Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Trê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cá Trê. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Kinh nghiệm nuôi cá Trê Lai

Kinh nghiệm nuôi cá Trê Lai


Kinh nghiệm nuôi cá trê lai by Chi cục BVNLTS Vĩnh Long | Kinh nghiem nuoi ca tre lai

1. Chuẩn bị ao
Vét bùn đáy ao, lấp các lỗ mọi, đắp bờ bao, phơi đáy ao 2 - 3 ngày, bón vôi từ 30 - 50kg/1.000m2 để diệt tạp và điều chỉnh độ pH của nước ao. Bón lót phân chuồng với lượng 100 - 150kg phân/1.000m2. Lấy nước qua lưới lọc vào ao để ngăn ngừa cá dữ, địch hại theo vào trong ao. Sau 5 - 7 ngày có thể thả cá vào nuôi được. Mực nước lúc ban đầu lấy vào ao khoảng 0,8m - 1m, sẽ được tăng dần lên sau 1 tháng nuôi đến khi đạt độ sâu 1,2 - 1,5m. Nếu là ao mới đào thì bón vôi với liều lượng 70 - 100kg/1.000kgm2 để giữ cho độ pH của nước từ 6 - 7,5 là tốt nhất.

2. Chọn giống cá
Chọn cỡ cá đồng đều, khoẻ mạnh, không bị xây xát, không bị bệnh, bơi lội nhanh nhẹn và đã qua kiểm dịch giống thuỷ sản.


3. Mật độ nuôi
Mật độ: 20 - 40 con/m2, mật độ còn tuỳ thuộc vào khả năng đầu tư của hộ.

4. Thức ăn
Thức ăn viên công nghiệp hoặc thức ăn tự chế biến.
- Thức ăn viên công nghiệp đủ thành phần dinh dưỡng và cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Thức ăn tự chế biến:
+ Cá trê lai là loài ăn tạp, rất háu ăn, thức ăn thường là các phụ phế phẩm của các nhà máy đông lạnh và phụ phẩm nông nghiệp. Ngoài ra, để giúp cá tăng trưởng nhanh, ít bệnh trong quá trình nuôi cần bổ sung premix, vitamin C một tuần một lần với lượng 1 - 2% của tổng thức ăn cho ăn hằng ngày.
+ Trong 2 tuần đầu mới thả cá còn nhỏ nên bằm thức ăn: Đầu lòng cá, ruột gà vịt, và tất cả các phụ phẩm nhà máy đông lạnh,....
+ Bắp xay nên ngâm nước cho nở khoảng 15 - 20 phút trước khi nấu. Sau khi nấu chín trộn với cám khô theo tỷ lệ 1/1 rồi trộn tiếp với con ruốc hoặc cá phân.
+ Nếu cho ăn thức ăn tươi (đầu tôm, lòng ruột cá...) lượng thức ăn cho cá ăn trong một ngày bằng 10 - 15% tổng trọng lượng cá dự đoán dưới ao. Nếu dùng thức ăn tinh như cám, bắp,... lượng thức ăn cho cá ăn trong một ngày bằng 5 - 7% trọng lượng cá dự đoán.

- Nên cho cá ăn những vị trí cố định trong ao, thường xuyên theo dõi điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Tránh trường hợp cho ăn quá dư thừa làm thối bẩn nước ao tạo điều kiện cho bệnh cá phát triển.

5. Quản lý, chăm sóc
- Thường xuyên kiểm tra bờ bao, cống bọng và tốc độ lớn của cá.

- Theo dõi hoạt động của cá, màu nước trong ao. Sau một tháng đầu cá tương đối lớn có thể định kỳ thay nước cho ao, cứ 5 - 7 ngày một lần thay khoảng 30% lượng nước có trong ao. Sử dụng thức ăn tươi thì cần chú ý thay nước nhiều hơn tốt nhất thay nước theo thuỷ triều.

