi và hiệu quả như hạn chế cỏ dại, giảm sự thất thoát phân bón, ngăn đất bắn lên lá khi trời mưa, khống chế độ ẩm đất.

- Với một số loại rau như cà, ớt, dưa, đậu, bầu, bí... cần làm giàn kịp thời, vững chắc để cây không đổ ngã, ruộng thông thoáng, dễ chăm sóc.

5. Phòng trừ sâu bệnh
Cần lưu ý, mùa mưa nên ẩm độ không khí cao là điều kiện cho mầm bệnh phát triển, vì thế, cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để sớm phát hiện sâu bệnh và phun trừ kịp thời mới có hiệu quả. Song song với việc dùng thuốc hóa học, các biện pháp canh tác như bón phân, nước tưới, làm cỏ... được thực hiện chặt chẽ, thì việc phòng trừ sâu bệnh mới có hiệu quả.

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011

Kỹ thuật trồng rau nghịch vụ

Kỹ thuật trồng rau nghịch vụ



Rau là nguồn thực phẩm cần thiết cho chúng ta. Mỗi loại rau đều có yêu cầu ngoại cảnh riêng để phát triển, vì vậy muốn trồng rau trái vụ thì phải có những kỹ thuật để rau sinh trưởng mạnh,không bị sâu bệnh, năng suất cao, đáp ứng được nhu cầu thi trường.


1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công trong sản xuất rau trái vụ
- Giá cả.

- Các biện pháp kỹ thuật.

- Sau đây là các biện pháp kỹ thuật để sản xuất rau trái vụ, nhằm giúp bà con nông dân có thêm tư liệu để vận dụng thích hợp vào từng nguồn sản xuất.

- Trước hết là chọn giống trồng thích hợp. Đây là một yếu tố rất quan trọng vì mỗi giống chỉ sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trong một số vùng nhất định. Nếu ngày trước chỉ có vùng cao ở Lâm Đồng như Đà Lạt, Đơn Dương mới có thể cung cấp quanh năm các loại rau như cà chua, cải bông, cải bắp, cải thảo... thì ngày nay, vùng thấp như đồng bằng sông Cửu Long, TP Hồ Chí Minh, đã có thể sản xuất trái vụ các chủng loại trên, đó là do sự trợ giúp của các giống cây trồng mới, nhưng xin lưu ý bà con nông dân, các giống rau phù hợp cho sản xuất trái vụ ở các vùng thấp khác với vùng cao. Ví dụ như giống cải bông trồng ở Đà Lạt cho bông to, trắng vào mùa mưa, nhưng khi trồng ở TPHCM lại chỉ cho toàn lá.

- Ngay cả trong cùng giống, nhưng trồng vào vụ Đông Xuân (mùa khô) thì cho năng suất cao, trồng vào vụ Hè Thu (mùa mưa) cây lại nhiễm bệnh, thất thu. Vì thế, cần chọn giống trồng sao cho phù hợp với địa phương và thời vụ sản xuất hầu đạt kết quả mong muốn. Ở các vùng có khí hậu nóng như TP. HCM, ĐBSCL, miền Đông Nam Bộ, các giống trồng trái vụ thích hợp là các giống chịu nhiệt: cà chua KBT4, cà chua Ramina, cải ngọt Tosakan, cải bắp Summer Autum, Summer Summit, Summit.

- Bên cạnh yếu tố giống, sự thành công của mùa vụ còn được quyết định bởi các biện pháp canh tác nhằm phát huy hiệu quả giống. Sau đây là các yêu cầu chung trong sản xuất rau trái vụ.

2. Kỹ thuật trồng rau trái vụ
a) Vườn ươm, hạt giống
- Đất gieo phải sạch, tơi xốp. Vườn ươm bố trí nơi quang đãng, không bị che rợp để cây con cứng cáp, ít sâu bệnh. Liếp ươm cần cao ráo, dễ thoát nước, bằng phẳng, để ánh sáng, nước tưới được phân bố đều.

- Hạt giống phải được xử lý trước khi gieo bằng cách: phơi nắng nhẹ vài giờ hoặc ngâm nước ấm (2 sôi + 3 lạnh) để kích thích sự nảy mầm. Hoặc xử lý bằng hạt Benlate, Zineb, Ridomyl bằng cách trộn hạt với thuốc, để tạo thành một lớp áo mỏng quanh hạt.