6. Thu hoạch
Sau 4 tháng thả nuôi cá sẽ đạt kích cỡ thương phẩm (150 - 250g/con), tiến hành thu hoạch đợt I xong sẽ tiếp tục cho ăn tích cực, khoảng 10 - 15 ngày sau sẽ thu hoạch đợt II. Thường ở đợt này lượng cá thu hoạch được sẽ nhiều hơn và tương đối đồng đều về kích cỡ so với đợt I. Nếu trong ao vẫn còn một số cá chưa đạt qui cỡ thì sẽ nuôi tiếp tục hai tuần nữa thu hoạch toàn bộ.

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Trê Vàng

Kỹ thuật nuôi cá Trê Vàng


1. Nuôi trong ao đất


- Diện tích ao từ 500 - 1000m2 Mực nước dao động từ 1,6 - 1,8 m. Ao nuôi gần nguồn cung cấp nước, cấp thoát nước chủ động. Đáy ao ít bùn, bờ ao vững chắc.

- Tát cạn ao, bón vôi 10 kg/100 m2. Phơi đáy ao 3 - 4 ngày, sau đó cấp nước vào qua lưới lọc. Sử dụng bột đậu nành hay bột cá để bón với liều lượng từ 2 - 3 kg/100 m2 nhằm gây nuôi thức ăn tự nhiên.

2. Mật độ thả nuôi
- Cá giống có kích cỡ đồng đều, kích thước từ 5 - 10 cm, không xây xát, dị hình. Mật độ thả 20 con/m2. Nên thả cá vào lúc trời mát.

- Trước khi thả cá cần tắm cá bằng nước muối liều 3 - 5g/lít nước.

3. Thức ăn
Sử dụng thức ăn công nghiệp có bổ sung thức ăn tự chế từ phụ phế phẩm nông nghiệp như cám, tấm, rau, bèo, ... phụ phế phẩm nhà máy chế biến thủy sản, phế phẩm từ lò mỗ gia súc, các loại tôm tép, cua, ốc, cá tạp. Tuỳ theo các giai đoạn phát triển, lượng thức ăn hằng ngày dao động từ 5 - 7%/khối lượng cá trong ao. Hàm lượng đạm cần thiết để duy trì cá phát triển tốt ở tháng thứ 1 là 28 - 30%, tháng thứ 2 là 24 - 26 % và tháng thứ 3 là 18 - 20 %. Mỗi ngày cho cá ăn từ 2 lần. Nên dùng sàng và lập nhiều điểm cho ăn ở trong ao để cá phát triển đều hơn.

4. Chăm sóc và quản lý ao nuôi
- Cần duy trì mực nước ổn định. Định kỳ thay nước 1lần/tuần mỗi lần thay 1/3 nước trong ao.

- Theo dõi hoạt động của cá hằng ngày. Điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp sao cho vừa đủ không thừa mà cũng không thiếu.
+ Định kỳ 2 lần/tuần trộn thêm vitamine C (60 – 100 mg/kg thức ăn) và chất khoáng vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng cũng như cá tăng trưởng tốt hơn.
+ Quan tâm và phòng ngừa bệnh cho cá.
+ Thường xuyên kiểm tra bờ, bọng, rào chắn cẩn thận đề phòng sự thất thoát cá nuôi nhất là vào mùa mưa lũ.

5. Phòng trị bệnh cho cá trê
- Bệnh nhầy da: Khi nhiễm bệnh cá bột bơi thẳng đứng trên mặt nước, vây bị ăn mòn, râu quăn. Da có đám chất nhầy. Bệnh này do ký sinh trùng. Điều trị bằng sunphat đồng 0,3g/m3 tắm trong 2 - 3 ngày. Dùng Fomalin 25g/m3 tắm trong 2 ngày.

- Bệnh trắng da khoang thân: Khi mắc bệnh cá bột thường nổi trên mặt nước, da bị loét. Thân có những đám vệt trắng. Vây cụt. Bệnh do vi khuẩn Flexiloacter columnanis gây ra. Điều trị bằng Chloroxit, Tetracilin, Penixilin tắm cho cá trong 30 phút. Liều lượng một viên 250mg/10 lít nước.