- Hạt gieo ở mật độ vừa phải, tránh làm lãng phí hạt giống và cây con không mọc chen chúc, yếu ớt. Có thể tỉa bớt cây con ở nơi dày để cấy sang nơi khác. Nếu có khả năng, nên gieo hạt vào bầu bằng nylon có đục lỗ hoặc lá dừa, lá chuối. Hoặc gieo hạt trên liếp ươm thật dày rồi nhổ cấy vào bầu khi cây có lá thật đầu tiên.

- Vào mùa mưa nên làm giàn che cho liếp ươm với các vật liệu như lưới, vòng kẽm hoặc tre, lá để che mưa cho cây con và giở ra khi trời nắng. Làm như vậy, cây con ít bệnh.

b) Đất trồng
- Chọn chân đất cao, thoát nước tốt.

- Liếp trồng phải cao ráo, rãnh rộng để thoát nước. Đồng thời chuẩn bị mương nội đồng để dẫn nước tưới khi có hạn và thoát nước khi trời mưa.

c) Phân bón
Dùng phân hữu cơ hoai mục để giảm thiểu nguồn bệnh. Bón đầy đủ, cân đối NPK. Cần chia lượng phân bón thành 4 - 5 lần thay vì 2 - 3 lần như trong mùa nắng, để giảm thiểu sự thất thoát do rửa trôi. Cần chú ý bón tăng cường thêm Kali cho các loại rau quả như cà, ớt, cải bắp... Có thể dùng thêm các loại phân bón lá như Komix, HVP, KNO3... phù hợp cho từng chủng loại rau.

d) Chăm sóc
- Tưới tiêu đúng kỹ thuật: Cần cung cấp đủ nước cho cây trồng, không để ngập úng hoặc khô hạn, nhất là thời kỳ cây ra hoa kết trái để tránh làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

- Tỉa bớt những cành vô hiệu, lá vàng, lá bị sâu bệnh để ruộng luôn được thông thoáng. Dùng dao kéo sắc bén khi tỉa, để vết thương không bị bầm dập, tỉa khi trời khô ráo, sau khi tỉa có thể phun Ridomyl, Kasuran ...

- Làm sạch cỏ dại để cỏ không tranh giành dinh dưỡng với cây trồng, làm mất nơi ẩn náu của sâu bệnh.

- Nếu có thể, nên phủ luống bằng rơm hoặc nhựa đen, tuy đầu tư cao lúc đầu nhưng tiện lợi và hiệu quả như hạn chế cỏ dại, giảm sự thất thoát phân bón, ngăn đất bắn lên lá khi trời mưa, khống chế ẩm độ của đất.

- Với một số loại rau như cà, ớt, bầu bí... cần làm giàn kịp thời, vững chắc để cây không đổ ngã, ruộng thông thoáng, dễ chăm sóc.

e) Phòng trừ sâu bệnh
Cần lưu ý, mùa mưa ẩm độ không khí cao, là điều kiện cho nấm bệnh phát triển, vì thế, cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để sớm phát hiện sâu bệnh và phun trừ kịp thời mới có hiệu quả. Song song với việc dùng thuốc hóa học, các biện pháp canh tác như bón phân, nước tưới, làm cỏ... được thực hiện chặt chẽ, thì việc phòng trừ sâu bệnh mới có hiệu quả.


Kỹ thuật trồng rau nghịch vụ, Nguồn: Tài liệu Việt Nam.

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2011

Kỹ thuật trồng rau Cần Tây

Kỹ thuật trồng rau Cần Tây




Rau cần tây là loại rau dùng làm nguyên liệu trong các món xào. Ngoài ra cần tây còn có tác dụng làm thuốc lợi tiểu, chữa bệnh cao huyết áp...

1. Chuẩn bị đất trồng
Rau cần tây rất dễ trồng, có thể sống trên nhiều loại đất (trừ đất phèn, quá mặn). Đất làm kỹ, tơi xốp, thiết kế mương liếp cân đối để chủ động tưới tiêu: mặt liếp rộng 1,2 - 1,5m, cao 20 - 30cm; khi làm đất nên rải (70 - 100kg) vôi bột/1.000m2 để hạn chế nấm bệnh phát triển.

2. Gieo hạt
Nếu chủ động được nước tưới có thể gieo trồng rau cần tây bất cứ mùa nào trong năm. Nên chọn thời tiết mát mẻ để gieo hạt, gieo 1 - 1,2kg hạt/1.000m2. Trước khi gieo nên ngâm hạt trong nước ấm khoảng 15 - 20 giờ để hạt hút đủ nước, kích thích hạt nảy mầm, sau đó vớt ra, trộn với tro bếp rải đều trên mặt liếp (mùa nắng có thể gieo hạt khô trộn với tro bếp, đất bột). Gieo xong rải một ít Basudin 10H để trừ kiến, mối tha hạt, rồi phủ liếp bằng rơm rạ hay tro trấu, đất bột và tưới nước thật đẫm.

3. Chăm sóc, bón phân
a) Chăm sóc
- Là cây thân thảo, rau cần tây dễ bị dập nát, nếu gieo hạt phủ rơm rạ tươi, khi cây mọc phải dỡ bớt rơm rạ để cây phát triển, dùng vòi hoa sen lỗ nhỏ tưới nước để cây không bị giập nát và không làm đất bị váng; cần tỉa bớt nếu cây mọc quá dày.

- Rau cần tây là cây ngắn ngày nên ít bị sâu bệnh phá hại, quá trình chăm sóc chỉ cần cung cấp đủ nước, song không quá ẩm hoặc ngập nước, nấm bệnh dễ phát triển làm chết cây. Nếu ruộng rau có sâu bệnh nên dùng thuốc trừ sâu vi sinh để phòng trừ.

- Nên dừng phun thuốc, bón phân trước thu hoạch 7 - 10 ngày để tránh tồn đọng dư lượng thuốc, phân, không gây độc hại cho người tiêu dùng.

b) Bón phân
- Tuỳ theo độ phì nhiêu của đất mà bón phân hợp lý: bón (1 - 1,5 tấn) phân hữu cơ + (15 - 20kg) ure + (15 - 20kg) DAP + 10kg super lân cho 1.000m2; có thể sử dụng các loại phân hỗn hợp có hàm lượng NPK tương ứng.

- Bón lót toàn bộ phân hữu cơ và 8kg super lân khi làm đất. Sau khi hạt nảy mầm, ngâm 2kg super lân còn lại tưới cho cây để phát triển bộ rễ.

- Bón thúc lượng DAP, ure chia làm 3 lần để bón vào ngày thứ 20, 30, 40 sau khi hạt mọc mầm bằng cách rải đều trên liếp rồi tưới nước. Khi bón phân cần chừa lại một ít ure để pha tưới dặm những nơi cây mọc yếu, lá xanh nhợt nhạt. Nếu dùng phân hỗn hợp NPK.

Kỹ thuật trồng rau cần tây, Nguồn: Câu lạc bộ Bạn nhà nông.

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

Kỹ thuật trồng Cải Củ Trắng

Kỹ thuật trồng Cải Củ Trắng



Cải củ là loại rau thuộc họ thập tự, dễ trồng, thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm. Trồng cải củ nhanh cho thu hoạch, năng suất từ 17 - 30 tấn/ha (tuỳ giống, thời vụ gieo trồng và điều kiện chăm sóc), bán vào các thời điểm giáp vụ rau cho thu nhập cao.

1. Giống
Hiện nay, trên thị trường có các giống cải củ sau: giống cải củ Hà Nội BM, cải củ Thái Bình BM131, cải củ Lệ Chi, cải củ Trung Quốc, cải củ Thái Lan, cải củ 45 ngày… Bà con nông dân có thể chọn trồng một trong các giống trên, lượng hạt giống cần cho 1 ha từ 8 – 12 kg hạt giống

2. Thời vụ
Cải củ có thể trồng được nhiều vụ trong năm: vụ chính gieo hạt tháng 8-9; vụ muộn gieo hạt tháng 10 - 11; vụ xuân hè gieo hạt tháng 2 - 4. Cải củ trồng vụ xuân hè nhanh cho thu hoạch nhất (khoảng 25 - 35 ngày) nhưng cho năng suất thấp.

3. Chuẩn bị đất và gieo hạt
- Cây cải củ cho phần thu hoạch là củ, nên để đạt được năng suất cao cần tạo điều kiện để củ sinh trưởng tốt nhất. Chọn đất thịt nhẹ hoặc cát pha, tơi xốp, nhiều mùn (cây cải củ trồng tốt nhất trên đất phù sa nhiều mùn), cách ly khu vực có chất thải, cách xa đường quốc lộ ít nhất 100 m, không tồn dư hóa chất độc hại và kim loại nặng.

- Đất cày cuốc sâu, để phơi ải ít nhất 1 tuần. Sau đó, làm tơi đất, nhặt sạch cỏ dại và các loại gạch vụn, sỏi, đá. Lên luống: mặt luống rộng 1,2 - 1,5 m; rãnh 30 - 40 cm; độ cao của luống 20 - 25 cm đối với vụ xuân hè hoặc 15 - 20 cm đối với vụ thu đông.