- Bệnh trùng quả dưa: Thân cá gốc vây ngực có chấm nhỏ như hạt tấm màu trắng. Các chất này vỡ ra vào trong nước, tạo nên các vết loét ở chỗ vỡ. Điều trị bằng cách tắm Vernalachite hay Greenmetil 0,1g/m3 trong 3 - 4 ngày. Formalin 25g/m3 trong 8 ngày.

- Bệnh sán lá 16 móc: Cá có màu đen, đầu to đuôi nhỏ, mang bị rựng, cá bơi chậm chạp dựng đứng thành dụng cụ ương. Bệnh do vi khuẩn Dactylogyrus gây nên. Điều trị bằng cách tắm trong nước 4muối 3% trong 3 - 5 phút. Phun trực tiếp Dipterex 0,25 - 0,5g/m3 trong 1 - 2 ngày.

6. Thu hoạch
Sau thời gian 5 - 6 tháng nuôi cá Trê sẽ đạt kích cỡ thương phẩm. Có thể thu hoạch một lần.

Tài liệu Kỹ thuật nuôi cá trê vàng, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Kỹ thuật nuôi cá Trê Vàng

KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRÊ VÀNG


1. Nuôi trong ao đất

- Diện tích ao từ 500 - 1000m2 Mực nước dao động từ 1,6 - 1,8 m. Ao nuôi gần nguồn cung cấp nước, cấp thoát nước chủ động. Đáy ao ít bùn, bờ ao vững chắc.
- Tát cạn ao, bón vôi 10 kg/100 m2. Phơi đáy ao 3 - 4 ngày, sau đó cấp nước vào qua lưới lọc. Sử dụng bột đậu nành hay bột cá để bón với liều lượng từ 2 - 3 kg/100 m2 nhằm gây nuôi thức ăn tự nhiên.

2. Mật độ thả nuôi
- Cá giống có kích cỡ đồng đều, kích thước từ 5 - 10 cm, không xây xát, dị hình. Mật độ thả 20 con/m2. Nên thả cá vào lúc trời mát.
- Trước khi thả cá cần tắm cá bằng nước muối liều 3 - 5g/lít nước.

3. Thức ăn
Sử dụng thức ăn công nghiệp có bổ sung thức ăn tự chế từ phụ phế phẩm nông nghiệp như cám, tấm, rau, bèo, ... phụ phế phẩm nhà máy chế biến thủy sản, phế phẩm từ lò mỗ gia súc, các loại tôm tép, cua, ốc, cá tạp. Tuỳ theo các giai đoạn phát triển, lượng thức ăn hằng ngày dao động từ 5 - 7%/khối lượng cá trong ao. Hàm lượng đạm cần thiết để duy trì cá phát triển tốt ở tháng thứ 1 là 28 - 30%, tháng thứ 2 là 24 - 26 % và tháng thứ 3 là 18 - 20 %. Mỗi ngày cho cá ăn từ 2 lần. Nên dùng sàng và lập nhiều điểm cho ăn ở trong ao để cá phát triển đều hơn.

4. Chăm sóc và quản lý ao nuôi
- Cần duy trì mực nước ổn định. Định kỳ thay nước 1lần/tuần mỗi lần thay 1/3 nước trong ao.
- Theo dõi hoạt động của cá hằng ngày. Điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp sao cho vừa đủ không thừa mà cũng không thiếu.
+ Định kỳ 2 lần/tuần trộn thêm vitamine C (60 – 100 mg/kg thức ăn) và chất khoáng vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng cũng như cá tăng trưởng tốt hơn.
+ Quan tâm và phòng ngừa bệnh cho cá.
+ Thường xuyên kiểm tra bờ, bọng, rào chắn cẩn thận đề phòng sự thất thoát cá nuôi nhất là vào mùa mưa lũ.