- Gieo hạt: Nếu gieo theo luống thì rải phân bón lót trên mặt luống rồi trộn đều với đất, để 1 - 2 ngày mới gieo hạt. Nếu gieo hàng thì tiến hành rạch hàng cách nhau 25 - 30 cm, bỏ phân vào rạch, lấp đất vài hôm rồi gieo. Gieo hạt xong lấy đất tơi xốp phủ 1 lớp mỏng lên trên, phủ rơm rạ rồi tưới ẩm (đảm bảo độ ẩm đạt 75 - 80%) để hạt nảy mầm tốt.

4. Bón phân
- Lượng phân bón cho 1 ha trồng cải củ như sau: 12 - 15 tấn phân chuồng hoai mục, 30 - 50 kg lân Lâm Thao, 65 - 100 kg đạm urê, 50 - 65 kg kali. Không dùng phân chuồng chưa ủ kỹ để bón cho cây cải củ vì phân chưa hoai sau này bám vào vỏ củ sẽ làm cho củ không được sáng mã.

- Cách bón phân:
+ Bón lót: Trồng cải củ bón phân lót là chính. Bón lót 100% phân chuồng hoai mục, 100% phân lân, 20% phân đạm và 40% phân kali. Phân lót được trộn đều vào đất trước khi gieo hạt 1 - 2 ngày. Bà con cũng có thể sử dụng phân NPK tổng hợp (loại chứa nhiều P2O5) để bón lót thay cho phân đơn.
+ Bón thúc lần 1: Khi cây có 2 - 3 lá thật, tiến hành tỉa thưa lần thứ nhất, rồi bón thúc. Lượng bón: 20% đạm + 20% kali. Cách bón: hoà tan phân với nước rồi tưới đều lên mặt luống.
+ Bón thúc lần 2: Sau lần 1 khoảng 5 - 7 ngày, tỉa cây để lại khoảng cách cây cách cây 15 - 20 cm, sau đó tiến hành bón phân thúc (30% đạm + 20% kali). Rắc đều phân lên mặt luống rồi tưới nước rửa để không cho phân dính vào lá cây.
+ Bón thúc lần 3: Khi củ đang sinh trưởng mạnh (củ to bằng ngón tay cái), bón hết lượng phân còn lại. Cách bón như lần 2.

- Lưu ý: Ngừng bón phân đạm ít nhất 21 ngày trước khi thu hoạch. Bà con nông dân cũng có thể dùng các loại phân bón vi sinh, phân bón qua lá để bổ sung dinh dưỡng cho cây, tăng năng suất cây trồng.

5. Chăm sóc
- Tưới nước: Cây cải củ ưa ẩm, nhưng không chịu được ngập úng. Do vậy, cần cung cấp lượng nước vừa đủ, tránh ngập úng gốc sẽ làm ảnh hưởng đến rễ và củ. Cứ 2 ngày tưới 1 lần bằng nước sạch, chỉ tưới lướt chứ không cần tưới đẫm nước.

- Vun xới: Cây cải củ có đặc điểm là khi hình thành củ, củ thường trồi lên mặt luống làm cho vỏ củ sần sùi, không sáng mã. Để cây cải củ có củ to, sáng mã cần phủ rơm rạ ngay từ sau khi gieo để giữ ẩm thường xuyên và tiến hành vun luống kết hợp cới cá lần bón thúc cho cây. Nếu đất bí dí, có thế xới phá váng rồi vun. Khi xới phải nhẹ, nông tay, không xới sát gốc cây làm đứt rễ, cây long gốc kém phát triển hoặc bị chết.

6. Phòng trừ sâu bệnh
- Cây cải củ rất dễ bị rệp và bọ nhảy phá hại, cần phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời để không làm ảnh hưởng đến năng suất. Có thể sử dụng các loại bẫy bả sinh học và thuốc trừ sâu sinh học để phòng trừ.

- Nếu ruộng trồng cải củ kém thoát nước, bón thúc quá nhiều phân đạm hoặc để cây quá dày, sẽ xuất hiện bệnh thối nhũn. Ngoài ra, cây cải củ thường bị các bệnh lở cổ rễ, phấn trắng và cháy lá gây hại.

- Để hạn chế sâu bệnh hại trên cây cải củ, cần chú ý: Không nên gieo 2 - 3 đợt cải củ và các cây họ cải khác liên tục trên cùng một diện tích; Ưu tiên sử dụng các loại thuốc trừ sâu sinh học thế hệ mới để phòng trừ; Nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly thuốc dùng đúng hướng dẫn trên bao bì gói thuốc.

7. Thu hoạch
- Vụ chính sau khi gieo 60 – 70 ngày cho thu hoạch, năng suất trung bình.

- Vụ muộn phải 80 – 100 ngày mới được thu hoạch, năng suất thân, lá, củ cao nhất.

- Vụ hè chỉ 25 – 35 ngày đã cho thu hoạch nhưng năng suất thấp, củ bé có vị hăng gắt. Cải củ vụ này thường ăn cả lá và củ.

- Những người có nhiều kinh nghiệm trồng cải củ cho biết để có năng suất cao, vụ muộn nên trồng cải củ lai F1, giống này cho củ rất to, trọng lượng củ đạt 300 – 500 g, chịu thâm canh. Về sâu bệnh, kinh nghiệm phòng trừ bọ nhảy hại củ và lá củ cải là trước khi gieo hạt dùng 1 kg thuốc Basudin 10 H cho mỗi sào, rắc và trộn đều trên mặt luống. Nhờ đó mà ấu trùng bọ nhảy sọc cong, sâu xám, dế trũi, mối, kiến hại rễ và củ đều bị tiêu diệt, đảm bảo năng suất cao và chất lượng củ cải khi thu hoạch.

Kỹ thuật trồng cải củ trắng, Nguồn: Khuyến nông Việt Nam.

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Kỹ thuật trồng cải xanh

Kỹ thuật trồng cải xanh


1. Chuẩn bị đất
- Cải Xanh trồng được trên nhiều loại đất miễn là tưới tiêu tiêu thuận lợi. Tuy nhiên đất nhiều cát, trồng mùa mưa nhất thiết phải dùng giống chịu mưa và nếu có thể được, nên dùng rơm phủ hoặc lưới nylon che để hạn chế đất cát bắn lên lá và hạn chế sâu bệnh cỏ dại.

- Chuẩn bị đất kỹ tơi xốp, nhặt sạch cỏ dại tàn dư cây trồng vụ trước, nếu có điều kiện phơi khô khoảng một tuần và đảo lớp mặt xuống dưới để thoáng khí cho cây trồng sinh trưởng tốt đồng thời hạn chế các sâu bệnh cư trú trong đất. Khoảng 5 - 6 tháng một lần nên xử lý đất chống sâu bệnh bằng cách bón 50 - 60 kg vôi/1.000m2 đất.

- Lên líp cao 20 - 30cm trong mùa mưa để chống rễ không bị úng và lá cũng không bị đất cát dính vào dễ nhiễm các bệnh thối gốc và phỏng lá. Mùa khô lên líp cạn để giữ ẩm cho cây.

2. Thời vụ

Có thể trồng quanh, mùa nắng cần có đủ nước tưới cải phát triển tốt và cho năng suất cao hơn mùa mưa nhưng có nhiều sâu hại cần lưu ý phòng trừ. Mùa mưa (tháng 5 - 10 dl) khó trồng, cây tăng trưởng kém, dễ bị rách lá nhưng bán được giá cao.

3. Giống

Sử dụng các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với sản xuất và tiêu thụ. Cải xanh để giống dễdàng trong vụ Đông Xuân từ tháng 10 - 2 dl, vì vậy nông dân có thể tự túc giống. Do Cải Xanh là cây thụ phấn chéo nên có nhiều dạng hình của thân lá, qua tuyển lựa của nông dân mà giống trồng cũng phong phú, đa dạng ở mỗi địa phương.

- Cải xanh ta: Thời gian từ gieo đến thu hoạch 40-45 ngày, lá xanh vàng, mỏng, cọng nhỏ, bẹ dẹp, năng suất cao và ăn ngon. Giống của Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam, công ty giống Miền Nam.

- Cải bẹ xanh mốc hay cải xanh Tiều: Cây to, lá xánh đậm, bẹ to, tròn, năng suất cao nhưng vị đắng, thích hợp ăn xào hoặc nấu canh, thời gian cho hoạch 40-45 ngày sau khi gieo như Cải Xanh Trang Nông.