5. Phòng trị bệnh cho cá trê
- Bệnh nhầy da: Khi nhiễm bệnh cá bột bơi thẳng đứng trên mặt nước, vây bị ăn mòn, râu quăn. Da có đám chất nhầy. Bệnh này do ký sinh trùng. Điều trị bằng sunphat đồng 0,3g/m3 tắm trong 2-3 ngày. Dùng Fomalin 25g/m3 tắm trong 2 ngày.
- Bệnh trắng da khoang thân: Khi mắc bệnh cá bột thường nổi trên mặt nước, da bị loét. Thân có những đám vệt trắng. Vây cụt. Bệnh do vi khuẩn Flexiloacter columnanis gây ra. Điều trị bằng Chloroxit, Tetracilin, Penixilin tắm cho cá trong 30 phút. Liều lượng một viên 250mg/10 lít nước.
- Bệnh trùng quả dưa: Thân cá gốc vây ngực có chấm nhỏ như hạt tấm màu trắng. Các chất này vỡ ra vào trong nước, tạo nên các vết loét ở chỗ vỡ. Điều trị bằng cách tắm Vernalachite hay Greenmetil 0,1g/m3 trong 3-4 ngày. Formalin 25g/m3 trong 8 ngày.
- Bệnh sán lá 16 móc: Cá có màu đen, đầu to đuôi nhỏ, mang bị rựng, cá bơi chậm chạp dựng đứng thành dụng cụ ương. Bệnh do vi khuẩn Dactylogyrus gây nên. Điều trị bằng cách tắm trong nước 4muối 3% trong 3-5 phút. Phun trực tiếp Dipterex 0,25-0,5g/m3 trong 1-2 ngày.

6. Thu hoạch
Sau thời gian 5 - 6 tháng nuôi cá Trê sẽ đạt kích cỡ thương phẩm. Có thể thu hoạch một lần.

Tài liệu Kỹ thuật nuôi cá trê, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Trê Vàng

KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ TRÊ VÀNG


1. Nuôi vỗ cá bố mẹ
1.1 Ao nuôi vỗ

Qua thực tế ở ĐBSCL cho thấy ao nuôi vỗ có diện tích rất nhỏ từ vài chục đến vài trăm mét vuông cá đều thành thục tốt. Ao nuôi vỗ cá Trê cần phải có bờ chắc chắn không được rò rỉ, có lỗ mọi, đặc biệt là ở cửa cống. Tốt nhất là cần rào chắn cẩn thận tránh sự thất thóat cá. Độ sâu mực nước dao động từ 1,2 – 1,5 m.

1.2 Mật độ thả
Cá dùng để nuôi vỗ từ 12 tháng tuổi trở lên, trọng lượng trung bình từ 150 - 200 g/con. Mật độ thả từ 0,5 - 0,8 kg/m2 với tỷ lệ cá đực : cá cái là 1 : 1. Thời gian nuôi vỗ từ 2 - 3 tháng.

1.3 Thức ăn
Cá Trê rất háu ăn và thời gian tiêu hóa thức ăn rất nhanh vì thế nên cho cá ăn nhiều lần trong ngày. Lượng thức ăn hàng ngày là 1,5 - 3 % trọng lượng cá nuôi. Thành phần thức ăn phải có hàm lượng đạm tương đối cao vì thế lượng bột cá sử dụng chiếm 30 - 40 %, cám gạo 40 %, bột đậu nành 20 - 30 %. Ngoài ra có thể sử dụng thêm phế phẩm từ lò mổ hay từ nhà máy chế biến thủy sản hoặc cá tạp tươi 1 lần/tuần.

2. Chọn cá bố mẹ
- Cá Trê cái khi thành thục có bụng to, mềm đều, lỗ sinh dục hình vành khuyên và phồng to thường có màu đỏ nhạt. Lấy ngón tay vuốt nhẹ bụng cá từ trên xuống thấy có trứng chảy ra, kích cỡ trứng đồng đều, căng tròn với màu sắc đặc trưng.
- Con đực có gai sinh dục dài, hình tam giác, phía đầu gai sinh dục nhọn và nhỏ, phần nhô ra phía sau rất dài thường có màu trắng hay vàng nhạt, vào mùa sinh sản có màu hồng nhạt. Tỷ lệ cá đực : cá cái tham gia sinh sản là 1:3 hoặc 1:5.


3. Kích thích cá sinh sản
a) Các loại kích dục tố và nồng độ sử dụng
Kích thích tố (KDT) sử dụng để kích thích cá Trê sinh sản là não thùy thể thường dùng là não thùy cá chép, HCG (Human Chorionic Gonadotropin) là kích dục tố màng đệm của nhau thai tiết ra. Liều hormone dùng cho kích thích cá là 4.000 – 6.000 UI/kg cá cái. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp cả hai loại kích dục tố trên.

b) Phương pháp tiêm và cách tiêm
- Phương pháp tiêm: tiêm 2 lần.
+ Lần một: gọi là liều sơ bộ, lượng kích dục tố sử dụng bằng 1/3 tổng liều.
+ Lần hai: gọi là liều quyết định, lượng kích dục tố sử dụng bằng 2/3 tổng liều và cách lần một từ 4 - 6 giờ.
- Cá đực chỉ sử dụng phương pháp kích thích cá một lần duy nhất với liều lượng bằng liều sơ bộ của cá cái. Kích thích cá đực cùng thời điểm với liều quyết định cho cá cái.
- Cách tiêm : Vị trí tiêm kích dục tố có thể là gốc vây ngực, xoang bụng hoặc trên cơ lưng của cá. Thường tiêm trên cơ lưng sẽ an toàn và dể dàng hơn. Thời gian hiệu ứng kích dục tố của cá Trê từ 8 - 15 giờ, kể từ khi kích thích cá bằng liều quyết định thì cá sẽ rụng trứng. Đối với phương pháp sinh sản nhân tạo thì việc xác định thời điểm rụng trứng này rất quan trọng, vì yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ thụ tinh của trứng, nếu trễ hoặc sớm hơn cũng không tốt.

4. Vuốt trứng và thụ tinh
4.1 Cá đẻ trứng và thụ tinh tự nhiên

Sau khi kích thích cá bằng kích dục tố, bố trí cá theo tỷ lệ đực:cái là 1:1 vào bể đẻ có độ sâu mực nước từ 20 - 40 cm. Bể đẻ có diện tích từ 2 - 20 m2 trong đó có để sẵn giá thể là gạch đối với cá Trê phi và xơ dừa hoặc xơ nilon cho cá Trê vàng, nên căng một tấm lưới dưới đáy bể để hứng những trứng rơi rớt không bám trên giá thể. Mật độ cá thả vào bể là 5 cặp cá bố mẹ/m2. Chờ cá sinh sản xong, tiến hành vớt giá thể có trứng bám vào đem sang bể ấp.

4.2 Thụ tinh nhân tạo
- Có thể chủ động vuốt trứng cá và mổ lấy tinh cá đực để tiến hành thụ tinh nhâ tạo.
- Tách cá cái và cá đực bố mẹ trong hai bể khác nhau theo tỷ lệ 3 – 5 cá cái /1 cá đực. Sau khi kích thích cá bằng kích dục tố ta cần phải xác định chính xác thời điểm rụng trứng của cá cái để tiến hành vuốt trứng và thụ tinh nhân tạo. Vì cá đực rất khó vuốt lấy tinh dịch, do đó cần mổ bụng cá đực để lấy tinh sào.

- Chuẩn bị dụng cụ
+ Khăn, dao hay kéo để mổ bụng cá đực lấy tinh sào.
+ Thau nhỏ để chứa trứng, chén để chứa tinh sào cá đực.
+ Nước muối sinh lý hay dịch truyền.
+ Giá thể để rắc trứng nên làm bằng khung lưới.
- Tiến hành thụ tinh nhân tạo
+ Tiến hành mổ cá đực lấy tinh sào ngay trước thời điểm cá rụng trứng.
+ Vuốt trứng cá cái vào thau cần lau khô và sạch thau trước khi chứa trứng. Trước khi vuốt trứng cần lau tay và thân cá khô ráo để tránh nước rơi vào thau trứng.
+ Dùng kéo cắt nhỏ tinh sào, sau đó vắt lấy phần tinh dịch vào trứng.
+ Trộn lẫn tinh dịch vào thau trứng, dùng lông gia cầm (lông vịt) khuấy đều trong một phút để trứng và tinh dịch hòa lẩn vào nhau. Nếu thấy đặc quá ta cần thêm nước cất để gia tăng sự tiếp xúc với trứng của tinh trùng do tinh trùng vận động tốt hơn trong môi trường nước. Sau đó rửa trứng bằng nước sạch.
+ Rắc đều trứng lên khung lưới được bố trí sẳn trong bể ấp, tránh rắc quá dày trứng dể bị hư.