4. Gieo cấy

- Gieo sạ: Gieo hột trực tiếp ngoài đồng sẽ đở công cấy, nhưng tốn hột giống và công tỉa. Lượng hột gieo sạ cho 1.000 m2 khoảng 500 gram. Hột giống ngâm trong nước sau 3 - 4 giờ vớt ra để ráo nước ủ ấm một đêm rồi đem gieo hột sẽ nẩy mầm nhanh và đều hơn gieo hột khô. Hột cải nhỏ, muốn gieo cho đều nên chia hột nhiều phần và trộn với bột trắng để dễ điều chỉnh hột gieo. Khi cây con được 10 - 15 ngày nhổ tỉa chừa khoảng cách 10 x 15 cm. Tưới đẩm liếp trước khi gieo, sau khi gieo rãi lớp tro trấu mỏng phủ hột (mùa mưa nên rãi trấu) và rắc thuốc trừ kiến, các sâu hại khác (sâu non, bọ nhẩy, dế kiến, sên nhớt, ốc nhí). Trên mặt líp phủ lớp rơm mỏng và tưới đủ ẩm.

- Gieo cây con: Lượng hột giống cần thiết để đủ cây con cấy trên 1.000 m2 khoảng 100 - 150 g, gieo trên 70 m2 đất. Liếp ương nơi cao ráo có đầy đủ ánh nắng. Cây con có 3 - 4 lá thật khoảng 15 -20 ngày tuổi đem cấy, mật độ từ 25.000 - 30.000 cây/1.000 m2. Trồng khoảng cách (15 - 20 cm) x 15 cm, 1 hốc 1 cây để ruộng thông thoáng hạn chế sâu bệnh. Liếp rộng 1 m cấy được 6-8 hàng cải, cấy dầy, cây cao, thân lá mhỏ, năng suất cao

5. Bón phân chăm sóc

Tổng lượng phân bón cho 1.000 m2 ruộng trồng khỏang 500 - 1.000 kg phân chuồng (phân heo, gà đã ủ hoai), 10 kg Urea, 10 kg super lân, 5 kg KCl, 10 kg hỗn hợp 16 - 16 - 8 và 10 kg DAP.

- Bón lót:
+ Vườn ươm: lót 2 - 3 kg phân chuồng hoai mục + 15g phân lân/1m2
+ Ruộng trồng: Toàn bộ phân chuồng + super lân + 2 kg KCl. Rãi trên mặt liếp và xới trộn đều.

- Bón thúc:
+ Vườn ươm: Không cần thiết cung cấp phân, nếu cây con phát triển hơi kém có thể tưới thúc nhẹ 1 lần khỏang 10 - 15 ngày sau khi gieo bằng nước phân hỗn hợp NPK 16 - 16 - 8 pha loãng (20 - 30g/10 lít nước). Cây con 18 - 20 ngày tuổi có thể cấy, cấy từng đợt riêng cây tốt và xấu để tiện chăm sóc.
+ Ruộng trồng: Bón phân dựa theo sự sinh trưởng của cây, do Cải Xanh rất ngắn ngày nên chia phân ra nhiều lần tưới sẽ có hiệu quả hơn.

Phân cá ủ pha loãng tưới thêm trong thời gian gần thu họach, có thể sử dụng phân bón lá chừng 2 lần (10 - 15cc/8 lít nước) trong 1 vụ cải xanh.

6. Quản lý dịch hại

Trên ruộng Cải Xanh thường gặp những dịch hại chủ yếu sau: Bọ nhẩy (Phyllotreta striolata), sâu ăn tạp (Spodoptera litura), sâu tơ (Plutella xylostella), sâu đục ngọn (Hellula sp.), bệnh chết cây con (do Pythium sp., Rhizoctonia sp., Sclerostium sp.), bệnh thối bẹ, Bệnh thối nhũn vi khuẩn (Erwinia carotovora). Việc thực hiện nghiêm chỉnh kỹ thuật canh tác nói trên đã là một phần trong quản lý dịch hại tổng hợp, phần này chỉ nhấn mạnh các biện pháp cần thiết cho quản lý các dịch hại cụ thể.

- Biện pháp canh tác
Luân canh: Để hạn chế các sâu bệnh hại có thể chu chuyển và gây hại nặng, không nên trồng liên tục nhiều vụ cùng họ cải trên cùng một chân đất. Nên luân canh bắt buộc với các cây khác họ như: xà lách, rau dền, mồng tơi hoặc rau gia vị ... tốt nhất nên luân canh với các cây họ hoà thảo như: bắp, lúa nước chẳng hạn.

+ Thường xuyên tưới đủ ẩm để hạn chế sự phát triển sâu non bọ nhẩy sống ở phần gốc cây dưới đất. Nhưng nếu thấy bệnh phát triển nên hạn chế tưới nước.
+ Mật độ gieo trồng vừa phải: Không nên trồng quá dầy nhất là trong mùa mưa dễ tạo thuận lợi cho các bệnh phát triển. Trong mùa mưa có thể che lưới thấp để tránh dập nát, tổn thương đến bộ lá.
+ Vệ sinh đồng ruộng: Làm sạch cỏ trong ruộng và cỏ bờ để hạn chế sự cư trú của các sâu bệnh, sau thu hoạch nên gom đốt các tàn dư.