4.3 Ấp trứng
- Dụng cụ ấp có thể là bể xi măng, composite hay bể lót bằng bạt nilon. Diện tích bể từ 1 - 20 m2. Độ sâu mực nước từ 20 - 60 cm. Mật độ ấp từ 20.000 – 30.000 trứng/m2. Trứng cá phải ngập vào trong nước. Cần cung cấp nước mới liên tục và oxy đầy đủ, nhất là ở thời điểm trước và sau khi nở phải đãm bảo từ 5 - 6 mg/lít. Độ pH dao động từ 6,5 - 7,5. Nhiệt độ nước bể ấp từ 25 - 33 0C, nhưng tối ưu là từ 28 - 30 0C. Môi trường nước phải sạch, không được để nước hư thối làm ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi cá. Trong quá trình ấp không được để ánh nắng trực tiếp chiếu vào và nhiệt độ nước phải ổn định không được chênh lệch quá 20C. Thời gian phôi phát triển đến khi nở thành cá bột là 20 giờ ở cá Trê phi và 22 - 23 giờ ở cá Trê vàng.
- Sau khi cá nở, tiến hành vớt giá thể ra. Cần thao tác nhẹ nhàng để tách trứng ung ra khỏi bể, nhằm giúp bể ương sạch hơn, làm tăng tỷ lệ sống của cá bột. Tiếp tục giữ cá ở bể ấp từ 2 - 3 ngày thì chuyển sang giai đoạn ương cá giống. Có thể sử dụng tiếp bể ấp làm bể ương cá bột hay vớt sang ao hoặc bể ương khác. Lúc này cá bột có thể ăn được thức ăn bên ngoài.

5. Ương cá trong ao đất
- Ao ương có diện tích vừa phải tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch, diện tích từ 100- 500 m2, độ sâu mực nước từ 1 - 1,2 m, bờ bao chắc chắn không rò rỉ.
- Dọn cỏ bờ, tát cạn nước, dùng rễ dây thuốc cá diệt cá tạp, cá dữ với
liều lượng 0.2 - 0.3kg/100m2, lấp kín các hang hốc.
- Dùng vôi bột bón xung quanh bờ ao và đáy ao để cải tạo phèn, liều lượng từ 7 - 10kg/100 m2.
- Phơi đáy ao: nếu gặp trời nắng mà phơi được đáy ao vài ngày thì tốt nhất. Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.
- Gây nuôi thức ăn tự nhiên : sử dụng bột đậu nành hay bột cá để bón với liều lượng từ 2 - 3 kg/100 m2.
- Lấy nước cho ao: nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để tránh tép, cá khác vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết.
- Mật độ cá ương dao động từ 250 – 400 con /m2.
- Lượng cho ăn: 2 lòng đỏ trứng và 200 g bột đậu nành xây nhuyễn cho 10.000 cá bột trong 3 ngày đầu (120 - 150% trọng lượng thân). Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 10 cho ăn cá tạp xây nhuyễn phối trộn với cám (với tỷ lệ 90% cá tạp và 10% cám), liều lượng chiếm 80 - 100% trọng lượng thân, thức ăn được pha với nước tạt đều khắp ao. Mỗi ngày cho ăn từ 4 - 5 lần.
- Thường xuyên theo dõi các hoạt động bơi lội, bắt mồi của cá để phát hiện kịp thời cá bệnh.
- Trong thành phần thức ăn nên bổ sung thêm Vitamin C: 5 - 10 gam/10 kg thức ăn và Premix từ 1-2 % lượng thức ăn cho cá. Cá ương trong ao rất mau lớn, chỉ sau 13 - 14 ngày cá đạt tới cở 4 - 6 cm chiều dài.