- Biện pháp cơ lý
Thăm đồng thường xuyên nếu thấy xuất hiện các sâu bệnh hại như trứng sâu ăn tạp, sâu tơ, bệnh thối nhũn ... có thể dùng tay bắt giết nhổ bỏ cây bệnh để hạn chế sự lây lan. Các cây, lá bệnh khi nhổ bỏ không vứt ở ruộng và bờ mà cần gom đốt hoặc đào hố chôn có rãi vôi bột khử trùng, hay đem ủ phân đúng kỹ thuật.

- Biện pháp sinh học
Để bảo tồn các loại thiên địch của sâu hại (nhện, ong ký sinh, bọ rùa ăn sâu...) cần hạn chế các loại thuốc phổ rộng. Phòng các loại sâu non bọ cánh phấn nếu xuất hiện nhiều thì ưu tiên sử dụng thuốc vi sinh gốc Bacillus thuringiensis các loại, riêng với bọ nhẩy có thể dùng các loại thuốc thảo mộc Nicotine (nước ngâm thân lá thuốc lá), Rotenone (thuốc cá) phun trừ.

- Biện pháp hóa học
+Trừ sâu hại: Trong vườn ươm cần trừ kiến tha hột giống có thể sử dụng thuốc Basudin 10H (15-20g/10m2). Để trừ bọ nhẩy có thể xử lý hột giống trước gieo bằng thuốc. Trường hợp bọ nhẩy xuất hiện nhiều trên ruộng có thể dùng thuốc gốc lân hữu cơ kết hợp với gốc cúc tổng hợp theo khuyết cáo.
+ Trừ bệnh hại: Để phòng trị các bệnh trước khi gieo nên xử lý bằng một trong các loại thuốc sau đây: Rovral 50 WP, Viben-C 50 WP, lượng dùng 5kg/1kg hột.
+ Với bệnh chết cây con: Khi phát hiện phun một trong các loại thuốc: Moceren 25 WP (15g/8 lít), Rovral 50WP (20g/8 lít), Ridomil MZ 72 WP (15g/8 lít).
Bệnh thối bẹ: dùng Moceren 25 WP (25g/8 lít), Rovral 50 WP (20g/8 lít), Ridomil MZ 72 WP (15g/8 lít).

- Còn một tuần lễ trước khi thu hoạch tuyệt đối không dùng thuốc hoá học chỉ được phép sử dụng thuốc thảo mộc, vi sinh.


Kỹ thuật trồng cải xanh, Khoa Nông nghiệp - Đại học Cần Thơ.

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Quy trình kỹ thuật trồng rau

Quy trình kỹ thuật trồng Rau




1. Chuẩn bị đất

1.1. Chọn đất

Đất phải thích hợp cho yêu cầu của từng loại rau: Đất pha cát, phù sa ven sông, đất thịt hay đất sét pha. Khu trồng rau phải gần nguồn nước, nguồn phân. Khu trồng rau phải thuận tiện cho giao thông phân phối.

1.2. Cày, bừa, phơi đất

Cày sâu để tăng chiều dầy tầng canh tác, phá vỡ lớp đất đế cày.
Phơi ải thường được áp dụng trước khi sửa soạn đất để diệt cỏ dại, mầm bệnh trong đất, làm đất khô ráo, thoáng khí, dễ làm đất hơn.

1.3. Lên liếp

Sau khi cày bừa, làm cỏ, cần tiến hành lên liếp tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đất được thoát nước và khâu chăm sóc được dễ dàng.
Để rau có điều kiện hứng đủ ánh sáng cần chú ý hướng liếp. Hướng Đông Tây cho cây đủ ánh sáng nhất.

1.4. Đậy liếp bằng màng phủ nông nghiệp

Màng phủ nông nghiệp còn gọi là "màng bạt" hay "thảm", là một loại nhựa dẻo, mỏng chuyên dùng để phủ liếp trồng rau.
Mục đích: Hạn chế côn trùng gây hại, hạn chế bệnh hại, ngăn ngừa cỏ dại, điều hòa độ ẩm và giữm cấu trúc mặt đất, giữ phân bón, tăng nhiệt độ đất, hạn chế độ phèn, mặn, tăng giá trị trái.
Trồng rau sử dụng màng phủ nông nghiệp có thể khắc phục được một phần yếu tố bất lợi của môi trường, cải thiện phương pháp canh tác cổ truyền theo hướng công nghiệp hóa, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.
Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp trên một số loại rau có thời gian sinh trưởng dài.
Chuẩn bị trước khi trồng:
- Lên liếp: Lên liếp cao 20 - 40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải bằng phẳng.
- Rải phân lót: Toàn bộ vôi, phân chuồng và 1/4 lượng phân hóa học rài, trộn đều trên mặt liếp. Trồng bằng màng phủ nên bón lượng phân lót nhiều hơn trồng phủ rơm bởi vỉ phân bón được giữ bên trong màng phủ ít bị thất thoát...
- Đậy màng phủ: Tưới ướt mặt liếp trồng khi đậy màng phủ.
- Đục lỗ màng phủ: Dùng lon sửa bò đường kính 10 cm.
- Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh vào lỗ trước khi đặt cây con.

2. Xử lý hạt giống truớc khi gieo

2.1. Xử lý hột giống

Đề nghị phòng bệnh do nấm khuấn có sẳn trong hạt hoặc tấn công cây con lúc mới gieo.

2.2. Cách gieo hột

- Gieo hột thẳng:
*Ưu điểm: Gieo thẳng rễ mọc sâu, cây sinh trưởng rất mạnh không bị mất sức.
* Khuyết điểm: Khó chăm sóc gặp mưa to cây hư nhiều.
- Gieo trong bầu:
* Ưu điểm: Gieo trong bầu cây sinh trưởng đều ít hao cây con.
* Khuyết điểm: Tốn công làm bầu, rễ không phát triển sâu.

3. Chăm sóc

Xới đất để diệt cỏ, cải thiện thành phần không khí trong đất và giữ ẩm độ đất.
Vun đất làm thêm phần xốp vào nơi gốc cây, giúp cây khỏi ngã khi có gió to và tăng cường khả năng tiếp xúc của bộ rễ với đất, tạo điều kiện cho rễ bất định trên gốc thân phát triển.
Tủ đất giúp giảm sự bốc thoát hơi nước từ đất.
a) Bón phân: Có nhiều cách bón phân
- Vãi phân và cày lấp đất chôn phân trước khi gieo trồng
- Bón phân vào rãnh ở một bên hay cả 2 bên hàng cây.
- Trộn đều phân vào đất trong rãnh khi gieo, lấp đất và gieo hạt lên trên.
- Rãi trên mặt hoặc giữa hàng cây các loại phân NPK dễ tiêu, có hiệu nhanh khi cây lớn.
b) Tuới nuớc
Là một trong những biện pháp chủ yếu đảm bảo năng suất cao mà không lệ thuộc vào điều kiện thời tiết. Phương pháp tưới được sử dụng phổ biến:Tưới thùng, gàu, tưới rãnh.

4. Phòng trừ sâu hại

a) Phương pháp canh tác
- Khử giống.
- Cải thiện điều kiện môi trường.
- Điều chỉnh nước tưới và thoát nước hợp lý, tạo ẩm độ đất và không khí thích hợp cho sự phát triển của cây và không thuận hợp cho vi sinh vật.
- Bón phân thay đổi pH và nnồng độ các chất dinh dưỡng trong đất cũng có thể ngăn ngừa một số bệnh do vi sinh vật trong đất gây ra.
- Luân canh và xen canh.
b) Phương pháp sinh học
- Sử dụng giống kháng.
- Biện pháp sử dụng thiên địch thiên nhiên.
c) Phương pháp hoá học
- Việc áp dụng biện pháp hóa học có ý nghĩa tích cực nhất trong viêc bảo vệ rau phòng tri dịch hại vì thuốc tác dụng phòng trị dịch nhanh.
- Sử dụng thuốc hóa học phòng trị côn trùng thường đưa đến việc làm ô nhiểm môi trường và sản phẩm rau thu hoạch và diệt côn trùng có ích, do đó chỉ trong trường hợp rất cần thiết hãy sử dụng. Nếu có thể nên giảm đến mức tối thiểu việc sử dụng thuốc hóa học hoặc sử dụng kết hợp với các phương pháp khác.

5. Thu hoạch

- Chín kỹ thuật, chín nông học hay chín thu hoạch là thời điểm sản phẩm có thể sử dụng làm thực phẩm, dự trữ, chuyên chở hay chế biến.

Quy trình kỹ thuậ trồng rau, Nguồn: Khoa Nông nghiệp - Đại học Cần Thơ