- Trong quá trình ương phải thay nước định kỳ. Đặc biệt cần chú ý vấn đề dịch bệnh và phòng trừ địch hại như: cá dữ, chim, rận nước. Sau 30 - 45 ngày kích cỡ cá giống đạt 10 - 12 cm thì chuyển cá sang nuôi thịt. Khi đánh bắt thu hoạch cá giống cần thao tác nhẹ nhàng, dụng cụ phải trơn nhẳn, mắt lưới vợt không được quá thô ráp làm cá bị xây xát. Nếu cá giống vận chuyển đi xa cần phải giữ trên giai, bể và không cho ăn một ngày trước khi vận chuyển.

Tài liệu Kỹ thuật nuôi cá trê, Nguồn: Chi cục Thủy sản Cần Thơ.

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Đặc điểm sinh học cá Trê Vàng

Đặc điểm sinh học cá Trê Vàng


1. Phân loại
Họ cá Trê gồm nhiều loài ở châu Á và châu Phi. Ở nước ta đang khai thác và nuôi 4 loài đó là cá Trê Đen (Clarias focus), Trê Trắng (Clarias batracus), Trê vàng (Clarias macrocephalus), Trê phi (Clarias gariepinus) và cá Trê lai. Hiện nay cá Trê vàng lai (là con lai giữa cá Trê phi đực và cá Trê vàng cái) đang được nuôi phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước.
Đặc điểm nhận dạng và phân biệt 4 loài cá Trê
1. Cá Trê trắng (Clarias batrachus)
2. Cá Trê vàng (Clarias macrocephalus)
3. Cá Trê lai là con lai giữa cá Trê vàng cái và cá Trê phi đực
4. Cá Trê phi (Clarias gariepinus)
Theo Phạm Thanh Liêm (2006) có nhiều chỉ tiêu hình thái để phân biệt các loài cá Trê, tuy nhiên có 5 đặc điểm hình thái dễ nhận biết nhất giúp phân biệt nhanh các loài cá Trê đó là các đặc điểm về màu sắc cơ thể (1), hình dạng của thóp trán (2), xương chẩm (3), khoảng cách xương chẩm - vi lưng (4) và sau cùng là gai vi ngực (5).


2. Đặc điểm dinh dưởng và phát triển
- Các loài cá Trê nói chung đều có tính chịu đựng cao với môi trường khắc nghiệt như: ao tù, mương rãnh, nơi có hàm lượng oxygen thấp vì cơ thể cá Trê có cơ quan hô hấp phụ gọi là "hoa khế" giúp cá hô hấp được nhờ khí trời. Cá Trê có đặc tính ăn tạp, thức ăn chủ yếu là động vật. Trong tự nhiên cá Trê ăn côn trùng, giun ốc, tôm cua, cá... ngoài ra trong điều kiện ao nuôi cá Trê còn có thể ăn các phụ phẩm từ trại chăn nuôi, nhà máy chế biến thủy sản, chất thải từ lò mổ.
- Cá lớn nhanh và rất dễ nuôi. Trong hệ thống nuôi thâm canh ở ao, sau chu kỳ nuôi 4 tháng, nước ao có hàm lượng oxygen thấp, trọng lượng cá có thể đạt bình quân từ 250 - 300 gram/con. Riêng đối với cá trê phi, trọng lượng cá có thể đạt đến 500 - 700 gram/con, cá biệt 1 kg/con.
3. Đặc điểm sinh sản
Mùa vụ sinh sản của cá Trê bắt đầu vào mùa mưa từ tháng 4 - 9 tập trung chủ yếu vào tháng 5 - 7. Trong điều kiện nuôi cá có thể sinh sản nhiều lần trong năm (4 - 6 lần). Nhiệt độ đảm bảo để cá sinh sản từ 25 - 32 0C. Sau khi cá sinh sản xong ta có thể nuôi vỗ tái phát dục khoảng 30 ngày thì cá có thể tham gia sinh sản trở lại.

Đặc điểm sinh học cá Trê, Nguồn: Chi cụ Thủy sản Cần Thơ